Khám Phá Sức Mạnh Văn Hóa Đội Nhóm

Lượt đọc: 223 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
3. Thỏa Thuận Đình Chiến Mùa Giáng Sinh Thử Nghiệm Một Giờ Và Các Thành Viên Đội Tên Lửa

❊ ❊ ❊

THỎA THUẬN ĐÌNH CHIẾN MÙA GIÁNG SINH

Điểm lại những chiến trường khó khăn và nguy hiểm nhất trong lịch sử, không thể không nhắc đến chiến hào vùng Flanders vào mùa đông năm 1914. Các học giả quân sự cho biết điều này xuất phát từ thực tế Thế chiến I đã đánh dấu điểm giao thoa lịch sử của vũ khí hiện đại và chiến lược thời Trung cổ. Nguyên nhân thật sự chủ yếu nằm ở lớp bùn đất nơi chiến hào. Các chiến hào vùng Flanders nằm dưới mực nước biển, được đào từ lớp đất sét nhờn. Chúng bị ngập úng đến nỗi có thể biến thành các con kênh chỉ sau một cơn mưa bão. Các binh sĩ sống lạnh lẽo và khổ sở ở một nơi lý tưởng cho chuột, bọ chét, bệnh tật và đủ loại dịch hạch phát triển.

Tuy nhiên, phần tồi tệ nhất là khoảng cách gần sát với quân thù. Ở một vài nơi, hai bên đối địch chỉ cách nhau vài chục mét, có chỗ còn ít hơn nhiều. (Tại một điểm gần làng Vimy Ridge, hai đài quan sát chỉ đứng cách nhau có bảy mét.) Lựu đạn và pháo binh là những mối đe dọa thường trực; một que diêm phát sáng bất cẩn cũng là lời mời gọi cho các tay bắn tỉa. Thủ tướng tương lai Harold Macmillian, khi đó là trung úy thuộc quân đoàn Grenadier Guards đã viết: “Có thể tìm kiếm cả ki-lô-mét mà không thấy bóng dáng con người. Thế nhưng chỉ trong phạm vi nhỏ hẹp ở các nơi trú ẩn này... dường như có hàng nghìn, thậm chí hàng trăm nghìn con người lên kế hoạch đối đầu triền miên với nhau cùng vài thiết bị tử thần mới. Không hề lộ diện, họ phóng đạn, pháo, bom và ngư lôi trên không về phía đối địch.”

Nằm sâu dưới bùn là tầng tầng lớp lớp căm thù mang tính lịch sử giữa nước Đức và Quân Đồng Minh. Báo chí Anh và Pháp đã tốn không ít giấy mực kể lại các câu chuyện hoang đường về những người Đức man rợ đã nung chảy các nạn nhân vô tội thành xà phòng. Về phần mình, các học sinh ở Đức được học thuộc lòng “Hymn of Hate” (Bài ca hận thù) của Ernst Lissauer với những dòng thơ không kém phần tinh tế:

Chúng ta sẽ hận thù mãi mãi,

Sẽ không bao giờ buông bỏ mối căm hờn ấy,

Thù hận từ trên đất liền đến dưới mặt nước,

Của trí óc và bàn tay,

Của búa và vương miện,

Của 70 triệu con người đang nuốt hận,

Chúng ta cùng yêu như một, căm thù như một,

Ta mãi mãi chỉ có một kẻ thù duy nhất – NƯỚC ANH!

Cuộc chiến bắt đầu vào tháng tám. Nhiều tuần và tháng trôi qua, cả hai phe đều đã giết và bị giết một cách hệ thống. Xác người nằm rải rác bên trong hàng rào thép gai nơi các khu đất không một bóng người. Khi Giáng sinh đến, các chiến khu ở xa lên tiếng đòi tạm thời đình chiến. Tại Rome, Giáo hoàng Benedict ra mặt kêu gọi một kỳ nghỉ lễ hòa bình; tại thủ đô Washington, DC., Thượng viện ra nghị quyết đề xuất thực hiện 20 ngày ngừng bắn. Các nhà lãnh đạo quân sự của cả hai bên lập tức coi ý tưởng này là bất khả thi và ra thông báo quân đội cần đề phòng các cuộc tấn công bất ngờ vào Giáng sinh. Mọi binh lính được cảnh báo sẽ bị đưa ra trước tòa án quân sự nếu cố gắng tạo ra bất cứ thỏa thuận ngừng bắn bất hợp pháp nào.

Sau đó, có một việc đã xảy ra vào đêm Giáng sinh. Khó mà xác định được thời điểm bắt đầu, nhưng đó có vẻ là những sự việc tự phát. Chúng xảy ra độc lập tại một số nơi dọc theo tuyến đầu. Bắt đầu là một vài bài hát, có lúc là câu ca mừng Giáng sinh, có khi lại là những khúc quân hành. Ở hầu hết các nơi, hai bên hát đối đáp qua lại một lúc, vỗ tay tán thưởng hay chế giễu màn trình diễn của nhau.

Điều xảy ra sau đó thậm chí còn kỳ lạ hơn: Các binh sĩ bắt đầu leo ra khỏi chiến hào của họ và thân thiện tiếp cận nhau. Ở một thị trấn có tên gọi La Chapelle d’Armentières, các binh sĩ Anh nghe thấy một vài câu tiếng Anh giọng Đức: “Tôi là một trung úy! Các quý ông, cuộc sống của tôi nằm trong tay các bạn, tôi đang ra tiến ra khỏi hào về phía các bạn. Có ai trong các bạn muốn nhượng bộ đến gặp tôi không?”

Tay súng trường Percy Jones đã kết luận đó là một cuộc tấn công bất ngờ. Như sau này ông đã viết:

Chúng tôi bắt đầu đánh bóng đạn dược và súng trường, tất cả chuẩn bị sẵn sàng để có thể nhanh chóng hành động. Thực ra, chúng tôi đang định tắt bớt những vòng đèn sáng nhất thì nghe thấy giọng nói (có lẽ qua loa): “Người Anh, Người Anh. Đừng bắn. Bạn không bắn, chúng tôi không bắn.” Tiếp theo là lời gợi nhắc về Giáng sinh. Tình hình đều ổn thỏa, tuy nhiên chúng tôi từng được nghe quá nhiều về tính phản bội của người Đức nên vẫn chú ý theo sát mọi chuyện.

