Khám Phá Sức Mạnh Văn Hóa Đội Nhóm

Lượt đọc: 189 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
5. Thiết Kế Sự Gắn Bó Như Thế Nào?

❊ ❊ ❊

CÁC KIẾN TRÚC SƯ CỦA NHÀ KÍNH

Tony Hsieh không phải là một đứa trẻ tầm thường. Cậu bé rất sáng dạ, có thể chơi bốn loại nhạc cụ và đạt điểm A trong khi gần như không cần mở bất cứ cuốn sách nào. Hsieh (phát âm là “Shay”) cũng nhút nhát, thích dành thời gian suy nghĩ đơn độc hơn là xã giao. Cậu thích các câu đố và yêu cảm giác khám phá ra những giải pháp sáng tạo cho các vấn đề khó khăn. Chương truyền hình yêu thích của Hsied là MacGyver (Siêu đặc vụ). Đó là bộ phim anh hùng với nhân vật chính là một đặc vụ mật cực kỳ tháo vát. Anh ta sử dụng các vật liệu hằng ngày để thoát khỏi những tình huống tiến thoái lưỡng nan và đưa kẻ xấu ra trước công lý. Ý tưởng xử lý những vấn đề khó khăn một cách nhẹ nhàng đã có sức hấp dẫn rất lớn với Hsied. Ngay từ khi còn nhỏ, Hsied bắt đầu đóng vai MacGyver theo cách của mình ở thế giới thực.

Ví dụ, khi cha mẹ yêu cầu Hsieh tập đàn piano, đàn violin, kèn trumpet hay còi Pháp, cậu “MacGyvered” ra cách thu băng cassette các buổi tập của mình, sau đó bật các bản thu âm từ phòng ngủ đóng kín cửa để cha mẹ cả tin nghĩ rằng mình đã hoàn thành nhiệm vụ. Ở trường trung học, cậu “MacGyvered” hệ thống điện thoại của trường thành cuộc gọi đến dịch vụ sex qua điện thoại dial-a-porn miễn phí (khiến Hsieh chỉ trong thời gian ngắn đã trở nên nổi tiếng trong đám nam sinh của trường).

Mọi chuyện tiếp diễn tại đại học Harvard, nơi Hsieh “MacGyvered” việc nghiên cứu (tập hợp các ghi chú trong lớp và bán lại với giá 20 đô-la một tập) hay bữa ăn đêm muộn (mua lò bánh pizza và bán pizza với giá rẻ hơn so với các nhà hàng trong vùng). Sau khi tốt nghiệp, ông đồng sáng lập nên một công ty phần mềm có tên gọi Link Exchange. Vào năm 1998, ông và các cộng sự đã bán Link Exchange cho Microsoft. Lúc ấy ông mới 25 tuổi và đã có hàng triệu đô-la trong túi. Ông không bao giờ cần làm việc thêm một ngày nào nữa trong cuộc đời mình. Hsieh bắt đầu tìm kiếm một điều gì khác để giải quyết.

Ông đã tìm thấy điều đó ở nhà bán lẻ trực tuyến có tên gọi ShoeSitecom. Nhìn bề ngoài, đây không có vẻ là một khoản đầu tư đặc biệt thông minh. Dù gì đi chăng nữa, đó là những ngày đầu thiếu triển vọng của thương mại điện tử, kỷ nguyên của một loạt thất bại bong bóng tương tự trang Petscom. Nhưng Hsieh xem những thất bại như cơ hội nhìn lại một hệ thống. Ông nghĩ đến việc đầu tư mạo hiểm nhằm tái tạo nền bán lẻ trực tuyến thông qua một nền văn hóa công ty mạnh mẽ và đặc biệt. Ông muốn dựng nên một bầu không khí “vui vẻ và kì quái” ở nơi làm việc. Các trang web không chỉ bán giày dép mà bao gồm cả thứ Hsieh gọi là “kết nối cảm xúc cá nhân”, ở cả nội bộ lẫn bên ngoài công ty. Một vài tháng sau khoản đầu tư ban đầu, Hsieh trở thành Tổng Giám đốc của Shoesitecom. Ông đổi tên công ty thành Zappos.

