CỖ MÁY TẠO RA SỰ TIN CẬY CỦA DRAPER KAUFFMAN
Một trong những đặc điểm khiến các đội đặc nhiệm Hải quân SEAL trở nên đặc biệt là sự kết hợp giữa khả năng tàng hình và thích ứng của họ. Họ hoàn toàn có thể di chuyển giữa các địa hình phức tạp và nguy hiểm trong sự im lặng tuyệt đối. Đây là một trong những lý do các đội SEAL được lựa chọn để thực hiện những nhiệm vụ như tiêu diệt trùm khủng bố Osama Bin Laden, giải cứu Thuyền trưởng Richard Phillips khỏi tàu Maersk Alabama và hàng nghìn nhiệm vụ ít gây chú ý hơn nhưng không kém phần rủi ro. Các đội SEAL gọi sự kết hợp kỹ năng này là “chơi bóng rổ pickup – bóng rổ tự phát”. Giống như bất kỳ đội bóng rổ tự phát xuất sắc khác, họ không cần nói chuyện quá nhiều hoặc nhất định tuân theo một vài kế hoạch xây dựng trước; họ chỉ đơn giản gia nhập cuộc chơi.
“Chúng tôi từng phối hợp với các đội đặc nhiệm Ranger trong một nhiệm vụ,” một trong những cựu chỉ huy của Biệt đội SEAL số 6 nói với tôi, nhắc đến các đội đặc nhiệm của lục quân. “Chỉ huy các đội Ranger và tôi đã ở cùng nhau [tại một cơ sở gần đó] khi quan sát [các đoạn phim do máy bay không người lái ghi lại] quá trình thực hiện nhiệm vụ. Trong suốt thời gian thực hiện nhiệm vụ, vị chỉ huy của Ranger liên tục trao đổi với quân của mình qua radio. Ông ta nói chuyện, ra lệnh – “Hãy làm việc này, hãy tìm kiếm thứ đó.” Ông ấy đã cư xử giống một vị huấn luyện viên la hét bên ngoài trận đấu. Tại một số thời điểm, vị chỉ huy này để ý thấy tôi chẳng nói từ nào và ông ta trao cho tôi ánh mắt gần như nghi hoặc. Giống như là, tại sao ông không nói cho binh lính biết phải làm gì? Mọi thứ khá rõ ràng. Các thành viên của đội tôi và đội ông ta cùng làm một nhiệm vụ. Ông ấy nói trong suốt thời gian thực hiện nhiệm vụ, còn chúng tôi không nói gì cả. Và câu trả lời là, bởi vì chúng tôi không cần làm như vậy. Tôi biết các sĩ quan của mình sẽ tự giải quyết mọi vấn đề.”
Trong giới quân sự, có một số giả thuyết về lý do tại sao các đội SEAL có kỹ năng chơi bóng rổ tự phát. Một số luận điểm thiên về tính khắc nghiệt của chương trình tuyển chọn. Đó là một kim tự tháp dốc đứng bao gồm các chương trình huấn luyện về tâm lý, cảm xúc và thể chất mà chỉ có một tỷ lệ nhỏ ứng viên có thể vượt qua. Các luận điểm khác nhắc đến những cá nhân chất lượng cao được thu hút đến đơn vị và nỗ lực không ngừng để cải thiện bản thân.
Tất cả những giả thuyết này đều có lý nhưng không đầy đủ. Ví dụ, việc đào tạo cho lực lượng Delta của lục quân cũng khắc nghiệt tương đương và thậm chí còn chọn lọc hơn (tỷ lệ loại là 95% so với 67% ở các đội SEAL.) Các lực lượng hoạt động đặc biệt khác cũng thu hút những cá nhân chất lượng cao và tập trung vào cải thiện không ngừng. Vậy thì tại sao các đội SEAL làm việc cùng nhau với nhau tốt đến như vậy? Khi đào sâu tìm kiếm câu trả lời, đến thời điểm nào đó bạn sẽ tìm thấy câu chuyện về một con người gầy gò, cận thị, cực kỳ cứng đầu và từng từ chối gia nhập Hải quân. Người đó có tên là Draper Kauffman.
Kauffman sinh năm 1911, là con trai duy nhất của đô đốc Hải quân huyền thoại James “Stormy” Kauffman. Ông là hình mẫu được tâm lý học hiện đại gọi là đứa trẻ chống đối. Ông nhận thức sâu sắc những gì mọi người muốn ở mình và có xu hướng làm điều ngược lại. Khi năm tuổi, ông đã gặp rắc rối vì ra ngoài chơi quá muộn. “Mẹ nhanh lên và đánh đòn con đi để con còn chạy ra ngoài chơi tiếp,” ông nói với mẹ mình. Là một sinh viên xoàng xĩnh thường bị cha khiển trách vì tính lười biếng, Kauffman tốt nghiệp học viện Hải quân vào năm 1933. Khi thị lực kém cản trở việc nhận nhiệm vụ sĩ quan, ông đã rời bỏ quân đội và bắt đầu công việc ở một công ty vận chuyển.
Sau đó, khi Thế chiến II đến, ông rời bỏ công việc đó để làm tài xế tình nguyện cho quân đoàn xe cứu thương Mỹ. Lo lắng cho sự an toàn của ông, cha mẹ và em gái đã viết thư nhắn ông hãy cân nhắc lại quyết định của mình. Ông đáp lại bằng cách xin điều chuyển đến nơi nguy hiểm nhất có thể: phần phía bắc của tuyến phòng thủ Maginot, nơi Hitler đã tập hợp đội quân của mình để xâm lược nước Pháp. Ngay sau khi Kauffman đến nơi vào tháng 2 năm 1940, chiến tranh bắt đầu.
Nhiệm vụ đầu tiên của Kauffman là lái xe cứu thương qua chiến trường để đón những người bị thương. Ông đã không hề được chuẩn bị sẵn sàng trước thực tế hỗn loạn của trận chiến. “Tôi không bao giờ có thể làm điều này nếu tôi biết trước nó là như vậy,” ông đã viết. “Quá nhiều đạn trái phá phát nổ trên con đường phía trước... đến nỗi bản năng duy nhất của tôi đã mách bảo cần lái xe càng nhanh càng tốt và tôi gần như hủy diệt cả chiếc xe để làm như vậy. Sau khi chuyển [những người bị thương] sang xe cứu thương khác để trở về bệnh viện, tôi ngồi ở ghế lái của mình và bắt đầu run như một chiếc lá.”
