CÁC QUY TẮC CỦA DAVE COOPER
Nếu muốn tìm ra các đội có hiệu suất cao nhất trên hành tinh này, một lúc nào đó bạn sẽ thấy mình đang ở khu Dam Neck, bang Virginia, căn cứ của các hậu duệ của Draper Kauffman: 300 quân đoàn viên SEAL tạo nên Biệt đội SEAL số 6. Và nếu bạn hỏi một loạt các thành viên hiện tại và đã nghỉ hưu của Biệt đội SEAL số 6 về nhà lãnh đạo họ ngưỡng mộ nhất, bạn sẽ nghe đi nghe lại một vài cái tên. Và cái tên được nhắc đến nhiều nhất là Dave Cooper.
Đây là một sự lựa chọn đáng ngạc nhiên, bởi vì Dave Cooper không sở hữu bất kỳ tài năng rõ ràng nào khiến ông khác biệt với phần còn lại của Biệt đội SEAL số 6. Cooper, người đã nghỉ hưu vào năm 2012, không phải là thành viên thông minh nhất hay mạnh mẽ nhất, cũng không phải tay súng giỏi nhất. Ông cũng không phải người bơi giỏi nhất hay đấu giáp lá cà tốt nhất. Nhưng ông chính là người giỏi nhất về một kỹ năng khó xác định ngay lập tức và vô cùng có giá trị. Ông ấy giỏi tạo nên các biệt đội vĩ đại nhất.
“Coop là một gã cực kỳ thông minh, người đã ở lại chiến hào trong suốt một thời gian dài,” cựu điều hành viên Biệt đội SEAL số 6 Christopher Baldwin nói. “Ông ấy không phải kiểu người thăng tiến theo các cấp bậc lãnh đạo chỉ để leo cao. Ông là một trong số chúng tôi. Ông ấy hiểu bức tranh tổng thể, và bạn luôn có thể nói chuyện với ông.”
“Có một số cấp trên từng bất đồng với ông, và ông ấy không phải lúc nào cũng làm theo các quy tắc,” một nhà điều hành khác nói. “Nhưng nếu bạn ở trong đội của Cooper, bạn có thể thấy lý do tại sao ông ấy có hiệu quả.”
Một nhà điều hành chỉ ra ngắn gọn hơn: “Cooper là một anh chàng tuyệt vời.”
Họ kể với tôi cách Cooper làm việc tại Bosnia, Somalia, Iraq và Afghanistan, luôn là những “điểm nóng” cần đến lực lượng đặc biệt SEAL. Họ nói cho tôi biết cách các đội của Cooper làm việc cùng nhau, và những lần họ đã thành công khi mọi thứ rơi vào tình thế địa ngục – đặc biệt là khi họ rơi vào địa ngục. Càng nói chuyện, hình ảnh Cooper trong trí tưởng tượng của tôi càng rõ hơn là một hình mẫu vĩ đại, một sự kết hợp của huấn luyện viên bóng đá Vince Lombardi và điệp viên Jason Bourne.
Sau đó, chúng tôi cùng ăn trưa tại một nhà hàng ở thành phố Virginia Beach. Cooper hóa ra là một anh chàng tầm thước. Ông ấy mặc chiếc áo sơ mi đi biển, quần short và đi dép tông, nhìn giống với một ông bố vùng ngoại ô trên mọi phương diện. Giống với tưởng tượng, ông rất cường tráng. Điều không giống với tưởng tượng là ông nói nhiều và nồng hậu với đôi lông mày nhướng lên mỗi khi quan tâm lắng nghe. Giống như biểu hiện bề ngoài của hầu hết các nhà chỉ huy ở SEAL, ông ta hơi khuỳnh khoàng khuỷu tay, thể hiện sự phòng bị và rà soát căn phòng. Hành động này được gọi là sự kiểm soát không gian.