Ban đầu mọi việc không suôn sẻ với Zappos. Công việc kinh doanh rơi vào các rắc rối thường gặp ở những doanh nghiệp non trẻ – các vấn đề với nhà cung cấp, hậu cần, quá trình thực thi hoạt động. Đôi khi có một vài nhân viên sống cùng ngay tại căn hộ của Hsieh ở thành phố San Francisco. Nhưng vào đầu những năm 2000, mọi việc bắt đầu dần cải thiện, sau đó tăng tốc đáng kinh ngạc. Năm 2002, doanh thu của Zappos đat 32 triệu đô-la; năm 2003 tăng lên 70 triệu đô-la và năm 2004 đạt 184 triệu đô-la. Công ty chuyển trụ sở đến thành phố Las Vegas và tiếp tục tăng trưởng, đạt 1,1 tỷ đô-la doanh thu trong năm 2009. Zappos được bán lại cho Amazon. Hiện nay công ty có 1.500 nhân viên với doanh thu đã chạm mốc 2 tỷ đô-la. Zappos luôn nằm ở top đầu trong bảng xếp hạng các môi trường làm việc thân thiện trên toàn quốc và thu hút hàng trăm đơn ứng tuyển vào mỗi đợt tuyển dụng. Có được một công việc ở Zappos còn khó hơn thi vào đại học Harvard.

Năm 2009, Hsieh đầu tư mạo hiểm ra ngoài lĩnh vực thương mại. Ông mua một khu đất rộng 11 ha bao quanh trụ sở Zappos ở trung tâm Las Vegas với ý tưởng táo bạo là khiến nơi này hồi sinh. Không thuộc dải Las Vegas phồn hoa, nơi đây giống mớ bòng bong của các sòng bạc hạng ba, bãi đậu xe vắng vẻ và khách sạn xuống cấp đến nỗi một quan sát viên muốn xếp nó vào nhóm địa điểm bị tàn phá. Ở đây, ông bắt đầu cân nhắc việc liệu có thể “MacGyver” một thành phố, tức là áp dụng các nguyên tắc ở Zappos để xây dựng lại một khu trung tâm đổ nát hay không.

Trước khi gặp Hsieh, tôi ghé thăm căn hộ của ông nằm trên tầng 23 một tòa nhà gần đó. Tôi không đến đó một mình mà đi cùng một nhóm gồm khoảng chục người và một hướng dẫn viên. Đi đầu trong việc thể hiện quan điểm cởi mở hiện đại ở Zappos, Hsieh cho phép các nhóm khách dạo qua nhà bếp, phòng khách, những kệ nhỏ đầy ắp đồ ăn vặt hay “căn phòng rừng rậm” tươi tốt nơi có các bức tường và trần nhà phủ kín cây của mình. Nhìn thấy thanh ngũ cốc granola ăn dở trên quầy bếp hay đôi tất rơi trên sàn nhà của một vị tỷ phú mang đến cho người xem một cảm giác thân mật kỳ lạ.

Chúng tôi thấy một bản kế hoạch trên tường phòng khách: một bản đồ vệ tinh lớn của dự án Downtown với các đường biên được đánh dấu màu vàng sáng, mỗi lô đất được thể hiện bằng một biểu tượng gì đó, dường như có hàng loạt những phương án từng bị thay đổi. Trên bức tường kế tiếp phất phơ vài trăm tờ giấy nhớ đủ màu, trên đó vẽ nguệch ngoạc những ý tưởng cho các lô đất: TÀI SẢN SÁNG TẠO CÔNG CỘNG... TẤT CẢ CHẠY BẰNG NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI... CÔNG VIÊN CHO NHỮNG CHÚ CÚN... TÒA THỊ CHÍNH... VƯỜN CỘNG ĐỒNG. Bạn có cảm giác trước mắt mình là một trò chơi phức tạp đến khó tin – một trò SIM City hiện ra trong thế giới thực với Hsieh đóng cả hai vai trò người thiết kế và người chơi.

Một giờ sau đó, chúng tôi gặp nhau tại một địa điểm có tên là Container Park. Hsieh là một người đàn ông trầm ổn, có mái tóc cắt ngắn sát đầu và ánh mắt kiên định, tập trung. Ông thận trọng lựa chọn từ ngữ khi nói và chờ đợi bạn tiếp tục với sự kiên nhẫn vô tận mỗi khi cuộc trò chuyện bị ngắt quãng. Vài người gần gũi với Hsieh đều mô tả ông với cùng một phép ẩn dụ: Ông ấy giống như một người ngoài hành tinh có trí thông minh siêu việt, đến với trái đất để tìm xem thứ gì gắn bó loài người. Tôi hỏi ông mọi việc đã diễn ra như thế nào.