Khoảng thời gian này, Kauffman gặp một nhóm binh sĩ người Pháp đại diện cho đủ thứ tính cách trái ngược với ông. Quân đoàn Franc là một nhóm tinh nhuệ bao gồm các binh lính tình nguyện có nhiệm vụ lẻn vào phía sau hàng tuyến của kẻ thù, phá vỡ liên lạc, bắt giữ tù nhân và phá hoại. Họ được tổ chức thành các đội nhỏ, mỗi người mang theo vũ khí hạng nhẹ và chất nổ. Kauffman đã bị mối liên kết anh em giữa họ đánh gục, điều vượt xa bất cứ thứ gì ông gặp trước đây tại học viện Hải quân. “Hoặc là bạn được Quân đoàn Franc chấp nhận, hoặc không, và hai khả năng này khác xa nhau,” ông đã viết về cho gia đình như vậy. “Không có bất cứ điều gì họ không thể làm cho bạn. Nếu một trong những thành viên đội tuần tra bị mắc kẹt và chỉ còn lại năm người khác, họ cũng sẽ tấn công 50 người Đức để cố gắng giải thoát cho một thành viên bị mắc bẫy.”
Trong suốt sáu tuần, Kauffman đã trải qua cả ngày lẫn đêm cùng với quân đoàn Franc, chứng kiến nghi thức hàng đêm cầu nguyện cho những người chết dưới hỏa lực của kẻ thù và mong họ yên nghỉ. “Bạn chân thành gọi một người là bạn trong một thời gian rất ngắn khi mọi việc đều gấp gáp,” ông đã viết. “Sự việc lên đến đỉnh điểm khi tôi mang Toine [một thành viên của quân đoàn] ra khỏi chiến trường. Khi ấy Toine đã mất đi một nửa khuôn mặt và chân trái cùng với một cánh tay bị bắn nát. Khi đưa được anh ấy vào Trạm trợ giúp Poste de Secours, tôi gần như đã ngã quỵ vì sức nặng. Anh ấy nháy mắt với tôi bằng con mắt lành lặn và siết tay tôi bằng bàn tay còn lại của mình.”
Sau khi tuyến phòng tủ Maginot bị phá vỡ, Kauffman đến Anh và tham gia tình nguyện ở đơn vị gỡ bom của lực lượng Hải quân Anh. Tháng 6 năm 1943, ông quay trở lại Mỹ và gia nhập lực lượng Hải quân dự bị. Những mỹ từ lan ra về vị Trung úy gầy gò cùng với tài năng xử lý bom của ông. Ông đã được cử đến thành phố Fort Pierce, bang Florida, nhận nhiệm vụ tuyển chọn và đào tạo binh sĩ cho các đội hải kích sẽ thâm nhập vào các tuyến phòng thủ Đức dọc theo bờ biển Pháp và Bắc Phi. Kauffman được kỳ vọng sẽ tuân theo khuôn mẫu huấn luyện của Hải quân đối với các đội đặc nhiệm: một vài tuần tuyển chọn và huấn luyện tương đối vất vả dưới sự giám sát của các sĩ quan. Thay vào đó, ông vứt hết các khuôn mẫu và quyết định tái tạo chính quân đoàn Franc.
Trước tiên, Kauffman đã tạo ra Tuần lễ địa ngục, một chương trình tuyển chọn kéo dài cả tuần với mức độ đau đớn, sợ hãi và hoảng loạn tương đương với tuyến phòng thủ Maginot. Có thể kể đến việc bơi hơn sáu ki-lô-mét ngoài trời, vượt chướng ngại vật, huấn luyện chiến đấu giáp lá cà, chạy 16 ki-lô-mét, gần như không ngủ cùng một bài tập nâng cột điện thoại gây tò mò mà ông từng thấy các đặc công người Anh sử dụng để xây dựng sức mạnh và tinh thần đồng đội. Những người sống sót qua Tuần lễ địa ngục (chiếm khoảng 25-35% của lớp) tiếp tục tham gia 8-10 tuần huấn luyện đặc biệt. Ở đây họ tiếp tục học và mài dũa các kỹ năng tinh tế hơn mà họ sẽ sử dụng nơi chiến trường.
Thứ hai, Kauffman chỉ đạo việc thực hiện mọi khía cạnh của khóa huấn luyện theo các nhóm. Thay vì hoạt động riêng lẻ, các học viên được gom thành từng nhóm sáu người (con số phù hợp với những chiếc bè cao su do Hải quân cấp phát) và giữ nguyên nhóm trong suốt thời gian huấn luyện. Hơn nữa, mỗi đội cần trở nên tự chủ. Họ cần di chuyển ra xung quanh hoặc xuyên qua bất kỳ chướng ngại vật nào mà không cần phụ thuộc vào các lệnh từ Trung tâm.
Thứ ba, Kauffman loại bỏ sự phân biệt cấp bậc giữa sĩ quan và binh lính. Trong chương trình của ông, tất cả đều tham gia huấn luyện bất kể cấp bậc. Tất nhiên, nguyên tắc này áp dụng cả với chính Kauffman. Những binh lính tham gia lớp học mới đầu nhìn vị chỉ huy khó coi, cận thị của mình và đều đi đến một kết luận tương tự: không đời nào gã này làm nên chuyện. Nhưng khi các học viên tiếp tục theo dõi, ông ấy chứng tỏ họ đã nhầm.