Ông chọn một bàn ngoài trời để có thể nhìn ngắm đám đông. Ông tán gẫu với người bồi bàn, lắng nghe họ giới thiệu các món đặc biệt một cách chăm chú, nồng hậu. Rồi ông ta hỏi tôi, đôi lông mày nhướng lên: “Vậy anh muốn biết những gì?”
Cũng giống hầu hết thành viên của Biệt đội SEAL số 6, câu chuyện đằng sau Cooper rất đặc trưng. Ông lớn lên ở thành phố nhỏ Pennsylvania và mong muốn trở thành một bác sĩ. Ông học chuyên ngành sinh học phân tử tại trường Juniata College, một trường đại học khai phóng nhỏ nơi các nhà tuyển dụng quân sự chỉ có mặt tại trường mỗi năm một ngày. Ông nghe kể về các đội SEAL từ một giáo viên lịch sử và vẫn có thể đọc làu làu câu nói đã khiến mình mắc câu: “Các thành viên biệt đội SEAL đều là những con mọt sách cực kỳ thông minh.” Ông đã bị cuốn hút và lựa chọn tham gia khóa đào tạo sau khi tốt nghiệp. Sau khi sống sót qua Tuần Địa Ngục, vượt qua vòng tuyển chọn của Draper Kauffman và một kì tuyển dụng khác nữa, ông gia nhập Biệt đội SEAL số 6 vào năm 1993.
Có rất nhiều câu chuyện Cooper có thể cũng như không thể kể hết về cuộc sống của một nhà điều hành Biệt đội SEAL số 6. Nhưng khi được hỏi về việc xây dựng đội ngũ, ông chỉ kể lại một câu chuyện duy nhất. Sự việc diễn vào đêm giao thừa năm 2001 tại Afghanistan, trên một con đường hoang vắng nằm giữa quận Bagram và thành phố Jalalabad. Cooper đến đó sau khi nhận mệnh lệnh tháp tùng chỉ huy thực hiện một nhiệm vụ trinh sát ngoại tuyến bao gồm bốn người. Họ sẽ lái xe từ quận Bagram đến thành phố Jalalabad và quay trở lại ngay trong ngày.
Đó là một cơn ác mộng: Con đường dài 180 ki-lô-mét thường không thể đi qua, là nơi dịch bệnh bùng phát, đầy rẫy kẻ cướp và quân nổi dậy sinh sống. Nhưng chỉ huy của Cooper nhất quyết đi tiếp, thể hiện sự tự tin khi vạch ra kế hoạch: Họ sẽ đi trên chiếc xe Suburban bọc thép với lốp xe gia cố đặc biệt, nhanh chóng và lén lút thực hiện nhiệm vụ. Mọi việc sẽ ổn thỏa. Cooper giữ lại những nghi ngờ của mình, tuân theo đúng cấp bậc và tiếp tục đi.
Ngay từ những ki-lô-mét đầu tiên ra khỏi quận Bagram, mọi thứ đã có vấn đề. Con đường hóa ra tồi tệ hơn dự kiến – chúng giống đường mòn đi bộ hơn là đường cao tốc. Chiếc Surburban bọc thép có gầm cách mặt đất chỉ vài cen-ti-mét, do đó phần nhiều thời gian họ đi chậm như bò trên đường. Cuối cùng, đến lúc tới được thành phố Jalalabad khi đêm xuống, Cooper nghĩ rằng họ sẽ ở lại và đợi tới sáng. Thay vào đó, người chỉ huy tuyên bố họ sẽ quay đầu và lái xe trở về quận Bagram ngay trong đêm đó để có thể hoàn thành nhiệm vụ theo đúng kế hoạch.
Cooper phản đối – đó là một ý tưởng tồi tệ, ông nói. Cuộc thảo luận trở nên căng thẳng; Cooper và vị chỉ huy hét vào mặt nhau cho đến khi người chỉ huy cuối cùng viện đến cấp bậc của mình. Cooper tuân lệnh. Với một dự cảm chẳng lành, ông trèo lên chiếc Surburban và cả đội lên đường ngay trong đêm.