“Tôi cố gắng giúp mọi việc diễn ra tự nhiên,” ông nói. “Nếu thiết lập mọi thứ đúng cách, những mối liên kết sẽ diễn ra.” Ông ngồi im và chỉ sang Container Park, viên ngọc quý mới nhất của dự án Downtown. Một vài tháng trước, nơi đây chỉ là một khu hoang vắng. Giờ đây nó đã trở thành một địa điểm tụ tập ấm áp và hiếu khách, hình thành từ các container vận chuyển đầy màu sắc đã được chuyển đổi thành nhiều cửa hàng và cửa hiệu. Phía bên ngoài có một tác phẩm điêu khắc bằng kim loại khổng lồ mô phỏng hình một chú bọ ngựa cầu nguyện có đôi râu phát ra lửa. Hàng trăm người xung quanh chúng tôi đang hạnh phúc dạo bước, tận hưởng ánh mặt trời vào buổi chiều muộn. Tối nay sẽ có một buổi hòa nhạc của nữ danh ca Sheryl Crow tại khu công viên. Mặc dù có một số khó khăn riêng, dự án Downtown đã đạt được một số thành công bước đầu: tạo ra các dự án công và tư trị giá 754 triệu đô-la, hỗ trợ 92 doanh nghiệp và tạo tiếng vang mới cho cả khu vực.

Chúng tôi nói chuyện một lúc. Tôi đặt ra các câu hỏi và Hsieh đưa ra câu trả lời. Cuộc nói chuyện không hoàn toàn suôn sẻ, một phần do Hsieh có vẻ coi việc trò chuyện là công cụ giao tiếp thô sơ hoàn toàn không đem lại triển vọng gì. Một mẩu trao đổi điển hình giữa chúng tôi diễn ra như sau:

Tôi: Ông đã bắt đầu dự án này như thế nào?

Hsieh: Tôi đoán là do tôi thích các hệ thống. [tạm ngừng 10 giây]

Tôi: Vậy những mô hình và ý tưởng nào đã tạo cảm hứng cho ông?

Hsieh: Rất nhiều ý tưởng khác nhau, đến từ những nơi khác nhau [tạm ngừng 20 giây]. Câu hỏi này rất khó trả lời.

Hsieh không hề cố ý gây khó dễ; chỉ đơn giản là từ ngữ đã không hoàn thành nhiệm vụ truyền tải của mình. Rồi ông đề xuất chúng tôi cùng đi dạo và mọi việc thay đổi ngay lập tức. Dường như Hsieh trở nên sống động trở lại khi di chuyển quanh các khu phố, gặp gỡ và trò chuyện cùng mọi người, giới thiệu họ với tôi và những người khác. Ông có mối liên kết với tất cả mọi người. Ấn tượng hơn, ông còn tìm cách xây dựng mối liên kết giữa mọi người với nhau. Trong vòng 45 phút, tôi đã thấy Hsieh kết nối một đạo diễn phim, một nhà sản xuất âm nhạc-lễ hội, một nghệ sĩ, một chủ quán thịt nướng và ba người làm việc ở Zappos với một người họ nên trao đổi, một công ty họ nên xem xét, một người có cùng sở thích hay sự kiện nào đó họ có thể cùng quan tâm. Ông ấy giống như phiên bản con người của một ứng dụng xã hội, tạo nên các mối liên kết với cùng một thái độ tích cực, khiêm tốn và dễ chịu. Ông sở hữu một tài năng bẩm sinh khiến cho các cuộc hội thoại này có vẻ hoàn toàn bình thường và chính vì vậy lại càng đặc biệt.

“Hsieh rất thông minh, nhưng điều thông thái nhất ở ông là cách tư duy gần giống một đứa-trẻ-tám-tuổi,” Jeanne Markel, Giám đốc phụ trách văn hóa dự án Downtown nói. “Ông ấy khiến mọi việc trở nên đơn giản và tích cực với tất cả mọi người.”