‘Chúng tôi đã dò xét [Kauffman] suốt,” Dan Dillon, một học viên lớp hải kích đầu tiên viết, “nhưng sự tôn trọng của tôi với ông ấy ngày càng trở nên sâu sắc hơn, bởi vì rất nhiều sĩ quan sẽ chỉ nói bạn phải làm gì trong khi bản thân họ không hề tự làm. Người đàn ông này... luôn đòi hỏi các ý kiến đề xuất. Nếu đó là đề xuất tốt, ông ấy liền áp dụng chúng. Và ông tham gia tất cả mọi việc. Ông ấy chung tay xử lý các nhiệm vụ khó nhằn nhất cùng với chúng tôi, làm việc giống hệt phần còn lại của cả đội. Sao chúng tôi có thể không tôn trọng ông ấy chứ?”
Các đội tốt nghiệp từ chương trình huấn luyện tạm thời của Kauffman đã thành công ngay khi bắt đầu, từ khu vực bãi biển Omaha cho đến Thái Bình Dương. Trong thập niên 1960, khi Tổng thống John Kennedy mở rộng năng lực chiến tranh phi quy ước của quốc gia, chương trình huấn luyện của Kauffman đã được sử dụng như hình mẫu cho các đội tiền thân của biệt đội SEAL và vẫn giữ nguyên cho đến ngày nay. Tất cả dẫn đến một tình huống bất thường: Các đội quân sự tinh vi và hiệu quả nhất thế giới đang được xây dựng bằng một chương trình lỗi thời, nguyên thủy, hoàn toàn phản khoa học và không hề thay đổi các yếu tố cốt lõi từ những năm 1940.
“Tôi gọi đó là thiên tài vô thức,” một sĩ quan huấn luyện đội SEAL nói với tôi. “Những người xây dựng chương trình huấn luyện ban đầu đã không hoàn toàn hiểu được tại sao đây là cách tốt nhất để xây dựng các đội. Họ chỉ biết đó đã là cách tốt nhất. Giờ đây việc quay trở lại và thay đổi mọi thứ, hiện đại hóa chúng theo một cách nào đó thật dễ dàng. Nhưng chúng tôi không làm như vậy, bởi vì chúng tôi đánh giá cao các kết quả này.”
Nếu truy cập các trang web đào tạo của đội SEAL, bạn có thể nhìn thấy hình ảnh các cột điện thoại của Draper Kauffman. Chúng xếp chồng lên nhau trong những cồn cát gần các khóa học chướng ngại vật của đội SEAL tại thành phố Coronado và Virginia Beach. Nhìn chúng giống như tàn dư từ một dự án xây dựng, nhưng các chỉ huy của SEAL đều coi đó là những vật thể thiêng liêng. “Bài huấn luyện thể lực với cây gỗ là ống kính mà qua đó bạn có thể nhìn thấy tất cả mọi thứ diễn ra nơi đây”, Tom Freeman, một vị chỉ huy đội SEAL nói.[1] “Nó nắm bắt bản chất của mọi tiến triển vì nó có liên quan đến làm việc nhóm.”
Bài huấn luyện thể lực với cây gỗ không hề phức tạp. Về cơ bản, có sáu học viên SEAL thực hiện một loạt các thao tác dường như thích hợp hơn để xây nhà của người Amish. Họ phải mang vác và lăn tròn các cây gỗ. Họ di chuyển cây gỗ qua vai và đẩy nó bằng chân. Họ đứng lên ngồi xuống với cây gỗ trong tay, đứng im giữ cây gỗ cao quá đầu với cánh tay mở rộng trong thời gian dài. Không có chiến lược, kỹ thuật, không có việc gì cần đến mức độ suy nghĩ hay kỹ năng cao hơn. Bài huấn luyện thể lực với cây gỗ đặc biệt do khả năng mang đến hai điều kiện: sự tổn thương mãnh liệt cùng với mối liên kết lẫn nhau sâu sắc. Hãy xem xét từng điều kiện.
Đầu tiên là tình trạng dễ tổn thương. Theo ngôn ngữ riêng của SEAL, bạn không thực hiện Bài tập cây gỗ. Bạn tự huấn luyện cùng cây gỗ. Trong tập hợp rộng lớn các nỗi đau cấu thành khóa đào tạo SEAL, bài tập với cây gỗ mang đến mức độ đau đớn cao và thuần túy nhất. “Có những lần khi các giảng viên yêu cầu bạn làm bài O-course (bài tập vượt chướng ngại vật) trong 30 phút, bạn nhận ra: ‘Chết tiệt, chúng ta phải làm bài huấn luyện với cây gỗ,’” Freeman nói. “Họ cho bạn ăn trưa trước để bạn có thời gian vừa nạp năng lượng vừa sợ hãi. Sự chờ đợi là phần tồi tệ nhất. Bạn có 30 giây trước khi dấn thân vào cuộc thao diễn kéo dài 90 phút, vai đau đớn kinh khủng và bạn nhận ra mình còn phải chịu đựng thêm một tiếng rưỡi nữa.”
Thứ hai, sự kết nối lẫn nhau. Trọng lượng (khoảng 113 kg) và chiều dài (ba mét) khiến cây gỗ tạo ra quán tính lớn. Việc thực thi các thao tác phối hợp đòi hỏi mỗi thành viên trong nhóm tác động lực phù hợp vào đúng thời điểm, và cách duy nhất làm được như vậy là thật sự chú ý đến các đồng đội của mình. Về mặt ý tưởng, nó giống như việc cố gắng xoay vòng một chiếc gậy chỉ với một tay: Nếu ngón tay cái và các ngón còn lại phối hợp đúng thời điểm phù hợp thì nhiệm vụ rất đơn giản. Nếu một ngón tay lỡ nhịp dù chỉ một phần nhỏ của một giây, nhiệm vụ không thể hoàn thành. Đó là lý do tại sao một nhóm có thể chất yếu hơn nhưng làm việc một cách đồng bộ vẫn có thể thành công trong bài rèn luyện cùng cây gỗ, trong khi một nhóm lớn hơn, mạnh hơn có thể sụp đổ cả về thể chất lẫn tinh thần.
Hai điều kiện nói trên kết hợp với nhau mang lại một cảm giác rất đặc biệt: điểm gặp nhau của sự tổn thương và kết nối. Bạn đang chịu đựng cơn đau vô tận, chỉ cách đồng đội của bạn vài cen-ti-mét, gần đến mức bạn cảm thấy hơi thở của họ phả vào gáy mình. Bạn cảm nhận được khi một đồng đội do dự hay đi sai một bước, và bạn biết họ cũng có thể cảm thấy khi bạn có hành động tương tự. Chúng cộng hưởng thành một sự lựa chọn. Bạn có thể chọn tập trung vào chính mình, hoặc hướng về cả nhóm và nhiệm vụ cần thực hiện.