Tôi không biết mọi việc đã diễn ra theo cách nào, nhưng ngay sau đó các binh sĩ bên tôi liền thắp đèn lên. Các đội quân thù địch ríu rít hát bài hát của nhau, tô điểm thêm bằng những tràng vỗ tay cực lớn. Khung cảnh nhìn từ vọng gác của tôi thật khó tin. Thẳng về phía trước là ba đèn lớn khiến cảnh vật xung quanh rõ như ban ngày. Hàng trăm đèn nhỏ chiếu sáng các chiến hào của quân Đức. Phía xa bên trái, nơi phòng tuyến của chúng tôi uốn cong, một vài đèn chiếu sáng chiến hào Đội A nơi mọi người đang gào toáng lên bài “My Little Grey Home in the West” (Ngôi nhà nhỏ phía tây của tôi).

Cuối cùng... những người Saxons nổ những tràng pháo tay giòn giã và ràng thêm vài giai điệu của Đức. Họ cũng đã hát một trong các quốc ca của mình theo giai điệu bài “God Save the King” (Chúa cứu rỗi Đức Vua). Chúng tôi liền đáp lại bằng một bài thánh ca của Áo, khiến một tràng pháo tay khủng khiếp vang lên.

Quay trở lại bộ chỉ huy cao cấp Anh, ngài thống chế John French nhận được các báo cáo khó hiểu rằng những người lính Đức không có vũ trang đã “chạy từ các chiến hào của quân Đức sang bên ta, giơ cao những cây thông Giáng sinh”. Thống chế French ngay lập tức ra lệnh “ngăn chặn bất kỳ sự tái diễn nào của những hành vi tương tự, đồng thời buộc các chỉ huy cấp địa phương phải chịu kỷ luật nặng nề”. Mệnh lệnh của ngài thống chế không có tác dụng. Các cuộc đình chiến vẫn tiếp diễn. Các binh sĩ dường cũng không biết tại sao vụ việc này xảy ra rõ hơn ngài John French là bao. Họ chứng kiến và tham gia các cuộc đình chiến mà vẫn cảm thấy hoàn toàn không lý giải được sự việc. Các binh sĩ ghi nhật ký chiến trường của cả hai bên đều đề cập đến tính siêu thực của sự kiện này, nhiều người miêu tả lại cứ như thể đó là một giấc mơ.

Trong nhiều năm, các nhà sử học đều giả định rằng câu chuyện đình chiến mùa Giáng sinh đã được phóng đại, một tình huống hiếm hoi do báo chí ngờ nghệch thổi phồng lên. Chỉ sau khi đào sâu hơn, họ mới nhận ra sự thật ngược lại.

Cuộc ngừng bắn thật ra có quy mô lớn hơn rất nhiều so với những gì được báo cáo, có liên quan đến hàng chục nghìn binh lính dọc theo hai phần ba hàng tuyến của quân Anh. Tương tác diễn ra giữa hai phe bao gồm các hoạt động ăn uống, nấu nướng, ca hát, chơi bóng đá, trao đổi ảnh, đổi chác, kể cả việc chôn cất những người lính đã hy sinh.[1] Trong biên niên sử còn ghi lại một vài trường hợp bạo lực đã xoay chuyển nhanh chóng và biến đổi hoàn toàn thành tình cảm gia đình nồng ấm. Câu hỏi sâu xa cần đặt ra là sự việc đã xảy ra như thế nào.

Cách lý giải truyền thống về sự kiện ngừng bắn mùa Giáng sinh là nhìn chúng dưới góc độ một câu chuyện xảy ra vào mùa lễ hội. Việc cả hai bên cùng coi trọng ý nghĩa của mùa Giáng sinh – mùa sum họp gia đình đã đánh thức những tính cách tốt đẹp trong bản chất con người. Cách suy nghĩ này khá thú vị nhưng không thực sự giải thích được những gì đã xảy ra. Trong lịch sử, có rất nhiều chiến trường khác nơi những phe thù địch cũng có chung các ngày lễ tinh thần, nhưng giữa họ đã không xảy ra sự kiện nào chạm đến được mức kết nối này.

Tuy nhiên, bức tranh sẽ thay đổi nếu nhìn dưới lăng kính của tín hiệu gắn bó thuộc về tập thể. Những tường thuật chi tiết nhất có thể tìm thấy trong tác phẩm Trench Warfare 1914–1918(Chiến hào năm 1914 – 1918) của tác giả Tony AshWorth. Trong suốt 288 trang sách, Ashworth gần như chiếu lại đoạn phim quay chậm các yếu tố dẫn đến sự kiện ngừng bắn mùa Giáng sinh. Có thể thấy mọi việc không bắt đầu vào đúng Giáng sinh mà từ trước đó một tuần. Thời điểm đó phát sinh một loạt tương tác ổn định tạo ra các mối liên kết an toàn, bản sắc và tin tưởng. Ashworth so sánh sự xuất hiện của sự kiện ngừng bắn Giáng sinh với “sự hiện diện đột ngột của toàn bộ tảng băng trôi. Sự kiện khiến chiến tranh trở nên hữu hình trước mắt tất cả, kể cả những người không phải chiến binh, những người mà trong mắt họ phần lớn cuộc chiến còn ẩn sâu dưới mặt nước”.

Ashworth chi tiết hóa vị trí tiếp sát của hai bên. Cùng với bạo lực, sự gần gũi cũng mang lại mối liên kết thông qua mùi thơm của các món ăn, âm thanh tiếng nói, giọng cười và các bài hát. Binh lính cả hai bên nhận thức được họ đang sống cùng một nhịp điệu mỗi ngày với vòng quay của những bữa ăn, các lần tiếp tế và đổi gác. Cả hai bên đều phải chịu đựng tổ hợp của sự tê cóng và nỗi sợ nguyên thủy tạo nên cuộc sống quân ngũ. Cả hai bên đều ghét sự lạnh lẽo và ẩm ướt; họ đều mong được về nhà. Như Ashworth nhấn mạnh: “Quá trình các đối thủ trở nên đồng cảm với nhau được tạo điều kiện bởi sự gần gũi của họ nơi chiến hào. Hơn thế nữa, chúng được củng cố khi các giả định từ hành động tương đồng của mỗi bên đều được những sự kiện tiếp theo xác nhận.” Vả lại, bằng cách tìm hiểu “vị hàng xóm” phía bên kia chiến hào, mỗi bên nhận ra kẻ thù cũng phải chịu đựng những căng thẳng tương tự, phản ứng theo cùng một cách, do đó họ cũng không khác mình là bao.”