“Tôi nhớ có một lần đi cùng ông ấy, và xuất phát từ một số lý do tôi nảy ra ý tưởng chúng tôi cần có một mô hình máy bay Zappos,” Joe Mahon, Giám đốc tiếp thị của dự án Downtown kể lại. “Không phải chỉ là vài chiếc nho nhỏ mà là một mô hình máy bay khổng lồ giống của Công ty Lốp xe và Cao su Goodyear. Nhìn lại thì đó là một ý tưởng hoàn toàn điên rồ. Thế nhưng Tony còn chẳng hề chớp mắt. Ý tôi là ông ấy không nao núng dù chỉ một giây. Ông ấy nói: “Hay đấy”, và chúng tôi bắt đầu thảo luận về việc đó. Nằm sâu dưới cách tiếp cận độc đáo của Hsieh là một cấu trúc toán học dựa trên thứ ông ấy gọi là va chạm. Hsied tin rằng các va chạm – được định nghĩa là những cuộc gặp gỡ cá nhân tình cờ – là huyết mạch của mọi tổ chức, động lực của sự sáng tạo, cộng đồng và sự gắn kết. Ông đã đặt mục tiêu có 1.000 “giờ va chạm” mỗi năm cho chính mình và 100.000 giờ va chạm trên mỗi ha đất của dự án Downtown. Số liệu này lý giải tại sao Hsieh đã cho đóng bớt một cửa phụ ở trụ sở Zappos để hướng mọi người về một lối vào duy nhất. Đó cũng là lý do trong một bữa tiệc gần đây, ông ấy bắt đầu khó chịu khi thấy mọi người đứng thành từng cụm cô lập, không hòa đồng với nhau. Hsieh nhận thấy đồ đạc trong phòng là yếu tố ngăn cản sự lưu thông. Vài giây sau đó, ông nhấc ra một chiếc ghế lớn nằm dọc căn phòng. Sau đó, ông ấy bắt đầu di chuyển những chiếc đèn và bàn tiệc, sắp xếp lại hoàn toàn căn phòng chỉ trong thời gian ngắn. Một người bạn đùa: “Đó là lần duy nhất tôi từng thấy một tỷ phú đi di chuyển đồ đạc trong phòng”.

“Nơi này giống như một nhà kính,” Hsieh nói. “Ở một số nhà kính, người lãnh đạo giữ vai trò cái cây mà các cây khác mong muốn trở thành. Nhưng đó không phải là tôi. Tôi không phải là cái cây mà mọi người khao khát vươn tới. Công việc của tôi là thiết kế nhà kính.”

Công việc của tôi là thiết kế nhà kính. Điều này cho thấy cái nhìn sâu sắc và hữu ích về cách Hsieh tạo ra gắn bó thuộc về bởi vì nó hàm ý đến cả một quá trình. “Tôi có thể nói từ va chạmcả nghìn lần một ngày,” Hsieh nói. “Tôi làm như vậy không phải vì việc tính đếm có gì quan trọng. Điều cốt yếu là tạo ra bước chuyển biến về tư duy. Khi một ý tưởng trở thành một phần của một ngôn ngữ, nó sẽ trở thành một phần của cách suy nghĩ mặc định.”

Khi nói chuyện với những người bên trong nhà kính của Hsieh, có vẻ như họ đang trong vùng ảnh hưởng của một từ trường mạnh mẽ. “Đó là sự việc phi logic,” tiến sỹ Zubin Damania, một vị bác sĩ X-quang đã dừng việc giảng dạy tại Đại học Stanford để đầu quân cho phòng khám sức khỏe của Hsieh nói. “Ông ấy giống như nhân vật Morpheus trong bộ phim Ma trận, người cho bạn những viên thuốc khiến bạn thực sự nhìn thấy thế giới lần đầu tiên trong đời.”

“Đó là loại liên kết không thể giải thích nổi,” Lisa Shufro, một nhân viên dự án Downtown nói. “Bạn kết nối với tất cả mọi người và không dùng trí óc để nhận biết mối liên kết ấy. Bạn cảm thấy nó từ bên trong trái tim. Đó là cảm nhận về triển vọng khả thi do Hsieh tạo ra ở bất cứ đâu ông tới.”