Khi triển khai bài tập không tốt, các cây gỗ nảy dựng lên, lăn tròn, các học viên tranh cãi nhau và cảm xúc tăng lên. Khi thực hiện tốt, mọi việc có vẻ trơn tru và tĩnh lặng. Nhưng sự trơn tru này là một ảo ảnh, bởi vì ngay bên dưới bề mặt đó, sự giao tiếp đang xảy ra. Nó có hình thức trao đổi gần như vô hình: một người suy yếu, và những người bên cạnh điều chỉnh lực của họ để giữ yên còn ổn định cây gỗ. Một người trượt tay, và các đồng đội ngay lập tức hành động để cân bằng. Một cuộc hội thoại truyền đi qua lại thông qua từng thớ gỗ:
1. Một người trong đội do dự.
2. Những người khác cảm nhận được và phản ứng bằng cách nhận về phần việc khó khăn hơn vì lợi ích của nhóm.
3. Cân bằng được lấy lại.
Nhờ có Draper Kauffman, sự trao đổi giữa tình trạng dễ tổn thương cùng kết nối như vậy được đan xen vào mọi khía cạnh của khóa huấn luyện SEAL và được lưu giữ thành các bộ giá trị sắt. Mọi nhiệm vụ được thực hiện theo nhóm. Các học viên phải theo dõi lẫn nhau bất cứ lúc nào; không có tội lỗi nào to lớn hơn việc để mất dấu một ai đó. Trong suốt bài luyện tập vác thuyền chạy, các học viên liên tục phải thay đổi vị trí và luân phiên giữ vai trò lãnh đạo. Thời gian trên đường chạy lẽ ra phải tuân theo những tiêu chuẩn không thể phá vỡ, nhưng các giáo viên hướng dẫn được biết là đã điều chỉnh tiêu chuẩn này đối với những học viên chạy chậm lại để giúp đỡ người khác, bởi vì họ đánh giá cao việc sẵn sàng chấp nhận rủi ro vì lợi ích của đội.
“Chúng tôi chỉ quan tâm tìm kiếm những sự việc nhỏ bé,” Freeman nói. “Mỗi sự tiến triển là một ống kính để tìm kiếm những khoảnh khắc làm việc theo nhóm, và chúng tôi tin rằng nếu kết nối rất nhiều cơ hội lại với nhau, bạn bắt đầu biết được những ai là đồng đội tốt. Nó thể hiện ở những thời điểm kỳ quặc nhất. Ví dụ, giả sử họ đang bị muộn giờ và sắp bị các giáo viên hướng dẫn phê bình. Có người nào chỉ thúc giục tất cả mọi người gấp gáp lên và chạy đi như bay? Hay họ dừng lại và nói: ‘Hãy nhìn xem, đằng nào chúng ta cũng bị phê bình vì đến muộn, vì vậy hãy dành ra một phút xiết chặt dây cu-roa, có như vậy mới chứng tỏ chúng ta đã sẵn sàng tuyệt đối.” Có điều gì đó chúng ta muốn ở người thứ hai. Chúng ta muốn ở cùng người này vì anh ta không nghĩ cho riêng bản thân mình. Anh ta đang nghĩ đến cả đội.”
Khi nhìn nhận theo hướng này, mức độ hợp tác cao bên trong các đội đặc nhiệm SEAL không phải là điều bất ngờ. Việc này gần như không thể tránh khỏi. Họ hợp tác tốt vì chương trình huấn luyện của Kauffman đã tạo ra hàng nghìn sự kiện siêu nhỏ xây dựng nên sự gắn bó và đồng hành. “Nó rộng lớn hơn việc làm việc theo nhóm đơn thuần,” Freeman nói. “Bạn để chính bản thân mình rộng mở. Tất cả mọi người trong nhóm biết bạn là ai, bởi vì bạn đã cố gắng hết sức. Và nếu bạn làm tốt, nó xây dựng nên mức độ tin tưởng cao hơn bất cứ điều gì bạn có thể nhận được ở bất cứ nơi nào khác.”
SỨC MẠNH CỦA KỊCH ỨNG TÁC HAROLD
Một buổi tối năm 1999, Lorne Michaels, nhà sản xuất show truyền hình Saturday Night Live rời khỏi căn hộ penthouse của mình trên phố West Sixty-Ninth ở New York và đi về phía Nam đến một khu vực đã xuống cấp của khu Chelsea. Tại đó, ông bước vào một rạp hát 60 chỗ ngồi, nơi vài tháng trước đây từng là ngôi nhà của câu lạc bộ khỏa thân Harmony Burlesque. Không khí tỏa ra mùi bí ẩn; các thùng rác gần lối vào phía sau có tiếng chuột kêu sột soạt. Rạp hát đã bị các thanh tra viên thành phố đóng cửa trong vòng ba năm do vi phạm luật phòng cháy. Nhưng trong đêm nay, Michaels không chú ý đến việc bài trí. Ông đến thám thính nhân tài.