Cuộc phục kích xảy ra một giờ sau đó. Một đoàn xe tải và xe jeep hiện ra trong đêm tối và bao vây chiếc Suburban. Người lái xe của Cooper đã cố thoát ra nhưng lốp xe gia cố phát nổ. Họ đi bằng vành lốp trong bóng tối với lửa đạn lao đến từ mọi hướng. Một người điều hành SEAL đã bị bắn vào chân chảy máu. Như Cooper nói, đó là một sự việc hỗn loạn tuyệt đối.
Không còn cách nào khác, đội SEAL buộc phải đầu hàng. Họ giơ tay lên và leo ra khỏi xe, chắc mẩm rằng mình sẽ bị giết. “Vì một lý do nào đó, chúng đã quyết định không bắn chúng tôi,” Cooper nói. “Chúng sợ bị trả đũa, hoặc thấy chúng tôi chẳng phải là một mối đe dọa lớn.” Quân nổi dậy gầm rú lao xe đi trong bóng tối, mang theo các vũ khí tước được của đội SEAL. Cooper cùng đội của mình liên lạc được với Biệt đội Lực lượng Đặc biệt số 1-Delta và các đội đặc nhiệm của Anh. Họ bay đến giải cứu đội một vài giờ sau đó. Cooper có cơ hội thứ hai trở lại quận Bagram cùng với một thế giới quan mới.
“Đêm đó đã đưa tôi đến một con đường hoàn toàn khác,” Cooper nói. “Từ thời điểm đó trở đi, tôi nhận ra mình cần tìm ra cách giúp đội hoạt động hiệu quả hơn. Vấn đề ở đây là, đã là con người, chúng ta đều chịu ảnh hưởng mạnh mẽ và vô thức của thẩm quyền – khi cấp trên yêu cầu làm điều gì đó, thề có Chúa, chúng ta đều có xu hướng tuân theo ngay cả khi việc đó là sai lầm. Để một người nói cho những người khác biết phải làm gì không phải là cách đáng tin cậy nhằm đưa ra quyết định tốt. Vậy làm thế nào để tạo ra những điều kiện giúp việc này không xảy ra, xây dựng nên một nơi phát triển được trí tuệ chung của cả đội? Làm thế nào để phát triển các cách thách thức lẫn nhau, đặt ra những câu hỏi đúng đắn mà không cần tuân theo thẩm quyền? Chúng tôi đang cố gắng tạo ra những nhà lãnh đạo trong số các nhà lãnh đạo. Và để làm được điều này, bạn không thể chỉ đơn giản nói với mọi người là xong. Bạn phải tạo ra các điều kiện khiến họ bắt đầu làm như vậy.”
Bắt đầu từ một buổi đêm vào năm 2001, Cooper bắt đầu xây dựng những điều kiện này cho các đội của mình. Có thể mô tả cách tiếp cận nhằm nuôi dưỡng sự hợp tác của ông như là một chiến dịch nổi loạn chống lại khuynh hướng thẩm quyền. Ông nhận ra rằng chỉ đơn thuần tạo ra không gian cho sự hợp tác là không đủ. Ông đã phải tạo ra một loạt các dấu hiệu không gây nhầm lẫn để quân của mình thoát khỏi xu hướng tự nhiên của họ, hướng về việc phụ thuộc lẫn nhau và hợp tác. “Bản chất con người liên tục chống lại chúng tôi,” ông nói. “Bạn phải tránh các rào cản đó, và chúng không bao giờ biến mất hoàn toàn.”