Các đợt ngừng chiến nhỏ bắt đầu vào đầu tháng mười một. Người Anh và người Đức có thói quen giao khẩu phần ăn đến các chiến hào vào những thời điểm gần với nhau. Họ ngừng bắn trong khi ăn. Ngày tiếp theo, sự việc tương tự lại tiếp diễn vào đúng thời gian đó. Ngày hôm sau và hôm sau nữa cũng như vậy. Từ các bữa ăn, việc ngừng bắn tạm thời lây lan sang các hành vi khác. Khi trời mưa to khiến việc di chuyển trở nên khó khăn, cả hai bên đều ngừng chiến đấu. Vào những đêm lạnh giá ở một vài khu vực, hai bên đội quân đều mạo hiểm thu gom rơm khô làm giường. Cả hai đều cần giữ lửa để có thể làm nhiệm vụ trong hòa bình. Số địa điểm ngầm thỏa thuận ngừng bắn dần tăng lên, bao gồm khu vực tiếp tế (ngoài đường biên), nhà vệ sinh (cũng tương tự) và khi thu dọn thương vong sau một trận chiến.

Những tương tác đó có vẻ bình thường, nhưng trên thực tế, mỗi tương tác có liên quan đến một sự trao đổi cảm xúc rõ ràng không thể nhầm lẫn. Một bên dừng bắn để tiếp cận bên kia. Phe kia biết việc này nhưng không có động thái gì cả. Mỗi khi như vậy, cả hai đều cảm nhận được sự giúp đỡ và nảy sinh lòng biết ơn đối với mối liên kết an toàn được tạo ra – họ nhìn thấy ta.

Sự kết nối ngày một tăng lên. Ở vài nơi, một số khu vực được quy ước là “ngoài phạm vi” bắn tỉa và đánh dấu bằng những lá cờ trắng. Một đơn vị pháo binh Anh đã kể về “tay bắn tỉa thân thiết” của họ bên quân Đức, người vội vàng gửi đi “những nụ hôn chúc ngủ ngon” của mình mỗi đêm lúc 9 giờ 15 phút tối và ngừng bắn đến sáng ngày hôm sau. Ở khu khác, khi một tay súng máy người Anh bắn súng theo nhịp bài hát nổi tiếng “Policeman’s Holiday” (Kỳ nghỉ của anh cảnh sát), đối tác phía Đức liền đáp lại bằng loạt súng mô phỏng đoạn điệp khúc.

Các chiến hào đã trở thành nơi nuôi dưỡng những tín hiệu gắn bó giống như nuôi cấy các vi sinh vật. Mỗi tín hiệu riêng lẻ không tạo ra tác động đáng kể nào. Thế nhưng cùng với nhau, lặp lại ngày này qua tháng khác, chúng tạo thành điều kiện nền tảng cho các mối liên kết sâu xa hơn.

Từ lời thuật lại của các binh sĩ, có thể thấy các mối liên kết ngày càng được tăng cường. Một buổi sáng sau trận bạo động vào cuối tháng mười một, Edward Hulse, một đại úy trong quân đoàn Scots Guards II đã viết về một khoảnh khắc đồng cảm ngẫu hứng.

Buổi sáng sau cuộc tấn công, gần như đã có một sự đồng thuận ngầm về việc ngừng bắn. Vào khoảng 6 giờ 15 phút sáng, tôi thấy bóng tám hoặc chín người Đức xuất hiện, sau đó ba trong số họ bò vài mét ra trước tường lũy của mình, bắt đầu kéo đi vài người đồng đội của chúng tôi, đều đã chết hoặc bất tỉnh...

Tôi truyền đi mệnh lệnh không được bắn cho các binh sĩ của mình. Điều này dường như đã được thực hiện ở tất cả mọi cấp. Tôi đã làm theo ý muốn từ con người bên trong mình, và đã không hề khai hỏa.

Sự việc đó dường như đã ảnh hưởng đến Hulse. Vài tuần sau, từ một vị trí đóng quân phía sau trận tuyến, ông ấp ủ một kế hoạch. Ông viết:

Chúng tôi trở lại từ ngày mai, và sẽ có mặt ở các chiến hào đúng ngày Giáng sinh. Dù có phải là người Đức hay không… chúng tôi sẽ làm một trận ra trò, có cả bánh pudding mận cho toàn bộ tiểu đoàn. Tôi chọn ra một nhóm nho nhỏ. Bằng giọng nói oang oang của mình, tôi lãnh đạo cả nhóm chiếm đóng một vị trí trong chiến hào bên mình. Đây là nơi có khoảng cách gần nhất với bên đối địch, chỉ cách khoảng 70 mét. Từ 10 giờ tối, chúng tôi sẽ ca đủ loại bài trong hòa bình cùng với quân đối địch, từ những bài thánh ca cho đến dân ca vùng Tipperary. Các đồng đội của tôi rất thích thú với ý tưởng này và sẽ tạo ra một chút ồn ã hiếm hoi khi đến đó. Mục tiêu của chúng tôi là nhấn chìm các giai điệu Đức giờ đây đã trở nên quá quen thuộc như “Deutschland über Alles” (Nước Đức là trên hết) hay “Wacht am Rhein” (Xem trên sông Rhine), những bài chúng tôi nghe thấy mỗi buổi tối từ chiến hào phía bên kia.

Phía Đức đã hưởng ứng bằng những bài hát của mình. Vài bài nghe na ná nhau, còn các bài hát Latinh thì giống hệt nhau. Từ góc độ tâm lý, họ chuyển tải một ý nghĩa cả hai bên đều thấu hiểu, đó là niềm tin và bản sắc lớn lao.