Michaels hoạt động trong hệ sinh thái hài kịch như một nhà sưu tập phong lan: tìm kiếm, định vị và thu thập những cá thể tốt nhất. Trong quá khứ, ông đã tìm ra những tài năng nở rộ đáng chú ý tại quê hương Toronto của mình, tại rạp hài kịch Sencond City ở thành phố Chicago, ở rạp ImprovOlympic và các địa điểm khác. Nhưng trong những tháng gần đây, một thế hệ diễn viên hài mới đã xuất hiện: Họ thông minh, có sự pha trộn dũng cảm giữa chỉ số trí tuệ ngôn ngữ cao và tính sáng tạo tuyệt vời. Họ chiếm lĩnh giới giải trí với tốc độ ngoạn mục, là đội quân tiên phong của cuộc xâm lược trở thành ngôi sao diễn xuất vàhoặc biên kịch cho các vở The Office (Văn phòng), The Daily Show (Chương trình thường nhật), 30 Rock (30 Rock), The Colbert Report (Báo cáo Colbert), Parks and Recreation (Cục quản lí công viên và giải trí), Community (Cộng đồng vui tính), Conan (Conan), Key & Peele (Key & Peele), Broad City (Thành phố rộng lớn), Bob’s Burgers (Bánh kẹp thịt của Bob), New Girl (Cô gái kỳ quặc), The League (Liên minh), Girls (Gái Mỹ) và Veep (Phó Tổng thống). Đó là còn chưa kể đến các bộ phim nhưAnchorman (Huyền Thoại Ron Burgundy), Talladega Nights (Những đêm Talladega), Bring it On (Bốc lửa), Bridesmaids (Phù dâu) và nhiều cái tên khác nữa. Họ tự xưng là Lữ đoàn công dân Upright (UCB).[18]
[18] . Dưới đây là một vài cái tên trong danh sách cựu diễn viên của UCB: Scott Adsit, Aziz Ansari, H. Jon Benjamin, Matt Besser, Kay Cannon, Rob Corddry, Eliza Coupe, Andrew Daly, Abby Elliott, Mary Eliza- beth Ellis, Sue Galloway, Jon Glaser, Ilana Glazer, Donald Glover, Ed Helms, Rob Huebel, Abbi Jacobson, Jake Johnson, Ellie Kemper, Nick Kroll, John Lutz, Jason Mantzoukas, Jack McBrayer, Adam McKay, Kate McKinnon, Bobby Moynihan, Aubrey Plaza, Amy Poehler, June Diane Raphael, Rob Riggle, Ian Roberts, Horatio Sanz, Paul Scheer, Ben Schwartz, Jenny Slate, Jessica St. Clair, Matt Walsh, Tracey Wigfield, Jessica Williams, Casey Wilson, Zach Woods và Sasheer Zamata. (TG)
Từ góc nhìn của Michaels, điều đáng chú ý ở đoàn kịch UCB là chiều sâu của họ. Trong khi hầu hết những nhóm ứng tác khác chỉ tạo ra một số ít các đội lớn, UCB thành lập hàng chục nhóm kịch, tất cả đều có thể biểu diễn với kỹ năng vượt trội. Hơn nữa, UCB không có vẻ hoàn toàn khác biệt với các nhóm Second City, ImprovOlympic hay bất kỳ nhóm hài kịch nào khác ngay từ cái nhìn đầu tiên. Tất cả đều bị ảnh hưởng từ cố huyền thoại hài kịch Del Close; đều tổ chức các lớp ứng tác để tạo ra thế hệ trung gian bao gồm những người mới. Tất cả cũng cùng chia sẻ một tiêu chí nghệ thuật phá vỡ các ranh giới, không cần nguyên tắc. Trong thực tế, sự khác biệt duy nhất có thể nhận thấy là UCB đào tạo các diễn viên hài của mình hầu như chỉ bằng một trò chơi ứng tác lạ lùng và khó khăn được gọi là Harold.
Hầu hết các trò chơi ứng tác được xây dựng dựa trên sự đơn giản và tốc độ trong việc tạo ra những vở hài kịch ngắn nhằm đáp lại lời khán giả ngay tức khắc, nhưng các vở hài kịch dạng Harold thì khác vì nó dài và phức tạp. Trò chơi này đòi hỏi tám người tham gia, có chín cảnh đan xen và kéo dài khoảng 40 phút – một độ dài tưởng như vĩnh cửu trong thế giới rối loạn giảm chú ý của nghệ thuật ứng tác. Hài kịch dạng Harold gây khó khăn cho cả người dạy và người học, thường dẫn đến kết thúc là những thất bại ngoạn mục. Del Close nổi tiếng với việc so sánh một vở Harold thành công với việc xem một nhóm người lộn nhào xuống cầu thang và tiếp đất bằng chân cùng một lúc. Tuy nhiên, trong phần lớn trường hợp, mọi người chỉ thực hiện được mỗi bước lộn nhào xuống cầu thang.
Cấu trúc của một vở Harold như sau:
• Mở nhóm
• Cao trào đầu tiên: Cảnh 1A, 1B, 1C (hai người mỗi cảnh)
• Trò chơi nhóm
• Cao trào thứ hai: Cảnh 2A, 2B, 2C
• Trò chơi nhóm
• Cao trào thứ ba: Cảnh 3A, 3B, 3C
Đừng lo nếu bạn không theo kịp – ở một phương diện nhất định, đó chính là điểm cốt yếu, bởi vì trong một vở hài kịch ngẫu hứng dạng Harold, bạn phải nhanh chóng nghĩ ra các cảnh liên kết với bảy người khác; để tất cả cảnh “A” được liên kết, tất cả cảnh “B” cũng liên kết với nhau, và cứ tiếp tục như vậy. Nó đòi hỏi bạn phải chú ý kỹ vào thứ đoàn kịch UCB gọi là “trò chơi”, chính là cốt lõi gây hài của mỗi cảnh. Chúng giúp bạn xâu chuỗi các sợi dây trong tâm trí của mình, gợi lại những kết nối từ trước trong khi tiếp tục xây dựng các liên kết mới.
Không giống như những nhóm hài kịch khác, UCB không chỉ diễn các vở kịch Harold một lần. Những vở kịch Harold khiến họ ám ảnh. Có những đội Harold, đêm Harold, lớp học Harold, cuộc thi Harold và nguyên tắc Harold cũng như các buổi trao đổi chỉ dành để phân tích từng nhân tố của Harold. Bao phủ trên các bức tường nhà hát của UCB là hình ảnh những nhóm hài kịch Harold xuất sắc nhất. Theo một quan sát viên, mối liên hệ của UCB với các vở hài kịch Harold khá giống với mối liên hệ của giáo hội công giáo khi tổ chức tiệc Thánh. Tất cả gộp lại thành một tình huống gây tò mò: UCB đã tạo nên các nhóm hài được xếp vào dạng gắn kết nhất trên hành tinh bằng cách dành rất nhiều thời gian thực hiện một hoạt động chủ yếu tạo ra sự phiền phức và đau đớn.
