Cũng giống như mọi hành trình khác, việc viết một cuốn sách làm thay đổi một con người. Từ việc thực hiện dự án này trong suốt bốn năm vừa qua, tôi nhận thấy bản thân đã biết chú ý đến những khoảnh khắc kết nối tinh tế mà mình bỏ lỡ trước đây. Tôi đánh giá cao cách một số nơi nhất định – các tiệm bánh địa phương, trường học của con em tôi, các trạm xăng – sử dụng những tương tác nhỏ để xây dựng một nền văn hóa gắn kết. Tôi thấy bản thân biết ngưỡng mộ những người lãnh đạo đã cởi mở về thiếu sót của mình để tạo nên những cuộc trò chuyện chân thành. Ở nhà mình, tôi làm cha theo cách khác đi một chút: Tôi bớt nói chuyện và tập trung hơn để tìm ra cách tạo nên gắn bó thuộc về. (Trò chơi bài chắc chắn là phương pháp tối ưu nhất). Không phải tôi đột nhiên có khả năng nhìn xa tương đương với tia X; điều này giống với việc học chơi một môn thể thao hơn. Đầu tiên, bạn vụng về; rồi sau đó một thời gian bạn sẽ trở nên giỏi hơn.
Tôi sử dụng các kỹ năng này nhiều nhất khi huấn luyện một nhóm. Đó không phải là một đội bóng mà là một nhóm nhà văn trẻ tại trường trung học Ruffing Montessori ở thành phố Cleveland Heights, bang Ohio, nơi hai con gái út của tôi theo học. Đội viết văn tham gia tranh tài trong cuộc thi Sức mạnh của ngòi bút – một cuộc thi toàn tiểu bang. Các học sinh luyện tập trong suốt cả năm cho giải đấu chỉ diễn ra trong một ngày. Tại đây họ được trao cho ba gợi ý ngắn (chẳng hạn như “Giữ bí mật” hoặc “Chôn vùi kho báu”) để tạo nên ba câu chuyện sẽ được các giám khảo cho điểm và xếp hạng sau đó. Đây là một sự kiện thú vị và truyền cảm hứng vì nó kết hợp tính sáng tạo của việc sáng tác văn học với các hóc-môn andrenalin tranh đấu trong thể thao.
Đây cũng là một sự kiện mà trường Ruffing có truyền thống gặp khó khăn. Trong thập kỷ trước (tôi đã tham gia huấn luyện trong vòng hai năm), các học sinh của họ thỉnh thoảng tiến bộ và vượt qua những vòng đấu đầu tiên nhưng hiếm khi đi xa hơn. Kết quả này hợp lý – xét cho cùng, Ruffing là một ngôi trường nhỏ bé, chỉ bao gồm 40 học sinh. Họ phải cạnh tranh với các trường học có quy mô như người khổng lồ Goliath đến từ khắp nơi trong tiểu bang. Nhưng điều này khiến tôi tự hỏi liệu đội mình có thể làm tốt hơn hay không. Vì vậy, trong năm 2014, tôi coi đây là một cuộc thử nghiệm và quyết định áp dụng một số ý tưởng có được từ việc nghiên cứu để viết nên cuốn sách này.
Buổi luyện tập hàng tuần đầu tiên của chúng tôi trong tháng 10 đã thu hút được chín học sinh. Catherine, Carson, Ellie, Vala, Caroline, Natsumi, David, Nathan và Zoe tạo thành một nhóm học sinh năng động có mức độ thành thạo cùng động lực khác nhau. Vala và Ellie là những người viết tự tin và giàu kinh nghiệm, trong khi Carson và Caroline e dè hơn, mới chỉ bắt đầu thử sức sáng tạo của mình. Tôi cũng đã do dự. Trong những năm qua, tôi thường sử dụng một cách tiếp cận truyền thống (phương pháp có căn cứ và thẩm quyền) để huấn luyện đội: Tôi nói rất nhiều, trình bày các bài nói chuyện giống bài giảng, sau đó đưa ra thông tin phản hồi về những câu chuyện do các học sinh thực hành viết ra. Theo cách nói của nghề giảng dạy, tôi là “hiền nhân trên bục giảng”, và đó là một vị trí dễ chịu. Tuy nhiên, năm nay mọi việc sẽ khác.