Ông bắt đầu từ những điều nho nhỏ. Ông sửa lại ngay lập tức khi một thành viên mới của đội gọi ông bằng chức vụ: “Cậu có thể gọi tôi là Coop, Dave hay Gã phiền phức tùy cậu.” Khi Cooper đưa ra ý kiến, ông luôn cẩn thận đính kèm các cụm từ tạo ra nền tảng để người khác hỏi lại mình, chẳng hạn như “bây giờ hãy cùng xem ai có thể chọc lỗ ở đây” hoặc “hãy cho tôi biết ý tưởng này có gì sai”. Ông chuyển hướng sự ra lệnh sang việc hỏi rất nhiều câu hỏi. Có ai có bất kỳ ý tưởng gì không?
Trong khi thực hiện nhiệm vụ, Cooper luôn tìm cơ hội làm nổi bật việc các thành viên cần lên tiếng, đặc biệt là những thành viên mới. Ông không cần sự tế nhị. “Ví dụ, khi đang ở trong một môi trường đô thị, các cửa sổ đều không phải là vị trí tốt,” ông nói với tôi. “Anh đứng trước một cửa sổ và có thể bị trúng đạn của một tay bắn tỉa mà không bao giờ biết nó đến từ đâu. Vì vậy, nếu là một lính mới và thấy tôi đứng trước của một cửa sổ ở thành phố Fallujah, anh sẽ nói gì? Anh có bảo tôi phải nhấc mông lên, hay sẽ đứng im ở đó và để cho tôi bị bắn? Khi tôi hỏi những lính mới câu hỏi đó, họ nói: “Tôi sẽ nói cho ngài biết để ngài di chuyển. Vì vậy, tôi nói với họ: “Đúng, đó là chính xác là cách anh nên ứng phó đối với từng quyết định nhỏ ở đây, lúc nào cũng vậy.”
Cooper bắt đầu phát triển các công cụ. Ông nói: “Có những điều anh có thể làm.” Dành thời gian ra ngoài cùng nhau, việc này rất có tác dụng. Một trong những cách tốt nhất tôi đã tìm ra nhằm cải thiện sự gắn kết của một nhóm là giao cho họ các bài huấn luyện cực kỳ khó khăn. Chúng ta có thể khiến một đội xích lại gần nhau khi họ cùng lơ lửng trên một vách đá, cùng bị ướt, lạnh và khổ sở.”
Một trong những công cụ hữu ích nhất là các buổi đánh giá hậu kỳ hành động – các phiên AAR nói lên sự thật mà chúng ta đã nhắc đến trong Chương 7. Các buổi AAR diễn ra ngay lập tức sau mỗi nhiệm vụ. Nó bao gồm một cuộc họp ngắn trong đó đội tập hợp lại thảo luận và đưa ra các quyết định quan trọng một lần nữa. AAR do chính các binh sĩ điều hành chứ không phải người chỉ huy. Không có lịch trình hay biên bản cuộc họp lưu trữ. Mục tiêu của AAR là tạo ra một môi trường minh bạch, nơi không có thứ hạng, ở đó mọi người có thể xác định những gì thực sự đã xảy ra và nói về các sai lầm – đặc biệt là sai lầm riêng của họ.
“Đó phải là nơi an toàn để lên tiếng,” Cooper nói. “Khi tắt đi chế độ cấp bậc, sự khiêm nhường được khởi động. Bạn tìm kiếm các thời điểm mọi người có thể thừa nhận: “Tôi đã làm hỏng nó.” Trong thực tế, tôi muốn nói rằng đó có lẽ là ba từ quan trọng nhất một người lãnh đạo có thể nói ra: “Tôi đã làm hỏng nó.”
Các buổi AAR tốt thường tuân theo một khuôn mẫu. “Anh phải làm điều đó ngay lập tức,” Cooper nói. “Các anh đặt súng xuống, ngồi lại thành vòng tròn và bắt đầu nói chuyện. Thường thì anh rà lại nhiệm vụ từ đầu đến cuối, theo trình tự thời gian. Anh nói về từng quyết định và cả quá trình. Anh phải chống lại sự cám dỗ tô vẽ cho nhiệm vụ và cố gắng khai thác được sự thật về điều đã xảy ra để mọi người thực sự có thể học hỏi từ đó. Anh phải đặt ra câu hỏi tại sao, và sau khi họ trả lời, anh lại hỏi tại sao. Tại sao anh bắn vào đúng điểm đó? Anh đã thấy gì? Làm sao anh biết? Các phương án khác lúc đó là gì? Anh liên tục hỏi, hỏi và hỏi.”