Để tìm hiểu thêm, tôi đến một đêm Harold tại một nhà hát mới của UCB (không bốc mùi hay có chuột) nằm trên đường West TwentySixth ở khu Chelsea. Tôi tìm chỗ ngồi và bắt đầu trò chuyện với người ngồi cạnh, một người phụ nữ tên là Valerie. Cũng giống như nhiều người trong số khán giả đã ghi danh vào các lớp học UCB, Valerie hy vọng một ngày nào đó sẽ được gia nhập một nhóm hài kịch Harold. Cô đến đây không để giải trí mà nhằm tìm hiểu. “Tôi chủ yếu xem kỹ thuật diễn,” cô nói. “Làm thế nào để mọi người phản ứng dưới áp lực cao. Tôi đang thực sự điều chỉnh phản xạ của mình, cố gắng đáp lại mọi người bằng phương pháp đích thực chứ không đi theo các lối mòn cũ.”
Buổi biểu diễn bắt đầu: có ba đội, mỗi đội biểu diễn một vở Harold. Sau mỗi vở kịch, Valerie nhanh chóng đưa ra phân tích. “Quá khép kín”, cô thì thầm sau một vở Harold nói về một người phụ nữ đeo tai nghe trên tàu điện ngầm hát quá to một bài hát của Adele. “Cô ấy đã không hề rời khỏi phòng để bất cứ ai khác có thể kết nối. Cô ta chỉ làm một trò đùa và không có đất diễn cho những người khác thể hiện.”
“Quá trực diện,” Valerie thì thầm sau vở Harold thứ hai, nói đến một máy cà phê sử dụng trí tuệ nhân tạo của mình để dụ dỗ bạn gái của ông chủ. Cô giải thích rằng một vở Harold tốt không bó hẹp trong một không gian câu chuyện mà phải cho phép người chơi có thể nhảy hẳn sang các kịch bản cực kỳ khác nhau.
“Thật tuyệt vời,” Valerie thì thầm sau vở Harold thứ ba nói về một ma cà rồng, một gia đình trong kỳ nghỉ và một cặp đôi đã sinh ra một đồ chơi tình dục hoạt hình. “Họ thực sự hỗ trợ lẫn nhau. Anh có thấy cách một số người cứ để mọi việc tiếp diễn mà không can thiệp quá sâu không? Tôi thích điều đó.”
Khi Del Close phát triển thể loại kịch Harold trong những năm 1970, ông đã ghi lại các quy tắc sau đây:
1. Tất cả đều là diễn viên phụ.
2. Thường xuyên kiểm tra sự xúc động của bạn.
3. Không bao giờ gia nhập một cảnh trừ khi bạn cần làm vậy.
4. Hãy bảo vệ bạn diễn, đừng lo lắng về những việc lẻ tẻ.
5. Trách nhiệm chính của bạn là hỗ trợ.
6. Luôn dùng hết công suất trí óc của mình.
7. Không bao giờ đánh giá thấp hoặc bỏ qua khán giả.
8. Không đùa giỡn.
9. Tin. Tin tưởng để bạn diễn hỗ trợ bạn; tin tưởng để họ xử lý bất kỳ trọng trách nào được bạn trao cho, tin tưởng chính mình.
10. Tránh phán xét việc đang diễn ra, trừ khi nhằm xác định có cần giúp đỡ hay không, tốt nhất nên làm theo cách nào, hay làm thế nào có thể hỗ trợ nếu họ cần đến bạn.
11. LẮNG NGHE.
Mỗi quy tắc đều hướng dẫn bạn kìm lại bản năng ích kỷ có thể khiến chính mình trở thành trung tâm của sự chú ý, hoặc để phục vụ bạn diễn của bạn (hỗ trợ, bảo vệ, tin tưởng, lắng nghe). Đây là lý do tại sao việc làm theo các quy tắc của Close rất khó, và cũng là lý do chúng rất hữu ích khi xây dựng sự cộng tác. Một vở Harold đưa bạn đến trước mặt khán giả, sau đó buộc bạn không tuân theo mọi bản năng tự nhiên trong não bộ của mình, thay vào đó cống hiến bản thân không chút vị kỉ cho nhóm. Tóm lại, chúng chính là phiên bản của bài tập thể lực với cây gỗ trong thế giới hài kịch.
“Bạn phải từ bỏ nhu cầu tỏ ra khôi hài, được làm trung tâm của mọi việc,” Nate Dern, cựu giám đốc nghệ thuật của UCB nói. “Bạn cần có khả năng trần trụi hay cấm khẩu để mọi người có thể cùng nhau tìm thấy mọi việc. Người ta nói nên để tâm trí trống rỗng nhưng không hẳn như vậy. Chúng nên được mở rộng.”
UCB cũng tiếp cận kịch Harold một cách độc đáo – như thể đây là một môn thể thao. Tâm lý này được phản ánh trong các thuật ngữ họ sử dụng. Họ có các huấn luyện viên, không phải đạo diễn; các buổi thực hành, không phải tổng duyệt; và tiếp sau mỗi vở Harold là những phiên phản hồi nghiêm ngặt giống như một buổi đánh giá hậu kỳ hành động AAR hay một cuộc họp BrainTrust. “Có một số phần tích cực, nhưng phần chủ yếu là những phê bình,” Dern nói. “Chẳng hạn, ‘anh đã không lắng nghe ý tưởng của bạn diễn cùng cảnh’ hoặc ‘anh áp đảo bạn diễn và không để cho họ phối hợp’. Chúng khá gay gắt. Với một diễn viên, đây là điều khó khăn bởi vì bạn biết mình đã có màn trình diễn tồi, và rồi huấn luyện viên sẽ cho bạn biết tất cả những điểm chưa tốt là gì.”
“Trong mọi hình thức kịch ứng tác khác, bạn có thể xoay xở dựa vào sự quyến rũ,” Kevin Hines, giám sát viên học thuật của UCB New York nói. “Nhưng với kịch Harold thì không. Đó là việc hoàn toàn không thể tha thứ. Chúng cũng là lý do tại sao những người thành công ở đây thường là những người lao động cật lực.”