Hulse bước ra và gặp đối tác của mình, một vị thiếu tá người Đức. Phía Đức đã giúp chôn cất những binh sĩ người Anh hy sinh. Vị chỉ huy người Đức trao lại cho Hulse một huy chương cùng vài lá thư thuộc về một đại úy người Anh đã chết và rơi vào chiến hào của Đức một tuần trước đó. Vượt qua nỗi xúc động, Hulse tháo chiếc khăn lụa của mình và trao nó cho vị chỉ huy người Đức. “Mọi việc thật đáng kinh ngạc,” ông kể lại sau đó, “nếu tôi nhìn thấy cảnh này trên một bộ phim điện ảnh, tôi sẽ thề sống chết rằng đó là một màn lừa dối.”

Các đó vài dặm, gần vùng Ploegsteert Wood, Hạ sĩ John Ferguson nhìn xuống chiến hào của mình, cố tìm hiểu xem việc gì đang xảy ra. Sau này ông đã viết:

Chúng tôi nói toáng lên với nhau cho đến khi Old Fritz, một sĩ quan Đức trèo ra ngoài hào. Tôi cùng với với ba người khác trong đội đã đi ra ngoài gặp anh ta. Ông ta kêu to: “Hãy đi theo hướng có ánh đèn”. Khi đến gần hơn, chúng tôi thấy ông ta đang nháy chiếc đèn flash trong tay mình đề chỉ đường cho chúng tôi.

Chúng tôi bắt tay, chúc nhau một mùa Giáng sinh an lành và nhanh chóng trò chuyện như thể đã biết nhau cả năm trời. Chúng tôi ở ngay trước hàng rào dây thép gai của quân Đức, xung quanh là những người lính Đức. Fritz và tôi đứng nói ở chính giữa vòng tròn, thỉnh thoảng Fritz dịch lại lời tôi đã nói cho mọi người cùng nghe. Chúng tôi đứng đó giống như những nhà hùng biện nơi góc phố.

Khi không diễn tả được bằng lời, họ chuyển sang sử dụng dấu hiệu cử chỉ, và dường như tất cả mọi người đều hòa nhập tốt với nhau. Tại đây chúng tôi đã cùng cười và trò chuyện với những người mà chỉ một vài giờ trước đó cả đội còn cố giết họ!

Cũng giống như nhiều người khác, Hulse và Ferguson đã thực sự ngạc nhiên. Nhưng chuyện này thực ra không đáng kinh ngạc đến vậy. Trước khi phe Anh và Đức cùng gặp nhau ở chiến trường ấy, họ đã có những cuộc trò chuyện trong suốt một thời gian dài. Những loạt tín hiệu gắn kết hai bên gửi đi đã thắp sáng hạch hạnh nhân của họ bằng một thông điệp đơn giản:Chúng ta giống nhau. Chúng ta an toàn. Nếu các anh nhượng bộ thì chúng tôi cũng thế. Và họ đã làm đúng như vậy.[8]

CUỘC THỬ NGHIỆM KÉO DÀI MỘT GIỜ

Nếu cần tìm ra một môi trường trái ngược với chiến hào vùng Flanders, bạn có thể chọn Trung tâm dịch vụ khách hàng qua điện thoại WIPRO ở thành phố Bangalore, Ấn Độ. WIPRO là điển hình thành công của một Trung tâm dịch vụ khách hàng qua điện thoại. Họ có bộ máy tổ chức khoa học và hiệu suất cao. Một ngày ở đây diễn ra những công việc tương tự như bên trong các trung tâm dịch vụ khách hàng qua điện thoại trên toàn thế giới: Khách hàng gọi đến thông báo các vấn đề về một thiết bị hoặc một dịch vụ, và nhân viên của WIPRO cố gắng xử lý chúng. WIPRO (đọc là “WHIP-Row”) là một nơi làm việc tốt trên mọi phương diện. Nơi đây có mức lương cạnh tranh và điều kiện làm việc chất lượng cao. Công ty đối đãi tốt, cung cấp thực phẩm, phương tiện đi lại và tổ chức các hoạt động xã hội cho nhân viên. Tuy nhiên, vào cuối những năm 2000, WIPRO nhận thấy công ty đang phải đối diện một vấn đề dai dẳng: Tỷ lệ nhân viên nghỉ việc tăng cao, lên đến 50-70% mỗi năm. Lý do nghỉ việc của các nhân viên hoàn toàn bình thường – do họ còn trẻ hoặc muốn nhận một công việc khác, hay có khi chính họ cũng không rõ tại sao. Về cơ bản, các nhân viên đều không có mối liên kết mạnh mẽ nào với đội ngũ của mình.

Ban đầu, các lãnh đạo của WIPRO cố gắng cải thiện tình hình bằng cách gia tăng đãi ngộ. Công ty tăng lương, bổ sung các quyền lợi cho nhân viên và quảng bá giải thưởng WIPRO nhận được là một trong những nơi làm việc hàng đầu Ấn Độ. Những động thái này đều hợp lý – nhưng không đem lại hiệu quả. Các nhân viên vẫn nghỉ việc với tỷ lệ y như trước đó. Vì vậy, vào mùa thu năm 2010, với sự giúp đỡ của các nhà nghiên cứu Bradley Staats, Francesco Gino và Daniel Cable, họ quyết định bắt tay vào một thử nghiệm nhỏ.

Cuộc thử nghiệm diễn ra như sau: Vài trăm nhân viên mới được chia thành hai nhóm, cộng với nhóm đối chiếu thông thường. Nhóm thứ nhất được đào tạo chương trình tiêu chuẩn, bổ sung một số giờ chủ yếu nói về bản sắc của WIPRO. Các học viên này đã được nghe về những thành công chung của công ty. Họ cũng được gặp một nhân viên xuất sắc và trả lời câu hỏi về những ấn tượng đầu tiên của họ ở WIPRO. Vào cuối giờ, họ nhận được một chiếc áo nỉ có thêu tên của công ty trên đó.

