Hà Nội Rong Ruổi Quẩn Quanh

Lượt đọc: 99 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tứ Trấn

❊ ❊ ❊

Tại sao Hà Nội lại có câu “Trai tứ chiếng, gái giang hồ”? Thời ấy, Hà Nội phân chia đẳng cấp khá ngặt nghèo. Phụ nữ ra đường là phải mặc áo dài, guốc giày nghiêm chỉnh. Đi chân đất, áo cánh, đầu không khăn... hoặc chiếc quần lá tọa, lưng cởi trần... người ta phân biệt ngay đó là loại người thuộc thành phần nào. Gái giang hồ son phấn lòe loẹt, nói năng bỗ bã... khác hẳn con nhà khuê các, lời ăn tiếng nói dịu dàng, thưa gửi... Và trai tứ chiếng cũng là loại người bị “các tầng lớp trên” khinh thị vì hành động lỗ mãng, vì nghề nghiệp vất vả lầm than, vì lời nói ngang tàng, vì nhiều thứ khác mà người Hà Nội cho là thiếu hào hoa phong nhã. Tứ chiếng là người từ bốn phương đổ về Hà Nội, có thể có nghề tinh xảo trong tay muốn thi thố tài năng, muốn lập nghiệp ở thị thành Kẻ Chợ, nhưng cũng có thể chỉ là những người nghèo khổ, đến Thăng Long để sống qua ngày, nên họ chưa một lúc hòa nhập vào với nếp sống một Hà Nội hào hoa.

Thực ra “tứ chiếng” là đọc chệch ra từ tứ trấn. Hiểu theo một nghĩa rộng thì Hà Nội được coi là trung tâm đất nước. Bao quanh kinh đô là bốn vùng rộng lớn, gọi là tứ trấn. Phía Bắc là trấn Kinh Bắc gồm từ Bắc Ninh, Bắc Giang đến Lạng Sơn... Phía Đông là trấn Hồng Châu gồm cả Hồng Châu Thượng và Hồng Châu Hạ, nay gồm vùng Hải Dương, Hưng Yên, cả Hải Tần Phòng Thủ gọi tắt thành Hải Phòng, cho đến Quảng Yên, Vân Đồn... Trấn xứ Đoài nằm phía tây gồm Sơn Tây, Hưng Hóa, Tuyên Quang cho đến Sơn La, Lai Châu có sông suối, núi rừng và phía nam là trấn Sơn Nam gồm mênh mông một vùng Sơn Nam Thượng và Sơn Nam Hạ tức vùng Nam Định, Phủ Lí, Thái Bình ngày nay...

Tứ trấn ấy là phên giậu cho kinh đô. Trai tráng, quân binh cho đến sĩ phu quan lại, nếu không từ đấy thì hẳn kinh đô không thể có một đời sống bình thường trong chiều dài hòa bình cũng như trong chiến tranh giữ nước. Hơn nữa, 36 phố phường, làm gì có đất cho cây lúa mọc thành gạo tám thơm, thành cây chuối ngự, thành chiếc bánh gai Ninh Giang, thành con cá anh vũ, thành những người thợ mộc, thợ nề tài hoa sáng tạo để tạo dựng một kinh thành nghìn năm hoành tráng, cong vút mái đền đài, lộng lẫy những chạm khắc tinh vi cùng hào hoa, vải vóc, lụa là gấm đoạn... Xem kia, người thợ kim hoàn Châu Khuê của Hồng Châu, nơi gần quê hương người anh hùng xưa xa Phạm Ngũ Lão đất Thanh Miện, Đường Hào... hoặc ông nhà văn Phạm Đình Hổ làng Đan Loan, ông lang y thần diệu Tuệ Tĩnh... Tứ trấn là mạch sống, nguồn sống cho Thăng Long. Tứ trấn đã cung cấp cho đô thị nguồn nhân lực, vật lực, tài lực suốt bao thế kỉ, cho đến ngày hôm nay một Hà Nội thời mở cửa thì từ con cua, cái ốc, con cá, lá rau đến những nhân tài trong thơ văn, trong khoa học, trong kinh tế... Hà Nội không thể nào thiếu tứ trấn, cũng như không thể thiếu sự mở rộng ra cả các “trấn khác”, từ miền Trung dằng dặc cát bỏng gió Lào đến miền Nam cánh cò sải mỏi...

Hát xoan Vĩnh Phú, hát quan họ vùng Lim, chọi trâu Đồ Sơn, đền Kiếp Bạc, Côn Sơn đất Chí Linh, hội Phủ Giày Vân Cát (Hà Nam) núi Tản oai hùng, sông Đà ánh sáng... Hà Nội biết ơn tứ trấn lắm lắm như người nuôi nấng, như người chị thân thương, như nguồn sữa ngọt ngào, như lời ru man mác...

Cái danh từ “tứ chiếng” đầy khinh thị và ngạo mạn đã không còn lí do tồn tại. Người Hà Nội hôm nay hiểu rất rõ mình sống nhờ đâu, khi trên những cánh đồng nắng mưa, trên triền sông gió bão, trên núi rừng trùng điệp, ngoài biển khơi hãi hùng... luôn có những con người, những tâm hồn vì một Thủ đô yêu dấu mà gắng gỏi không ngừng.