“Hsieh biết quá rõ cách kết nối mọi người với nhau đến mức ông ấy vô thức làm điều đó,” Maggie Hsu, một người trong ban điều hành của dự án Downtown nói. “Lúc đó, ông đã tạo ra nhiều kết nối đến mức gần như không đừng được. Tôi đã hỏi đi hỏi lại Tony – tại sao mọi người vây xung quanh ông? Tại sao họ đáp lại ông? Ông đã trả lời: “Tôi cũng không biết.”

Câu chuyện của Hsu là một điển hình. Vài năm trước, cô nghe nói đến dự án Downtown khi đang là một chuyên viên tư vấn thành công ở công ty McKinsey. Xuất phát từ sự tò mò, cô gửi đi một email và Hsieh đã trả lời bằng cách mời cô đến thăm trong vài ngày. Hsu nhận lời, nghĩ rằng sẽ được tham dự một lịch trình thường thấy bao gồm các cuộc họp, gặp gỡ và những chuyến đi có tổ chức. Thay vào đó, cô nhận được một email chỉ có hai dòng cùng với một danh sách có tám cái tên.

Email của Hsieh viết: Hãy gặp gỡ những người này, sau đó hỏi họ xem nên gặp những ai nữa.

Hsu hơi hoảng. “Tôi hỏi lại ông ấy: ‘Chỉ vậy thôi ư? Tôi có nên làm gì khác nữa không?’. Ông ấy nói: ‘Cô sẽ biết ngay thôi.’ Và Hsied đã đúng – đó gần như là tất cả những gì đã xảy ra. Như thể tôi nhận được một tín hiệu ngày càng mạnh mẽ với mỗi người tôi cùng trò chuyện. Đó là loại tín hiệu mạnh mẽ đến mức điên rồ và tôi không thể nào chống cự lại. Cuối cùng tôi chuyển việc đến đây. Điều này hoàn toàn phi logic, tôi chỉ cảm thấy mình cần làm như vậy.”

Thông thường, chúng ta không nghĩ đến sự gắn bó thuộc về ở các đội ngũ lớn theo hướng này. Nhắc đến sự gắn bó với các tập thể lớn, ta thường nghĩ đến những ông trùm truyền thông có thể tạo ra một tầm nhìn sống động và hấp dẫn thu phục người khác. Nhưng đó không phải những gì đang diễn ra tại đây. Trong thực tế, Hsieh không hề lôi cuốn. Ông giao tiếp không quá xuất sắc. Hsieh sử dụng các công cụ đơn giản tối đa – Hãy gặp gỡ mọi người, bạn sẽ rõ. Vậy tại sao công cụ này lại hoạt động tốt đến vậy?

Trong suốt thời kỳ chiến tranh Lạnh, Mỹ và Liên Xô đã tiến hành một cuộc chạy đua kéo dài nhiều thập kỷ, có thể dẫn đến bất cứ điều gì nhằm xây dựng các hệ thống vũ khí và vệ tinh mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Hai bên đều triển khai hàng trăm dự án chính phủ và tư nhân, ở đó các đội ngũ kỹ sư đã dành hàng nghìn giờ nghiên cứu hăng say về những vấn đề phức tạp mà chưa một ai từng bắt tay vào giải quyết trước đó. Khi cuộc đua đi được nửa đường, chính phủ Mỹ đã quyết định xem xét hiệu quả của quá trình này. Các nghiên cứu đặt ra câu hỏi tại sao một số dự án kỹ thuật đạt được thành công trong khi những dự án khác lại thất bại. Một trong những người đầu tiên chính thức bắt tay vào nghiên cứu vấn đề này là vị giáo sư trẻ có tên Thomas Allen ở Viện Đại học MIT.