Nhóm thứ hai cũng được đào tạo theo chương trình tiêu chuẩn, cộng thêm một giờ bổ sung. Giờ đào tạo bổ sung này không tập trung vào công ty mà về chính các nhân viên đó. Những học viên được hỏi những câu hỏi như: Điều gì riêng có ở bạn sẽ khiến bạn có được khoảng thời gian hạnh phúc và làm việc hiệu quả nhất ở công ty? Nói ngắn gọn, họ được yêu cầu tưởng tượng bản thân bị lạc lối trên biển và phải cân nhắc xem mình cần có những kỹ năng đặc biệt nào khi đó. Vào cuối giờ, họ nhận được một chiếc áo nỉ có thêu tên mình cùng với tên của công ty trên đó.

Bradley Staats không mong đợi nhiều vào thử nghiệm này. Nhân viên nghỉ việc nhiều là một thông lệ ở các Trung tâm dịch vụ khách hàng qua điện thoại, và tỷ lệ này ở WIPRO vẫn luôn ở mức trung bình của ngành. Bên cạnh đó, Staats không nghiêng về việc kỳ vọng sự can thiệp trong một giờ có thể mang lại tác động lâu dài. Staats là một cựu kỹ sư đã trải qua vị trí chuyên viên phân tích ở ngân hàng Goldman Sachs trong những năm đầu tiên trên con đường sự nghiệp, không phải kiểu người học thuật hàn lâm trên trời. Ông hiểu mọi việc diễn ra như thế nào trong thế giới thực.

“Tôi đã khá chắc chắn rằng hiệu quả của thử nghiệm này, dù có đi chăng nữa, cũng rất nhỏ,” Staats nói. “Tôi đã thấy quy trình tiếp nhận nhân viên với các điều khoản hợp lý, quy định quyền và nghĩa vụ tương ứng, đầy đủ thông tin. Vào ngày đầu tiên khi bạn đến tiếp nhận công việc, đã có sẵn một quy trình đơn giản, rõ ràng để bạn biết cách hành động và cư xử trong công ty.”

Như Staats nhấn mạnh, kết quả thống kê sau bảy tháng đã khiến ông “hoàn toàn bị sốc”. Các học viên thuộc nhóm thứ hai có tỷ lệ tiếp tục làm việc tại WIPRO cao hơn 250% so với nhóm thứ nhất và 157% so với nhóm đối chứng. Giờ đào tạo bổ sung đã chuyển đổi mối quan hệ của nhóm thứ hai với công ty. Họ đã chuyển từ trạng thái không gắn kết sang gắn bó với công ty ở mức độ sâu xa hơn. Vậy điều gì đã khiến họ thay đổi?

Các tín hiệu gắn bó chính là câu trả lời. Những học viên trong nhóm thứ nhất đã không nhận được tín hiệu nào có thể làm giảm đi khoảng cách giữa mọi người trong nhóm cũng như của họ với WIPRO. Họ đã nhận được rất nhiều thông tin về WIPRO và các nhân viên suất sắc, cùng với một chiếc áo đồng phục xinh đẹp, nhưng không có gì thay đổi được khoảng cách căn bản ấy.

Trái lại, những học viên thuộc nhóm thứ hai lại nhận được dòng chảy ổn định các tín hiệu gắn bó đã được cá nhân hóa, hướng về tương lai và kích hoạt hạch hạnh nhân. Đó đều là những tín hiệu nho nhỏ như một câu hỏi riêng tư về thời gian làm việc hiệu quả nhất, một bài tập tiết lộ các kỹ năng cá nhân hay chiếc áo nỉ có thêu tên chính họ. Những tín hiệu này không tốn nhiều thời gian nhưng đã mang đến một sự khác biệt rất lớn vì chúng tạo ra nền tảng của sự an toàn tâm lý xây dựng nên mối liên kết và bản sắc.

“Cách suy nghĩ trước đây của tôi về vấn đề này không còn đúng nữa,” Staats nói. “Hóa ra có một loạt các hiệu ứng diễn ra khi chúng ta vui vì được là một phần của tập thể, khi ta góp phần tạo nên một đội ngũ đúng đắn để được là chính mình hơn. Mọi điều có ích đã diễn ra từ những tương tác đầu tiên như thế.”

Tôi đã trò chuyện với Dilip Kumar, một trong những học viên đầu tiên của WIPRO tham gia cuộc thử nghiệm. Tôi đã nghĩ anh ta sẽ chia sẻ những kỷ niệm sống động về buổi đào tạo, nhưng thực tế không phải vậy. Nói chuyện với Kumar về buổi đào tạo định hướng rất giống với khi nói chuyện cùng Jeff Dean về việc sửa lỗi các công cụ AdWords: Cảm giác gắn bó quá mạnh mẽ đến nỗi về cơ bản anh ấy quên mất là cuộc thử nghiệm từng xảy ra. Kuma chia sẻ: “Nói thật là tôi không nhớ rõ ngày hôm đó cho lắm. Tôi chỉ nhớ rằng mình đã cảm thấy rất được động viên”. Anh cười. “Tôi đoán buổi đào tạo ấy đã đem lại hiệu quả, bởi vì tôi vẫn còn làm việc ở đây, và tôi thực sự yêu thích công việc này.”

PHÍA ĐỐI LẬP CỦA TÍNH GẮN BÓ

Trong khi dành thời gian với các đội ngũ có nền văn hóa thành công rất có lợi, việc đi đến tận cùng của mặt đối lập để tìm hiểu các nền văn hóa thất bại cũng không kém phần hữu ích. Bài học quý giá nhất có thể rút ra từ những nhóm liên tục thất bại khi tìm kiếm sự hoàn hảo. Tại đây chúng tôi tìm thấy câu chuyện về các sĩ quan điều khiển tên lửa hạt nhân ở công ty Minuteman – những người được gọi với cái tên Minuteman missileer – Đội quân tên lửa Minuteman.

Đội quân Minuteman bao gồm khoảng 750 người giữ các vị trí sĩ quan điều khiển tên lửa hạt nhân.