Trước tiên, tôi thay đổi việc sắp xếp chỗ ngồi. Trong những năm qua chúng tôi đã ngồi tại các vị trí có khoảng cách lỏng lẻo ở những bàn nhỏ nằm rải rác. Giờ đây, tôi đẩy các bàn nhỏ lại gần nhau để tạo thành một bàn vừa đủ lớn cho mười người chúng tôi ngồi, khuỷu tay kề sát nhau. Sau đó, thay vì tung ra một bài giảng về cách viết văn tốt, tôi hỏi cả đội: “Cuốn sách yêu thích hiện nay của các cháu là gì?” Chúng tôi lần lượt trả lời theo vòng tròn. (cái tên Harry Potter xuất hiện nhiều hơn một lần, tác phẩm Hunger Games (Đấu trường sinh tử) cũng vậy.)
Sau đó, tôi hỏi tại sao những cuốn sách đó lại hay đến vậy.
“Vì cậu ấy là một trẻ mồ côi,” Ellie nói. “Khá nhiều câu chuyện hay đều có sự xuất hiện của trẻ mồ côi.”
“Bởi vì có một cuộc chiến tranh khốc liệt xảy ra,” Nathan nói. “Tất cả mọi người đều phải chết, cuộc chiến quá tàn bạo và bạn không hề muốn họ chết.”
“Chỉ vì nó thực sự, thực sự rất hay,” Carson nói.
“Tại sao?” tôi hỏi.
Carson nuốt khan. Cậu ấy là một đứa trẻ cao, mảnh dẻ với đôi mắt to đen sẫm và cách ứng xử theo khuôn phép. Cậu cẩn thận lựa chọn những từ ngữ mình nói ra. “Bởi vì câu chuyện khiến bạn phải lo lắng về nó” cậu nói.
“Đúng rồi,” tôi nói. Tôi làm động tác chạm nắm đấm với cậu ấy, và cậu mỉm cười.
Tôi hỏi cả đội một câu hỏi khác: “Điều gì khiến các cháu không thích khi viết văn?”
Câu trả lời có nhanh chóng: Họ không thích việc tìm kiếm những ý tưởng để viết. Đôi khi các câu chuyện dễ dàng đến, nhưng thường là không phải như vậy. Nhiều khi chỉ còn lại họ nhìn chằm chằm vào một trang giấy trắng, tự hỏi mình có thể viết về điều gì.
“Cháu chỉ thỉnh thoảng bị bế tắc,” Catherine nói, thay lời cho nhóm. “Cháu đi được nửa đường, và sau đó không thể nghĩ ra bất kỳ điều gì nữa.”
Tôi đã nói với cả đội rằng mình có vài điều muốn chia sẻ với họ. Tôi với lấy ba lô của mình và, bằng một cử chỉ tự phụ kịch tính không chút xấu hổ, tôi lấy ra một chồng giấy – chính là bản thảo đầu tiên của cuốn sách này. Họ hăm hở nhận lấy tập giấy. Họ đều biết tôi là một nhà văn và đã hy vọng tìm thấy các ví dụ cho những đoạn văn không hề mắc lỗi.
Nhưng khi đọc tập bản thảo, họ thấy các trang viết không hề hoàn hảo. Ngược lại, chúng lỗ chỗ các chỉnh sửa, gạch xóa và sửa chữa viết tay nguệch ngoạc bên lề. Có trang bị gạch chéo toàn bộ. Đó không giống sản phẩm của một nhà văn có sách xuất bản ra công chúng. Nó trông giống một bài luận ở trường học đã nhận một điểm F vang dội.
“Bản thảo này là của chú ạ?” Nathan hỏi.
“Đúng thế,” tôi nói.
“Lần nào cũng có nhiều thay đổi thế này ạ?”, Vala hỏi.
“Lần nào cũng vậy,” tôi nói.
Tôi nói cho họ biết tôi chưa từng viết ra thứ gì hoàn hảo; rằng tôi thường bị bế tắc và vật lộn trong suốt quá trình xây dựng một câu chuyện. Tôi nói với họ tôi có xu hướng mắc rất nhiều sai lầm, và việc nhận thấy cũng như sửa chữa những sai lầm chính là khi kỹ năng viết văn được cải thiện.