Nói cách khác, kịch Harold là một bài tập luyện não cho nhóm mà ở đó bạn được trải nghiệm ngày càng nhiều hơn sự giao thoa thuần khiết, đau đớn của tổn thương và kết nối. Nhìn theo cách này, sự sáng chói của UCB trên sân khấu và màn ảnh không phải là điều ngẫu nhiên. Nó là sản phẩm của việc thực hiện và hỗ trợ hàng nghìn sự kiện cũng như bước nhảy vọt nho nhỏ giữa các cá nhân. Các nhóm này không tự nhiên gắn kết mà do họ đã xây dựng nên những động lực tinh thần chung để kết nối và hợp tác từng mảnh một.
“HỌ CÙNG SUY NGHĨ BẰNG MỘT BỘ NÃO.”
Vào khoảng năm 2000, các cửa hàng trang sức độc đáo nhất thế giới bắt đầu bị một loại cướp mới nhắm đến. Những tên cướp này hoạt động giữa ban ngày, trong các khu mua sắm đẹp đẽ, hoàn toàn trong tầm ngắm của máy quay an ninh. Phương thức hoạt động của chúng thường giống nhau: Các tên cướp bước vào cửa hàng ăn mặc như những người mua sắm giàu có, sau đó dùng búa phá các tủ trang sức và chỉ lấy đi những viên đá quý có giá trị nhất. Các vụ cướp đều được lên kế hoạch và thực hiện tốt – hầu hết chỉ mất ít hơn 45 giây. Dù thỉnh thoảng xô xát với bảo vệ và khách hàng, chúng hạn chế sử dụng súng và luôn đào thoát một cách sáng tạo. Ở London, chúng đi bằng xe Bentley có tài xế; ở Tokyo, chúng sử dụng xe đạp. Một nhà tội phạm học đã mô tả công việc của chúng là “nghệ thuật”. Các tên cướp còn trẻ, bị đồn đại là đến từ Cộng hòa Serbia và Cộng hòa Montenegro, một phần của Nam Tư cũ đã bị chiến tranh tàn phá. Cảnh sát gọi chúng là băng Báo Hồng.[19]
[19] . Tên gọi bắt nguồn từ một vụ cướp ở London năm 2003. Cảnh sát đã tìm thấy những viên kim cương bị đánh cắp giấu trong một một lọ kem dưỡng da. Đây là chiến thuật đã trở nên nổi tiếng trong bộ phim The Return of the Pink Panther (Sự trở lại của Báo Hồng) năm 1975. (TG)
• Tại Paris, năm 2001: Một nhóm cướp Báo Hồng đóng giả công nhân dùng đèn khò làm tan chảy các tấm phủ an toàn bên ngoài cửa sổ của cửa hàng Boucheron Paris, sau đó đập vỡ các cửa sổ và nhanh chóng rời đi cùng số trang sức trị giá 1,5 triệu đô-la.
• Tại Tokyo, năm 2005: Một nhóm cướp Báo Hồng đóng giả khách hàng giàu có sử dụng xịt hơi cay vô hiệu hóa đội ngũ an ninh và cướp đi số trang sức trị giá 35 triệu đô-la.
• Tại St Tropez, năm 2005: Những tên Báo Hồng mặc áo sơmi hoa, đội mũ che nắng đã đột nhập một cửa hàng khu bờ sông, lấy đi số đá quý trị giá 3 triệu đô-la và tẩu thoát bằng tàu cao tốc.
• Tại Dubai, năm 2007: bốn tên cướp Báo Hồng lái hai chiếc xe Audi đi thuê đến Trung tâm mua sắm độc quyền Wafi và dùng ô tô lao thẳng vào cửa hàng đồ trang sức Graff. (Chúng đã vô hiệu hoá khiến các túi khí trên xe không bị kích hoạt.) Băng cướp lấy đi số trang sức trị giá 3,4 triệu đô-la.
• Tại London, năm 2007: Bốn gã cướp Báo Hồng ăn mặc như phụ nữ trung niên, đội tóc giả và mặc váy đắt tiền đến cướp một cửa hàng Harry Winston. Chúng cướp đi số ngọc lục bảo, hồng ngọc và kim cương to bằng viên kẹo dẻo hình hạt đậu, tất cả trị giá 105 triệu đô-la.
Khi xem đoạn phim quay lại các vụ cướp từ máy quay an ninh, các clip tạo thành một vòng lặp duy nhất, liền mạch. Băng Báo Hồng luồn lách như dòng nước trong các cửa hàng; hành động của chúng phối hợp nhịp nhàng, bình tĩnh và tập trung. Không cần nhìn nhau; chúng biết phải đi đâu và làm gì. Bọn cướp vung búa khi cần với độ chính xác tuyệt đối, gạt đi những vụn kính vỡ và thuần thục lấy ra các viên kim cương, sau đó biến mất như những bóng ma.
Các nhà chức trách cũng bị một điều khác gây ấn tượng: Với loại hình công việc không hề nổi tiếng về sự trung thành, dường như tồn tại sự gắn kết thực sự giữa những tên Báo Hồng. Trong những lần hiếm hoi bị bắt, chúng đều miễn nhiễm trước các nỗ lực bắt ra làm chứng của cảnh sát. Năm 2005, một tên cướp tên là Dragan Mikic tẩu thoát khỏi một nhà tù Pháp khi một băng khác – có lẽ là đồng bọn của Báo Hồng – sử dụng thang, súng trường và kìm cắt dây đột nhập vào nhà tù và giải thoát hắn. Như một công tố viên đã nói: “Chúng không quan tâm đến việc bị đưa vào tù. Chúng biết rồi cũng sẽ thoát ra được.” Một quan sát viên đã nhận định: “Chúng cùng suy nghĩ bằng một bộ não duy nhất.”