Họ đóng quân tại những căn cứ không quân từ xa ở các bang Wyoming, Montana và North Dakota. Tất cả đều được đào tạo chuyên sâu để kiểm soát những vũ khí vào loại mạnh nhất trên trái đất, đó là 450 tên lửa Minuteman III. Các tên lửa cao khoảng 18 mét, nặng 36 tấn và có thể di chuyển với vận tốc 24.000 kmgiờ đến bất kỳ vị trí nào trên toàn cầu chỉ trong vòng 30 phút. Mỗi tên lửa này có sức nổ gấp 20 lần quả bom dội xuống Hiroshima.

Đội quân tên lửa là một phần của đội ngũ do Tướng Curtis LeMay xây dựng vào cuối những năm 1940. Họ là những nhân vật quan trọng có nhiệm vụ khiến cho lực lượng hạt nhân của Mỹ trở thành một cỗ máy hoạt động hoàn hảo. “Mỗi người là một khớp hoặc ống nối; mỗi tổ chức là một thành phần của bóng bán dẫn và pin ngưng tụ,” LeMay đã viết. “Tất cả đều được cọ xát, không ăn mòn. Nhanh nhạy.” LeMay được tạp chí Life gọi là “Vị tướng khó nhằn nhất của thế giới phương Tây” với sự tự tin không biên giới của mình. Có lần ông bước lên một chiếc máy bay ném bom cùng với điếu xì gà đang hút dở. Khi một thành viên của phi hành đoàn cảnh báo ông rằng máy bay ném bom có thể phát nổ, LeMay đã trả lời: “Nó sẽ không dám đâu.”

Hệ thống của LeMay đã vận hành vừa đủ tốt trong nhiều thập kỷ. Tuy nhiên trong những năm gần đây, số lượng thất bại bắt đầu tăng dần:

• Tháng 8 năm 2007: Phi đội tại căn cứ không quân ở thành phố Minot đã mang nhầm sáu tên lửa hành trình có đầu đạn hạt nhân lên một chiếc máy bay ném bom B-52, bay đến căn cứ không quân Barksdale ở bang Louisiana và để mặc chúng trên đường băng trong vài giờ.

• Tháng 12 năm 2007: Các đội phóng tên lửa của Minot thất bại trong kỳ kiểm tra tiếp theo. Các thanh tra ghi chú rằng vào thời điểm kiểm tra, một số nhân viên an ninh của Minot đang chơi trò chơi điện tử trên điện thoại di động.

• Năm 2008: Báo cáo của Lầu Năm Góc ghi nhận “một sự suy giảm đáng kể và không thể chấp nhận” trong cam kết với sứ mệnh hạt nhân của không quân. Một nhân viên của Lầu Năm Góc cho biết: “Mọi việc làm tôi sợ dựng cả tóc gáy.”

• Năm 2009: tên lửa đẩy nặng 30 tấn rơi xuống một mương gần thành phố Minot khi chiếc xe tải rơ-mooc chở chúng bị mất lái trên đường.

• Năm 2012: Một nghiên cứu do liên bang tài trợ cho thấy tỷ lệ kiệt sức, thất vọng, khó chịu và bạo hành gia đình rất cao ở đội quân tên lửa. Nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ phải hầu tòa quân sự của những người thuộc đội quân tên lửa cao gấp đôi so với các đội khác thuộc không quân. Một thành viên đội quân tên lửa nói với các nhà nghiên cứu: “Chúng tôi không quan tâm mọi việc có đúng hay không. Chúng tôi chỉ không muốn vướng vào các rắc rối.”

• Năm 2013: Các sĩ quan tên lửa tại căn cứ không quân Minot đã nhận được mức xếp loại “Yếu” – tương đương với hạng D do có đến ba trong số 11 đội được đánh giá “không đủ tiêu chuẩn”. 19 sĩ quan không được tiếp tục thực hiện nhiệm vụ phóng tên lửa và bị buộc phải thực hiện lại các bài kiểm tra chuyên môn. Trung tướng James Kowalski, chỉ huy các lực lượng hạt nhân nói rằng đối với nước Mỹ, mối đe dọa hạt nhân lớn nhất “là một tai nạn. Nguy cơ lớn nhất đối với lực lượng của tôi là họ gây ra sự cố ngu ngốc nào đó.”

• Năm 2014: Đội bảo trì Minuteman gây ra một tai nạn liên quan đến một tên lửa vũ trang hạt nhân trong hầm chứa đồ của họ.

Mỗi lần xảy ra thất bại, các chỉ huy liền ứng phó bằng cách đưa ra những quyết định kỷ luật. Như tướng Kowalski nhấn mạnh: “Đây không phải là vấn đề về đào tạo.” Cốt lõi là ở đó một số người có vấn đề với tính kỷ luật. Sau chuỗi sự cố vào mùa xuân năm 2013, Trung tá Jay Folds đã viết cho phi hành đoàn chiến đấu tại Minot rằng họ đã “thất bại… và đã đến lúc chúng ta cần đứng lên.” Ông mô tả “sự thối rữa trong lực lượng phi hành đoàn” và sự cần thiết phải “nghiền nát bất cứ ai phá luật”. Fold viết: “Chúng ta cần nhấn nút tái khởi động và cơ cấu lại các lực lượng phi hành đoàn để đưa mọi người ra khỏi vùng an toàn của họ (là những vùng thoải mái có hại) và xây dựng lại từ nền tảng trở đi. Hãy tắt tivi và làm việc chăm chỉ dựa vào chuyên môn của mình... Tốt hơn là các bạn phải đạt đến phong độ cao nhất của mình mỗi ngày. Bạn cần ngay lập tức sẵn sàng cho mọi kỳ đánh giá, bài kiểm tra, những lần thanh tra trực tiếp hay bất kỳ yêu cầu về chứng chỉ nào. Môi trường hàn lâm trước đây đã trở thành quá khứ. (Không còn tồn tại một nơi dễ dàng trao cho các bạn mọi thứ vì chúng tôi nghĩ rằng các bạn sẽ cũng săn sóc cho phi hành đoàn như vậy). Tôi sẽ để mắt ngay lập tức đến bất kỳ nhân viên nào chỉ trích cấp trên hay nền văn hóa mới chúng ta đang tái tạo. Tôi đảm bảo những người đó sẽ phải chịu hậu quả!”