Sau đó, tôi cho cả đội một gợi ý. Sau khi viết 15 phút, tôi yêu cầu họ đặt bút xuống và giải thích một nguyên tắc đơn giản: Mọi người đều được khuyến khích đọc to câu chuyện của mình, và tất cả cũng được khuyến khích đóng góp phản hồi. Một số học sinh ngần ngại khi đọc to câu chuyện của mình lên, và họ không có đủ ngôn từ để phê phán những câu chuyện khác. Nhưng từ từ, khi từng tuần trôi qua, chúng tôi đã trở nên khá hơn. Caroline, người trong thời gian đầu từng không muốn đọc những câu chuyện của mình đã bắt đầu chia sẻ cởi mở hơn, đưa mọi người vào thế giới khoa học viễn tưởng cô yêu thích tạo nên. Natsumi, người ban đầu do dự về việc đưa ra những lời chỉ trích với các đồng đội của mình, đã bắt đầu tạo ảnh hưởng bằng những chỉ dẫn ấm áp, sắc sảo.
Chúng tôi đã sử dụng hình thức “Điều gì đã mang lại hiệu quả tốtĐiều gì thậm chí sẽ cho hiệu quả tốt hơn” cho các phiên phản hồi: đầu tiên tán dương các mặt tích cực, sau đó đưa ra những ý tưởng cải thiện câu chuyện. Theo thời gian, việc trao đổi được tăng cường thành các thói quen; cả đội không còn cư xử giống một lớp học điển hình và bắt đầu hành xử như các học sinh mẫu giáo trong thử thách spaghettimarshmallow: cùng làm việc vai kề vai, giải quyết các khó khăn, cùng suy nghĩ như một.
Trong khi ấy tôi tập trung vào việc hỗ trợ cho những tương tác đó. Khi một ai viết ra một câu chuyện thành công hoặc đưa ra một bình luận đặc biệt sắc bén, tôi không nói một từ nào, thay vào đó làm cử chỉ chạm nắm đấm khích lệ. Giống như Danny Meyer, tôi khiến môi trường tràn ngập các khẩu hiệu nhằm hướng dẫn họ trong suốt quá trình viết văn và sửa lỗi. Một trong các khẩu hiệu là “Sức mạnh của những trở ngại” nhắc học sinh nhớ rằng trong các câu chuyện hiệu quả nhất đều tồn tại những nhân vật phải đối mặt với trở ngại to lớn, càng lớn càng tốt. (Xét cho cùng, nhân vật thuyền trưởng Ahab không thể chỉ đi săn đuổi bầy cá tuế nhỏ bé). Một khẩu hiệu khác là “Sử dụng lăng kính của chính bạn”. Khẩu hiệu này nhắc nhở họ cần kiểm soát quan điểm. (Bạn có muốn đưa người đọc vào tận sâu bên trong tâm trí của nhân vật, hay để mặc họ tự quan sát từ trên cao xuống?) Tôi nói đi nói lại với họ: “Mỗi câu chuyện cần hội tụ đủ ba yếu tố bắt đầu bằng các chữ cái V-O-W: Voice (giọng nói), Obstacles (chướng ngại vật) và Want (mong muốn). Trở ngại càng lớn thì câu chuyện càng hay. Các bạn là những vận động viên sáng tạo – hãy giúp đỡ nhau trở nên giỏi hơn.”
Đối với tôi, ở một số phương diện, phong cách huấn luyện này có yêu cầu cao hơn. Nó đòi hỏi việc tái hiện nhiều hơn, suy nghĩ về các cách châm ngòi thảo luận và tạo động lực. Tôi cũng vật lộn với các thử thách để giữ mình không làm một số việc: cho phép các cuộc hội thoại thỉnh thoảng lan man ngoài chủ đề thay vì nhảy vào nắm quyền kiểm soát. Tuy nhiên, bằng những cách khác nhau, phong cách huấn luyện mới đã khiến mọi việc trở nên dễ dàng hơn. Thay vì tập trung vào việc truyền đạt kiến thức (đòi hỏi rất nhiều công tác chuẩn bị với độ chính xác cao), tôi có thể đóng vai trò một người hướng dẫn, để các nhóm tự hoạt động và chờ đợi những khoảnh khắc tham gia phù hợp. Khi đó tôi có thể sử dụng một cụm từ hoặc ngôn ngữ cơ thể để mang đến một số nhận thức, hay tốt hơn là tôn vinh một sự lựa chọn thành công mà họ đã thực hiện.