Giáo sư Allen không phải kiểu người ẩn dật điển hình nơi tháp ngà học thuật. Ông vốn là đứa trẻ trong một gia đình trung lưu đến từ bang New Jersey, tốt nghiệp Viện đại học Upsala nhỏ bé và sau đó gia nhập lực lượng thủy quân lục chiến trong suốt cuộc chiến tranh Triều Tiên. Khi giải ngũ, ông gia nhập và làm việc cho hãng máy bay Boeing. Sau đó ông đến MIT theo đuổi bằng tiến sỹ kép về khoa học máy tính và quản lý. Allen ở đúng vị trí đáp ứng hoàn hảo các điều kiện theo đuổi yêu cầu nghiên cứu của chính phủ. (“Tôi thậm chí còn không biết họ có cấp bằng tiến sỹ quản lý khi đến đó [học viện MIT],” ông nói. “Tôi đã đăng ký một vài lớp học, cảm thấy thích thú và một số người đã trao đổi với tôi về việc theo đuổi bằng tiến sỹ.”) Allen bắt đầu nghiên cứu của mình bằng cách khởi tạo một dự án được ông đặt tên là “Dự án song sinh”. Dự án này nghiên cứu các trường hợp có hai hoặc nhiều công ty kỹ thuật giải quyết cùng một thử thách phức tạp, chẳng hạn như làm thế nào để điều khiển một tên lửa đạn đạo liên lục địa hoặc phương thức giao tiếp với một vệ tinh. Ông đã đo lường chất lượng của các giải pháp, sau đó cố gắng tìm ra những yếu tố chung ở các dự án thành công.

Có một mô thức có thể thấy rõ ngay lập tức: Những dự án thành công nhất đều được chèo lái bởi tập hợp các cá nhân thuộc một nhóm mà Allen gọi là “nhóm người có khả năng giao tiếp tốt”. Phản ứng hóa học và sự gắn kết trong các nhóm này giống như điều Larry Page và Jeff Dean có được ở Google. Họ có sở trường điều hướng các vấn đề phức tạp với tốc độ ánh sáng. Allen đào sâu các dữ liệu để tìm hiểu xem những người trong nhóm này có được sở trường đó từ đâu. Có phải do họ đã cùng viết cho những tạp chí giống nhau? Hay họ cùng đạt đến một cấp độ thông minh nhất định? Họ ở cùng lứa tuổi với nhau? Họ cùng theo học ở một số trường đại học hay có trình độ bằng cấp tương đương? Họ có sở hữu kỹ năng lãnh đạo và kinh nghiệm tốt nhất? Tất cả những yếu tố này đều có vẻ hợp lý, nhưng không yếu tố nào cho tiến sỹ Allen thấy được vai trò to lớn của chúng với sự gắn kết.

Ngoại trừ một yếu tố.

Khoảng cách giữa các bàn làm việc của họ.

Lúc đầu, Allen không tin điều này. Phản ứng hóa học trong nhóm là một quá trình quá phức tạp và bí ẩn khiến ông có xu hướng tìm kiếm những lý do phức tạp và bí ẩn tương đương để lý giải. Tuy nhiên, càng khám phá các dữ liệu sâu hơn, câu trả lời càng trở nên rõ ràng. Điều quan trọng nhất để tạo ra một đội ngũ thành công phụ thuộc nhiều vào vị trí đặt các bàn làm việc hơn là trí thông minh hay kinh nghiệm của các thành viên.

“Những điều giản đơn như giao tiếp trực quan là rất, rất quan trọng, quan trọng hơn mức bạn có thể nghĩ đến,” Allen nói. “Nếu bạn có thể nhìn thấy người khác hay thậm chí cả khu vực làm việc của họ, bạn sẽ được gợi nhắc về họ, và điều đó mang đến một loạt các hiệu ứng.”

Allen quyết định đào sâu hơn bằng cách đo lường tần suất xuất hiện các tương tác so với khoảng cách giữa mọi người. “Chúng ta thấy được cách mọi người giao tiếp và xác định thời điểm họ đặt mối quan hệ với nhau,” ông nói. “Có thể nhận biết chúng chỉ dựa vào tần suất tương tác mà không cần biết họ ngồi đâu hay ai ở tầng nào. Chúng tôi đã thực sự ngạc nhiên khi thấy các mối liên kết nhanh chóng bị hủy hoại” khi họ chuyển đến các tầng khác nhau. “Hóa ra sự chia tách theo chiều dọc là điều thực sự nghiêm trọng. Ở một số công sở, làm việc ở các tầng khác nhau có lẽ cũng giống việc các bạn đang ở những đất nước khác nhau vậy.”