Khi tai tiếng của băng Báo Hồng tăng lên, người ta tự hỏi chúng là những ai và được tổ chức ra sao. Giả thuyết được chấp nhận rộng rãi nhất là chúng bao gồm một nhóm cựu binh sĩ đã phục vụ trong các cuộc chiến tranh Nam Tư. Một số người tin rằng băng Báo Hồng là cựu thành viên của một đơn vị bán quân sự được gọi là Những con Hổ của Arkan, một nhóm từng làm việc cho Slobodan Milosevic. Những người khác tin rằng họ là cựu thành viên của lực lượng đặc biệt Cộng hòa Serbia JSO.
Dù đến từ bất cứ đâu, dường như không ai nghi ngờ chúng là những tên lính do một số nhân vật trung tâm chỉ huy và kiểm soát. Như George Papasifakis, Phó giám đốc cơ quan quản lý tội phạm tài sản Hy Lạp đã nói với một phóng viên: “Chắc chắn có ai đó đã thao túng nhóm này ở Serbia, và có người phụ trách việc khởi xướng và giáo dục các thành viên trẻ.” Đó là các chất liệu điện ảnh ly kỳ: một tổ chức bí mật toàn cầu bao gồm những cựu quân biệt động trở thành siêu tội phạm, được một lãnh đạo trong bóng tối triệu tập thực hiện các nhiệm vụ. Giả thuyết này có lý bởi vì chúng ta có xu hướng mặc định sự phối hợp không chút sai sót như vậy đòi hỏi việc huấn luyện đặc biệt, sự lãnh đạo mạnh mẽ và hình thức tổ chức tập trung.
Giả thuyết này hoàn hảo, chỉ trừ một điều: Đó là giả thuyết sai. Trong phần sau của thập kỷ, những nỗ lực điều tra của cảnh sát và các nhà báo dần tiết lộ sự thật đáng kinh ngạc. Các băng Báo Hồng là những nhóm tự phát, tự quản, tập hợp lẫn lộn từ những gã trung lưu, cựu vận động viên và tội phạm nhỏ lẻ. Một tên từng là thành viên của đội tuyển bóng rổ trẻ quốc gia Serbia. Một tên khác đã theo học trường luật. Chúng có điểm chung là kinh nghiệm từ việc sống sót qua một cuộc chiến tranh khủng khiếp, bản năng hành động, tình bạn mạnh mẽ và nhận thức rằng mình chẳng có gì để mất.
“Đa số chúng lớn lên cùng nhau như những người bạn ở ba thị trấn riêng biệt”, nhà sản xuất phim Havana Marking nói. Cô là người đã giúp vén màn câu chuyện trong cuốn Smash & Grabcủa mình. “Những khó khăn trong cuộc sống đã thực sự liên kết chúng với nhau. Lúc đầu, chúng chủ yếu buôn lậu để tồn tại. Chúng làm việc cùng nhau trong những môi trường đó, không phải vì tiền mà vì sự sống còn. Chúng đã học cách giả mạo tài liệu, vượt biên cũng như các kỹ năng khác. Chúng được kích thích bởi hoóc-môn adrenaline và bản thân hành động. Bạn phải hiểu rằng ở bán đảo Balkan, phạm tội là chuyện thường ngày. Nếu mọi chuyện ở Balkan không diễn ra như những gì ta đã biết, có lẽ những người này đã trở thành các doanh nhân, luật sư và nhà báo.”
Mỗi băng trộm được xây dựng dựa trên một tập hợp các vai trò đã xác định rõ. Có một zavodnik – “người quyến rũ” làm nhiệm vụ trinh thám vị trí (thường là một phụ nữ); một magare, hay người đột nhập, lấy đi các trang sức; một jatak, người sắp xếp công việc hậu cần. Mỗi băng có một kẻ cầm đầu, nhưng không hề ra lệnh. Thay vào đó, chúng hoạt động theo một quy tắc đơn giản mà một tên Báo Hồng đã giải thích với Marking: “Tất cả chúng tôi phụ thuộc vào nhau.”
Sự phụ thuộc lẫn nhau này bắt đầu từ cách các băng Báo Hồng chuẩn bị cho mỗi vụ cướp. Mỗi tên trong băng cướp (luôn chỉ có tối đa năm hoặc sáu tên trong một băng) chuyển đến thành phố và thu thập thông tin về các cửa hàng mục tiêu. Chúng sống và làm việc cùng nhau trong vài tuần để lên kế hoạch chuyên sâu. Chúng do thám các cửa hàng, theo dõi việc đi đến của nhân viên và phác thảo bản đồ mặt bằng nhắm vào viên đá quý có giá trị nhất. Hơn nữa, mỗi tên Báo Hồng đều chịu một phần chi phí của kế hoạch (và đó là một số tiền đáng kể: chi phí trả trước cho vụ cướp ở Tokyo là 100.000 đô-la). Chúng không dựa vào bất kỳ tổ chức bên ngoài hay mạng lưới an toàn nào. Chúng chính là tổ chức, và nếu bất cứ ai trong băng thất bại, cả băng sẽ thất bại.
Nói cách khác, các băng cướp Báo Hồng có một chút giống với những nhóm hài kịch trình diễn vở ứng tác Harold, hay các đội đặc nhiệm hải quân SEAL thực hiện Bài rèn luyện thể lực với cây gỗ. Đó đều là những nhóm nhỏ giải quyết vấn đề trong một trạng thái liên tục tổn thương và kết nối. Như Lela, một thành viên Báo Hồng đã nói với Marking: “Một sai lầm của tôi sẽ là thất bại của họ. Nếu tôi gây nên một lỗi ở đâu đó, họ chết chắc.”
Để thực hiện bộ phim của mình, Marking đã phỏng vấn một người đàn ông và một phụ nữ từng thuộc cùng một băng cướp Báo Hồng nhưng không hề nhìn thấy nhau trong vài năm. Cô theo dõi cách họ tương tác. “Họ không nhìn thấy nhau trong một thời gian dài, và họ đã thực sự vui mừng khi gặp nhau,” cô nói. “Giữa hai người có một tình bạn thực sự và dường như rất thân thiết. Bạn có biết cảm giác khi hai người đang hoàn toàn thoải mái với sự có mặt bên cạnh mình của người kia không? Bạn có thể thấy điều này ở họ.”
❀ ❀ ❀
[1] . Tên nhân vật đã được thay đổi. (TG)