Giải đấu cấp quận diễn ra vào đúng ngày lễ Valentine. Sáng hôm đó, một trận bão tuyết giáng xuống phía đông bắc bang Ohio, mang theo lớp tuyết dày 13 cen-ti-mét và những cơn gió có tốc độ 70 ki-lômétgiờ. Chúng tôi lái xe xuyên qua cơn bão đến trường chủ nhà, thấy loáng thoáng những chiếc xe hơi và xe bán tải trượt khỏi mặt đường, các nhân viên dịch vụ khẩn cấp đứng chen chúc bên lề đường, trong một khung cảnh tựa như mặt trăng màu trắng có tiếng la hét giống trong trò chơi Đại dịch xác sống. “Chúng ta nên viết một câu chuyện về cơn bão này,” Zoe nói, và mọi người trong đội bắt đầu dệt nên các mẩu truyện thuật lại những hình ảnh họ đã trông thấy.
Khi đến trường chủ nhà, chúng tôi tìm thấy một bàn gần cửa sổ. Sau đó, bọn trẻ đập tay và biến mất vào các lớp học để nhận lời gợi ý và viết câu chuyện của mình. Hai giờ sau đó, họ tái xuất hiện, mắt mở to và gần như bị vắt kiệt. Vào lúc ba giờ, sau khi chấm điểm và xếp hạng tất cả mẩu truyện, các nhà tổ chức giải đấu đưa chúng tôi cùng với hàng trăm đối thủ khác đến phòng tập thể dục để công bố những người chiến thắng.
Không cần vòng vo: Chúng tôi đã làm tốt. Zoe xếp thứ 14 trong hạng đấu dành cho lớp Bảy. Trong hạng đấu lớp Tám, Nathan đứng thứ 12, Vala thứ 10, Natsumi thứ tư và Ellie hạng nhất. Đến cuối ngày, chúng tôi đã nâng chiếc Cúp vô địch của hạng đấu lớp Tám. Một vài tuần sau đó, đội đã thể hiện khá tốt trong một giải đấu cấp quận khác. Zoe đã giành giải nhất và đứng đầu vòng đấu. Bốn sinh viên đủ điều kiện lọt vào vòng tiểu bang, nhiều nhất trong lịch sử của trường, và Ellie đã giành một giải thưởng dành cho các tài năng viết văn trẻ.
Nhưng đối với tôi đó không phải là điều đáng chú ý. Sự việc đáng chú ý liên quan đến Carson, một học sinh lớp tám trầm lặng, người không bao giờ viết quá nhiều. Mặc dù không vượt qua các giải đấu cấp quận, cậu vẫn tiếp tục có mặt tại buổi luyện tập vào ngày thứ Ba. Cậu ấy đã không còn quá nhút nhát khi chia sẻ đoạn văn mình viết, và đã cho thấy sự sáng tạo của mình theo những cách khác. (Mùa xuân năm ấy, trước sự ngạc nhiên của các giáo viên và phụ huynh, Carson đóng một vai Atticus Finch tuyệt vời trong tác phẩm To Kill a Mockingbird (Giết con chim nhại) của trường).
Trong đội tuyển, đặc sản của Carson là viết những truyện tranh về một nhân vật huyền thoại tên là Johnny McTough, một học sinh trung học cực kỳ tự tin, đẹp trai, cao ráo, người lúc nào cũng nhầm tưởng mình là cầu thủ bóng đá vĩ đại nhất thế giới. Câu chuyện về Johnny McTough rất tuyệt vời, một phần vì niềm tin không thể lay chuyển của Johnny rằng cậu không cần đến bất cứ một ai hay thứ gì, dù là một vị huấn luyện viên, một đội tuyển, cha mẹ hay thậm chí cả mũ bảo hiểm. Điều này đã dẫn cậu ta đến đủ loại tình huống khôi hài. Nhưng hầu hết chúng đều rất tuyệt vời do cách Carson và đội tuyển tương tác với nhau. Mỗi tuần, bằng giọng lanh lảnh, huyênh hoang, Carson sẽ kể về cuộc phiêu lưu mới nhất của Johnny McTough và cả đội đều cười náo loạn. Chúng tôi cười vào những cảnh tượng của vị anh hùng lầm lạc, người nghĩ rằng mình có thể một mình chống lại cả thể giới. Sau đó, tất cả chúng tôi bắt đầu làm việc cùng nhau để khiến câu chuyện thậm chí còn hay ho hơn.