Nhìn từ xa, có vẻ đó là phương án ấn tượng, cứng rắn và lôi cuốn tất cả mọi người. Vấn đề là không một giải pháp nào trong số đó đem lại hiệu quả. Những sai lầm vẫn tiếp tục xảy ra. Một vài tháng sau tuyên bố của Trung tá Folds, thiếu tướng Michael Carey, người chịu trách nhiệm giám sát các tên lửa đạn đạo của quốc gia đã bị sa thải vì hành vi sai trái trong một chuyến đi chính thức đến thủ đô Matxcơva.[2] Ngay sau đó, một cuộc điều tra tại căn cứ không quân Malmstrom chỉ ra hai nhân viên đội quân tên lửa dính líu đến tội danh tàng trữ, sử dụng, phân phối bất hợp pháp cocaine, thuốc lắc và ma túy “muối tắm”. Khi các thanh tra kiểm tra điện thoại di động của những sĩ quan bị cáo buộc, họ phát hiện ra một hệ thống được xây dựng để phục vụ việc gian lận các bài kiểm tra chuyên môn. Nó dẫn đến một cuộc điều tra khác đã kết luận được 34 liên can thuộc đội quân tên lửa Malmstrom và 60 người khác biết về gian lận mà không báo cáo.

Tại thủ đô Matxcơva, Carey đã uống say mèm và cố gắng đập tay với một hướng dẫn viên du lịch người Nga trong một tour đi thăm các tu viện. Ông ta liên tục ngắt lời những người chủ trì trong lễ mừng công để cướp diễn đàn. Ông ta lục tung công ty tìm kiếm hai người ông ta gọi là “hai cô nàng nóng bỏng” và đi cùng họ đến một quán bar có tên gọi La Cantina. Theo báo cáo, ông ta liên tục yêu cầu ban nhạc cho mình lên sân khấu để cùng hát và chơi guitar. Báo cáo ghi chú: “Ban nhạc đã không cho phép thiếu tướng Carey chơi cùng họ”. (TG)

Mọi người đều đồng ý rằng văn hóa của đội quân tên lửa đã bị phá vỡ. Câu hỏi đặt ra là nguyên nhân của sự đổ vỡ là do đâu. Nếu cho rằng văn hóa là một dạng đặc điểm mở rộng – giống như DNA của một nhóm – bạn sẽ có xu hướng nhìn thấy tính cách của các thành viên đội quân tên lửa là lười biếng, ích kỷ và thiếu tư cách. Điều này dẫn đến một loạt phương án khắc phục hà khắc mà các nhà lãnh đạo không quân đã thử dùng. Sự thất bại của các phương án này chỉ khiến bạn xác nhận lại giả định ban đầu: Các thành viên đội quân tên lửa đều lười biếng, non trẻ và ích kỷ.

Tuy nhiên, mọi việc sẽ thay đổi nếu chúng ta dùng lăng kính của tín hiệu gắn bó để xem xét văn hóa của đội quân tên lửa. Các tín hiệu gắn bó không tác động lên tính cách hay kỷ luật mà xây dựng một môi trường nhằm trả lời những câu hỏi cơ bản: Chúng ta có kết nối với nhau không? Chúng ta có chung một tương lai hay không? Chúng ta có an toàn không? Hãy xem xét từng câu hỏi.

Chúng ta có kết nối với nhau không? Khó mà tìm thấy một nơi có ít liên kết vật lý, xã hội và tinh thần hơn môi trường làm việc của đội tên lửa. Họ ghép cặp và làm việc theo các ca trực kéo dài 24 giờ bên trong các hầm tên lửa lạnh lẽo, chật chội với công nghệ khoa học từ thời Tổng thống Eisenhower. “Những thứ này đã tồn tại trong vòng 40 năm,” một sĩ quan tên lửa nói với tôi. “Chúng có được lau chùi nhưng không thực sự sạch sẽ. Các đường nước thải bị ăn mòn. Chất amiăng ở khắp nơi. Mọi người ghét phải ở đó.”

Chúng ta có chung một tương lai không? Khi các hầm chứa tên lửa được xây dựng, đội quân tên lửa từng là một thành phần quan trọng giống như người anh em phi công của lực lượng quốc phòng Mỹ. Họ hoàn toàn có khả năng trực tiếp nhận lệnh phóng tên lửa từ Tổng thống. Làm việc ở đội tên lửa được coi như bước đệm để thăng cấp lên các vị trí chỉ huy không gian, chỉ huy chiến đấu trên không và những lĩnh vực khác. Nhưng sự kết thúc của chiến tranh Lạnh đã thay đổi tương lai của thành viên các đội tên lửa. Họ đang được đào tạo để phục vụ cho một nhiệm vụ không còn tồn tại nữa. Không ngạc nhiên, con đường sự nghiệp sau khi rời đội tên lửa đã suy giảm hoặc biến mất hoàn toàn.

“Đó là điềm gở được báo trước,” Bruce Blair, một cựu sĩ quan tên lửa, hiện là một học giả nghiên cứu của Chương trình khoa học và an ninh toàn cầu tại Đại học Princeton nói. “Không ai muốn ở lại đội quân tên lửa. Ở đây không có cơ hội thăng tiến. Bạn không thể lên đến cấp tướng từ vị trí thành viên đội tên lửa. Thêm vào đó, Bộ tư lệnh đã chấm dứt chương trình đào tạo chéo để chuyển nhân sự đội hạt nhân sang các bộ phận khác, do đó truyền đi thông điệp là mọi người đang mắc kẹt lại trên hoang đảo của những đồ chơi đã lỗi thời này.”

“Trong một vài tháng đầu công việc khá thú vị,” một cựu sĩ quan tên lửa nói với tôi. “Nhưng ánh sáng ấy nhanh chóng lụi tắt. Bạn làm đi làm lại một công việc. Bạn nhận ra chúng không thay đổi và sẽ không bao giờ thay đổi.”