Mục tiêu của một buổi AAR không phải là nhằm khai quật sự thật vì bản thân sự thật đó, hay để ghi nhận hoặc đổ lỗi, mà là để xây dựng một mô hình chia sẻ tinh thần có thể áp dụng cho các nhiệm vụ trong tương lai. “Hãy nhìn xem, không ai có thể nhìn thấy tất cả hoặc biết tất cả,” Cooper nói. “Nhưng nếu các bạn tiếp tục ở bên nhau và đào sâu xem những gì đã xảy ra, thì sau một thời gian tất cả mọi người có thể thực sự biết mọi việc đang diễn ra chứ không chỉ riêng phần nhỏ của mình. Mọi người có thể chia sẻ kinh nghiệm và sai lầm. Họ có thể thấy cách những điều họ làm ảnh hưởng đến người khác, và chúng ta có thể bắt đầu tạo ra tâm trí chung của cả đội, nơi mọi người đều có thể làm việc cùng nhau và phát huy tốt nhất tiềm năng của đội.”
Cooper sử dụng cụm từ “xương sống của sự khiêm nhường” để mô tả sắc màu của một buổi AAR tốt. Đó là một cụm từ hữu ích vì nó nắm bắt bản chất nghịch lý của nhiệm vụ: một sự sẵn sàng không ngừng nghỉ nhìn vào sự thật và nhận trách nhiệm. Với một buổi AAR, cũng như với buổi huấn luyện thể lực cùng cây gỗ hoặc một vở hài kịch Harold, các thành viên trong đội phải kết hợp kỷ luật với sự cởi mở. Và cũng như buổi huấn luyện thể lực cùng cây gỗ hay hài kịch Harold, chúng không hề dễ dàng nhưng đều mang lại kết quả xứng đáng.
Sau phát giác của mình trên đường đến quận Bagram, Cooper đã trải qua một thập kỷ tiếp theo cùng với các đội hàng đầu, chủ yếu ở khu vực Trung Đông. Ông dần leo lên chức Chỉ huy trưởng – cấp bậc quân nhân cao nhất của Biệt đội SEAL số 6, phụ trách việc huấn luyện cho toàn bộ biệt đội. Vào tháng 3 năm 2011, đô đốc William McRaven, chỉ huy Bộ chỉ huy tác chiến đặc biệt triệu tập Cooper và một người lãnh đạo khác của Biệt đội SEAL số 6 đến trụ sở của CIA tại thành phố McLean, bang Virginia.
McRaven đi thẳng vào vấn đề: “Chúng tôi cho rằng đã tìm thấy Osama bin Laden.” Sau đó ông vạch ra kế hoạch. Các nhà điều hành Biệt đội SEAL số 6 sẽ bay đến Pakistan bằng trực thăng tàng hình, đu dây thừng xuống mái khu tổ hợp và ám sát người lãnh đạo Al Qaeda. Cooper lắng nghe và hướng sự chú ý vào một yếu tố: trực thăng tàng hình. Ông biết chúng hấp dẫn McRaven vì khả năng vô hình trước radar và do đó cho phép đội di chuyển qua không phận của Pakistan mà không bị phát hiện. Nhưng Cooper cũng biết chúng chưa được thử nghiệm trong chiến đấu, và lịch sử tác chiến đặc biệt cũng nhiều lần ghi lại các thảm họa do việc sử dụng những công cụ chưa được kiểm tra trong chiến đấu gây nên. Vì vậy, ông đã lên tiếng.