Ngày nay không ai còn kì thị xem ai là người Hà Nội gốc. Từ thời xa xưa đây là làng Long Đỗ, ai là con cháu bà Tấm hay họ Lí, họ Trần của vương triều Lí Thái Tổ hay Trần Nhân Tông?

Những ai đang có mặt ở Hà Nội đều là người Hà Nội, là dân của “Trấn Hà Nội”, đều có nhiệm vụ dựng xây Hà Nội, làm cho Hà Nội ngày một đẹp hơn, đáng yêu hơn, to rộng hơn.

Ngoài nghĩa rộng của tứ trấn ấy thì còn một nghĩa hẹp nữa. Theo thuyết phong thủy nghìn xưa để lại, kinh thành nào cũng cần phải có những vị thần giữ yên cho sơn hà, xã tắc. Thông thường, bốn phương Đông - Tây - Nam - Bắc, mỗi phương đều có một vị thần cai quản.

Hàng Buồm nguyên là phường Hà Khẩu, vẫn còn ngôi đền sơn đỏ nằm lẫn vào ồn ào mua bán. Đó là nơi thờ thần Bạch Mã, thần Ngựa Trắng, theo truyền thuyết từ thời Cao Biền, thần xuất hiện trong thân ngựa màu trắng, đi vòng một vòng, từ đó mà dựng lên kinh thành. Đó là vị thần trị nhậm hướng Đông. Loại trừ những dị đoan có thời kì người ta đưa nhiều vị thần khác vào thờ chung, có vị chỉ là một nhân vật trong truyện Tam quốc chí. Đền Bạch Mã vẫn còn là ngôi đền hương khói sầm uất quanh năm.

Phía Tây kinh thành, trên đất làng Thủ Lệ nay là vườn thú vẫn còn ngôi đền nhỏ nhưng khấp khểnh bậc đá, xạc xào rừng trúc, um tùm bóng muỗm, cây xanh... thờ thần Linh Lang Vương, nguyên là một hoàng tử có công đánh giặc ngoại xâm, được phong thần, trấn giữ phía Tây. Ngoài cổng đền có đôi voi đắp bằng vôi gạch, quỳ phủ phục, nên dân gian gọi quen thành đền Voi Phục.

Phía Nam kinh thành, tiếc là đền thờ vị thần trấn giữ vùng này không còn định vị rõ ràng. Có người bảo đã mất đi, vì khi Đàn Nam Giao được dựng lên, rồi sau đó là nhà máy Diêm, và sau nữa là nhà máy Cơ khí Trần Hưng Đạo và nay là quán bia nhậu nhẹt lu bù... đền thổ thần đã mai một. Người khác lại nói đền đã được chuyển về thờ chung ở đình làng Kim Liên ngày nay. Không biết thực hư ra sao, phải chờ các nhà nghiên cứu xác định thêm.

Phía Bắc, dưới bóng hàng muỗm già cổ thụ mấy trăm năm. Đền Quan Thánh (thực ra phải gọi là Quán Thánh mới đúng) là nơi thờ thần Trấn Vũ hay Chấn Vũ, vị thần áo đen, trấn giữ phía Bắc kinh thành. Pho tượng trên bốn tấn đồng đen vẫn là một trong vài pho tượng to nhất nước ta, tạc vị thần đầu trần, tay cầm kiếm có rắn quấn quanh, chống lên lưng con rùa, tay bắt quyết như đang đuổi tà ma. Đây là di tích được bảo tồn khá tốt. Đền có cả một người thợ đúc, ông Trùm Trọng, người thợ đã đúc nên pho tượng khổng lồ Chấn Vũ. Tượng tạc bằng đá, tiếc là gần đây ta tô xanh, tô đỏ lên thành ra giảm giá trị của pho tượng cổ.

Tứ trấn theo nghĩa hẹp vẫn còn đó. Đây là đời sống tâm linh con người. Loại trừ những yếu tố thần bí và mê tín, người Hà Nội vẫn coi trọng việc nhớ ơn tiên tổ, nhớ ơn những người có công với đất nước, với kinh thành, với dân tộc.

Trong cuộc sống đô thị tấp nập, đôi khi cần một chút thư thả, ta chỉ quá mấy bước đường đã gặp cảnh thanh u tịch mịch, lắng hồn mình vào thời gian, nghe vần chuyển lịch sử, rũ bỏ bụi bặm hồng trần, nếu đúng lúc, ta nghe được hồi chuông thu không lan tỏa, tiếng mõ âm u, câu khấn nguyện tâm thành... lòng mình càng thêm thanh tịch. Đó chính là một Hà Nội vừa hiện đại, vừa cổ kính, ít có thành phố nào có được.

Tứ trấn, tứ chiếng, hiểu theo các nghĩa khác nhau... ta chấp nhận thời gian và lịch sử. Hà Nội là trung tâm của cả nước hiểu theo nghĩa trái tim. Hà Nội là tình yêu của bất cứ một người Việt Nam nào từ Lạng Sơn đến Cà Mau. Và Hà Nội cũng là của chung của toàn dân tộc, không ai có thể độc quyền giữ Hà Nội cho riêng mình. Cơn gió thổi từ xung quanh vào Hà Nội. Cơn gió đi từ Hà Nội tỏa ra khắp miền... đều là tiếng của yêu thương, cho nên Hà Nội luôn tự vang lên một yêu cầu: Mỗi con người đều phải góp phần làm Hà Nội ngày một đẹp lên chứ không được làm ngược lại.

1997

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.