Khi Allen thể hiện tần số tương tác theo khoảng cách lên biểu đồ, ông nhận được một đường trông giống như một ngọn đồi dốc. Nó gần như thẳng đứng lúc đầu và nằm ngang về sau. Đường này được biết đến với tên gọi Đường cong Allen.[13]

1

Đặc điểm chính của đường cong Allen là độ dốc bất ngờ xảy ra ở mốc khoảng cách tám mét. Ở các khoảng cách nhỏ hơn tám mét, tần số giao tiếp có cùng chiều tăng với chiều trục tung. Nếu bộ não hoạt động một cách logic, ta có thể dự đoán tần số và khoảng cách sẽ biến động theo một tỷ lệ không đổi, tạo nên một đường thẳng. Nhưng như Allen cho thấy, bộ não của chúng ta không hoạt động theo một logic nào cả. Một số khoảng cách nhất định sẽ kích hoạt những thay đổi lớn ở tần suất giao tiếp. Khi khoảng cách tăng đến 50 mét, giao tiếp chấm dứt như thể một vòi nước bị tắt đi. Giảm khoảng cách về sáu mét sẽ khiến tần suất giao tiếp tăng vọt. Nói cách khác, khoảng cách có chức năng gần như một loại thuốc kết nối. Việc lại gần sẽ thắp lên khuynh hướng kết nối với nhau của chúng ta.

Như các nhà khoa học đã chỉ ra, đường cong Allen tuân theo logic tiến hóa. Đại đa số trường hợp trong lịch sử nhân loại, khoảng cách gần ổn định đã trở thành đèn báo hiệu của sự gắn bó thuộc về. Xét cho cùng, ta sẽ không liên tục gần gũi được với ai đó trừ khi cả hai bên cùng cảm thấy an toàn. Các nghiên cứu cho thấy rằng các giao tiếp bằng công nghệ số cũng tuân theo đường cong Allen; chúng ta có xu hướng nhắn tin, gửi email và tương tác trực tuyến nhiều hơn với những người ở gần mình. (Một nghiên cứu cho thấy một người gửi email cho người khác thường xuyên hơn gấp bốn lần nếu họ làm cùng một địa điểm. Điều này giúp họ hoàn thành các dự án của mình nhanh hơn đến 32%.)

Mọi sự việc đều cho chúng ta những lăng kính để hiểu được công việc Tony Hsieh đang làm. Ông ấy đang tận dụng đường cong Allen. Các dự án của ông có xu hướng thành công dựa trên cùng một nguyên nhân với những dự án đô thị sáng tạo thành công khác: Trạng thái gần gũi giúp tạo nên hiệu quả của kết nối. Mọi người trong quỹ đạo của ông hành xử như thể họ đang chịu ảnh hưởng của một số loại thuốc. Và thực tế đúng là như vậy.

Giữa cuộc hội thoại, tôi hỏi Hsieh cách ông tuyển dụng những người mới vào dự án Downtown. “Nếu có ai đó quan tâm, và chúng tôi cũng có hứng thú với họ, chúng tôi liền mời họ về đây,” ông nói. “Chúng tôi gần như lén lút làm điều đó. Họ sẽ được chuẩn bị một nơi ở miễn phí cùng với không quá nhiều thông tin. Mọi người đến đây, đi ra ngoài, tận mắt chứng kiến những gì đang diễn ra, và một số quyết định gia nhập dự án.” Đại loại là mọi chuyện cứ diễn ra như vậy.

Vậy tỷ lệ người quyết định gia nhập dự án là bao nhiêu?

Ông ngừng lại một lúc lâu. “Có lẽ khoảng một trên 20 người.” Lúc đầu, con số này có vẻ không ấn tượng cho lắm – chỉ có 5%. Rồi bạn nghĩ về điều ẩn dưới con số đó. Có hàng trăm người lạ ghé thăm Hsieh, rồi chỉ sau vài cuộc hội thoại và một số ít tương tác, năm người sẽ nhổ neo khỏi nơi họ sống và đến gia nhập một đội ngũ họ mới vừa gặp gỡ. Hsieh đã xây dựng nên một cỗ máy biến đổi những người xa lạ thành một bộ lạc.

“Mọi việc diễn ra khá khôi hài,” Hsieh nói. “Tôi không bao giờ nói quá nhiều; Tôi cũng không tổ chức các cuộc thi lớn. Tôi chỉ để họ trải nghiệm nơi này và chờ đợi thời điểm chín muồi.” Sau đó, tôi nhìn họ và hỏi: ‘Thế khi nào bạn chuyển đến Vegas được?’.” Ông mỉm cười. “Và rồi vài người trong số họ đã làm như vậy.”

Thu Huyền dịch
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.