“Thưa ngài, tôi không dám vô lễ,” Cooper nói, “nhưng tôi không muốn sử dụng máy bay trực thăng tàng hình trong nhiệm vụ này. Đồng thời, tôi sẽ lên kế hoạch sử dụng công cụ khác thay vào đó. Nếu không thể đi bằng phương tiện khác thì chúng tôi mới dùng đến trực thăng tàng hình.”
“Bây giờ chúng ta sẽ không thay đổi kế hoạch nữa,” McRaven nói. Cooper quyết định tiếp tục tiến tới. Ông muốn cố gắng hết sức.
“Thưa ngài, nếu không nói cho ngài biết những gì tôi nghĩ thì tôi quá nhu nhược.”
McRaven cao giọng nói: “Bây giờ chúng ta không thay đổi kế hoạch nữa”.
“Vào thời điểm đó, tôi đã khá chắc rằng mình sẽ bị đuổi việc,” Cooper nói với tôi sau này. “Nhưng tôi đã không thể ngậm miệng lại”. Ông tiếp tục tiến tới.
Một lần nữa McRaven buộc ông im lặng. Cuộc thảo luận đã kết thúc.
Cooper bước ra khỏi căn phòng và đối mặt với một vấn đề: Làm cách nào để tuân theo một mệnh lệnh mà mình cho rằng chứa đựng rủi ro quá lớn? Về bản chất, ông lại ở vào chính tình thế ông từng rơi vào trước đây trên đường đến quận Bagram vào đêm giao thừa năm 2001. Ông nên tuân theo hay chống lại mệnh lệnh?
Cooper đã chọn con đường thứ ba. Ông chấp thuận phương án sử dụng các máy bay trực thăng tàng hình và cũng bắt đầu chuẩn bị cho trường hợp nếu chúng thất bại. Trong những tuần lễ tiếp theo, các đội SEAL xây dựng mô phỏng khu nhà khép kín của Bin Laden ở Bắc Carolina, Nevada và Afghanistan. Ở mỗi nơi, Cooper chạy các kịch bản trực thăng bị rơi xuống. Ông mô phỏng các tai nạn cả bên ngoài và bên trong khu nhà, trên mái nhà, trong sân hay cách đó vài trăm mét. Về cơ bản chúng đều giống nhau: Giữa chừng nhiệm vụ, Cooper sẽ bất ngờ ra lệnh cho đội: “Các anh đi xuống, ngay bây giờ.” Các phi công sẽ xoay đầu hạ cánh máy bay trực thăng xuống đất, và đội quân sau đó sẽ tấn công các khu nhà mô phỏng từ bất cứ địa điểm nào họ được đưa đến. “Không có bất kỳ câu trả lời đúng hay sai nào; họ phải tự tổ chức và đối phó với vấn đề này,” Cooper nói. “Sau đó, chúng tôi tổ chức một buổi AAR, nói về chuyện đó, xác định những gì đã diễn ra, những điều chúng tôi có thể làm tốt hơn trong lần tới.”
Các cuộc diễn tập máy bay trực thăng bị bắn rơi không hề dễ dàng. Chúng đòi hỏi sự tập trung, hợp tác và ứng biến cấp độ cao. Trong những buổi AAR sau mội cuộc diễn tập, các thành viên của đội liên tục rà soát những bước sai lầm, nhận lỗi và trao đổi cách có thể làm tốt hơn. “Chúng tôi chạy quá nhiều cuộc diễn tập đến nỗi nó đã trở thành một trò đùa giữa các binh lính,” Cooper nói. “Họ nói với tôi: ‘Này Coop, chúng ta chạy một kịch bản máy bay trực thăng rơi nữa được không?’”
Ngày 1 tháng 5, Nhà Trắng phát đi lệnh khởi động. Hai chiếc trực thăng tàng hình đã cất cánh từ căn cứ không quân Mỹ ở thành phố Jalalabad. Tại Trung tâm chỉ huy cơ sở, Cooper, McRaven và các chỉ huy khác tập trung xung quanh màn hình để xem những đoạn phim do máy bay không người lái ghi lại. Bên trong Nhà Trắng, tổng thống Barack Obama cùng đội ngũ an ninh quốc gia cũng nhập cuộc và cùng theo dõi hình ảnh truyền về.
Nhiệm vụ bắt đầu khá suôn sẻ. Họ bay qua không phận Pakistan mà không bị phát hiện và tiếp cận khu nhà của Bin Laden. Nhưng khi chiếc trực thăng đầu tiên cố gắng tiếp đất, mọi thứ đã trật hướng. Một máy bay trực thăng trượt đi trên không như thể đang ở trên băng, rồi nó đổi hướng và quay tít về phía mặt đất. Các máy bay trực thăng khác lẽ ra sẽ hạ cánh trên mái khu nhà, khi nhìn thấy sự cố đã đổi hướng hạ cánh ra phía bên ngoài. (Lời giải thích xuất hiện sau này là do những bức tường cao của các khu nhà đã làm gián đoạn chuyến bay. Các cuộc tổng dượt đều được thực hiện tại những khu nhà mô phỏng có hàng rào bằng lưới mắt cáo, không phải những bức tường vững chắc.) Sau đó, mọi thứ trở nên tồi tệ hơn. Phi công đầu tiên không giữ được cao độ đã đâm sầm xuống sân. Chiếc trực thăng nằm nghiêng một bên với phần mũi vùi trong bụi bẩn mềm và phần đuôi kẹt lại trên tường. Tại chốt chỉ huy, các vị tướng nhìn chăm chăm vào màn hình không nói nên lời. Trong ba hay bốn giây đồng hồ, căn phòng chứa đầy một sự im lặng không thể chịu nổi.
Rồi họ thấy mọi thứ: Các nhà điều hành Biệt đội SEAL số 6 ào ra khỏi chiếc máy bay bị rơi và bắt tay vào làm việc giống như khi diễn tập. Họ di chuyển và bắt đầu giải quyết vấn đề – trận bóng rổ tự phát một cách tốt nhất. “Họ đã không để lỡ một nhịp nào,” Cooper nói. “Một khi đội đã xuống được mặt đất thì không còn gì phải nghi ngại nữa.” 38 phút sau, nhiệm vụ kết thúc. Cả hành tinh có dịp đánh giá cao kỹ năng và lòng dũng cảm của biệt đội. Nhưng trong tất cả các lễ kỷ niệm, người ta dễ bỏ lỡ những nhân tố tạo nên nền tảng cho thời điểm chiến thắng này. Đó là các kỹ năng sâu sắc hơn – chuỗi huấn luyện và đánh giá hậu kỳ hành động AAR.
Từ xa, cuộc đột kích Bin Laden trông giống như một cuộc trình diễn của sức mạnh, quyền lực và kiểm soát của đội ngũ. Nhưng sức mạnh đó được xây dựng từ sự sẵn sàng chỉ điểm, đối đầu với sự thật và cùng nhau hỏi đi hỏi lại một câu đơn giản: Điều gì thực sự đang xảy ra ở đây? Cooper và đội của mình đã không phải quay trở lại thêm nhiều lần để tập dượt các kịch bản máy bay trực thăng bị bắn hạ. Nhưng họ đã thành công vì họ hiểu rằng cùng bị tổn thương với nhau là cách duy nhất khiến một nhóm có thể trở nên bất khả xâm phạm.
“Khi nói về lòng dũng cảm, chúng ta thường nghĩ đến việc dùng súng máy đối đầu với kẻ thù,” Cooper nói. “Can đảm thực sự là nhìn thấy sự thật và nói với nhau sự thật. Con người không bao giờ muốn ở vào vị trí cần lên tiếng: ‘Đợi đã, điều gì đang thực sự xảy ra ở đây?’ Nhưng bên trong hạm đội, đó chính là văn hóa của chúng tôi, cũng như lý do tại sao chúng tôi thành công.”