Liệu chúng ta có an toàn không? Nguy cơ lớn nhất trong thế giới của các sĩ quan đội quân tên lửa không phải là các tên lửa mà là những rào cản không ngừng về chuyên môn, bằng cấp và những vụ thử nghiệm hạt nhân. Tất cả đều đòi hỏi gần như hoàn hảo và chỉ một sai lầm có thể nhấn chìm sự nghiệp của họ. Các bài kiểm tra này thường yêu cầu người thực hiện phải nhớ cả tập tài liệu dày tới 13 cen-ti-mét với hai mặt giấy in kín các đoạn mã khởi động tên lửa. Các sĩ quan tên lửa phải đạt điểm 100% ở một số phần cấu phần bắt buộc, nếu không họ sẽ trượt bài kiểm tra.

“Các danh mục bị kiểm tra dài và chi tiết đến mức phi lý. Chúng cứng nhắc và nghiêm ngặt một cách kỳ lạ. Về cơ bản đó là điều vô nhân đạo,” Blair nói. “Bạn chỉ có thể là người hoàn hảo hoặc đồ bỏ đi. Kết quả là khi bạn không còn nằm trong tâm điểm của chính quyền và phải chuyển đến một trung tâm điều khiển khởi động tên lửa ngầm từ xa với một người khác, bạn đã đóng lại một cánh cửa chống nổ nặng tám tấn phía sau lưng mình. Mọi tiêu chuẩn bị thả trôi, và bạn bắt đầu đi các lối tắt.”

Như một sĩ quan tên lửa đã nói với tôi: “Mỗi sai lệch đều được xem như thể vi phạm lệnh bắn của Tổng thống. Bạn gây nên một lỗi nghiêm trọng ư? Bạn đã tiêu đời. Bạn là tên cặn bã. Họ không tính đến việc bạn đang phải thực hiện một nhiệm vụ quá đặc thù. Hoặc là bạn làm đúng, hoặc bạn phải nhận sự trừng phạt. Thừa nhận một sai lầm hay tìm kiếm sự giúp đỡ đồng nghĩa với việc bạn đang hủy hoại danh tiếng của mình. Tất cả đi loanh quanh dè chừng như những chú chó con sợ sệt. Cứ như vậy, bạn bị cuốn vào vòng lặp các sự kiện có liên quan đến nhau. Khi có việc gì tệ hại xảy ra, tất cả đều la hét, nhiều bước đánh giá hơn được thiết lập sau đó. Ai cũng mất tinh thần, mệt mỏi hơn, khiến bạn lại càng gây thêm nhiều lỗi khác.”

Tất cả dồn nén lại thành một cơn bão được tạo nên một cách hoàn hảo từ những tín hiệu chống lại sự gắn bó. Ở đó không có kết nối, cũng không có tương lai hay sự an toàn. Nếu nhìn theo cách này, văn hóa tổ chức của đội quân tên lửa không do sự thiếu kỷ luật và tư cách trong nội bộ gây ra. Đó là hệ quả của việc tùy biến tạo nên một môi trường nhằm triệt tiêu sự gắn kết. Thật vậy, các cựu sĩ quan kích hoạt tên lửa mà tôi đã có cơ hội cùng trò chuyện đều thông minh, có tài hùng biện và chu đáo. Dường như họ có thể có được cuộc sống thành công và viên mãn nếu rời khỏi nền văn hóa đổ vỡ của đội quân tên lửa. Sự khác biệt không nằm ở tư cách của họ mà do nền văn hóa thiếu an toàn và gắn bó gây nên.

Sẽ rất hữu ích khi đặt lên bàn cân so sánh nền văn hóa rối loạn chức năng của các sĩ quan tên lửa với những đồng đội hải quân của họ, những nhóm làm việc trong các tàu ngầm hạt nhân. Thoạt nhìn, hai nhóm có vẻ tương đồng với nhau: Phần lớn thời gian họ đều bị cô lập với phần còn lại của xã hội, cả hai cùng có nhiệm vụ ghi nhớ, thực hiện các giao thức tẻ nhạt và phục vụ sứ mệnh răn đe sử dụng hạt nhân trong chiến tranh Lạnh đã chấm dứt.

Điểm khác biệt là mật độ của các tín hiệu gắn bó trong môi trường tương ứng của từng đội. Các thủy thủ trong đội tàu ngầm có sự gần gũi về mặt vật lý và được cùng tham gia những hoạt động có mục đích (các cuộc tuần tra toàn cầu bao gồm cả những nhiệm vụ ngoài mục đích răn đe). Đây còn là một nấc thang trên con đường sự nghiệp có thể dẫn họ đến các vị trí cao nhất trong Hải quân. Có lẽ do đó, cho đến nay các hạm đội tàu ngầm hạt nhân đã tránh được hầu hết những loại vấn đề từng gây tổn hại cho đội tên lửa. Trong nhiều trường hợp, họ đã phát triển được các nền văn hóa có hiệu suất rất cao.

Đến đây chúng ta đã khám phá ra quá trình tạo nên gắn bó thuộc về tập thể. Bây giờ là lúc chuyển sang câu hỏi thực tế hơn về việc áp dụng quá trình này trong thế giới thực như thế nào. Chúng ta sẽ làm điều này bằng cách đến thăm hai người lãnh đạo đã tạo dựng nên sự gắn bó trong đội ngũ của họ bằng các phương pháp khác biệt nhưng cùng đem đến hiệu quả như nhau. Trước tiên, một vị huấn luyện viên bóng rổ sẽ cho chúng ta cái nhìn thấu đáo về những kỹ năng xây dựng nên các mối quan hệ. Tiếp theo, một tỷ phú độc đáo trong ngành bán lẻ sẽ giải thích cách ông tạo ra sự gắn bó thuộc về tập thể ở một cấp độ cao hơn thông qua các hệ thống và thiết kế.

❀ ❀ ❀

[1] . Một trong những quân nhân không đánh giá cao sự kiện ngừng bắn là Hạ sĩ người Đức Adolf Hitler, binh sĩ dự bị ở mặt trận vùng Flanders. “Ta không được làm như vậy trong thời chiến,” ông được cho là đã nói với đồng đội của mình – những người tham gia sự kiện ngừng chiến. “Anh không còn tí danh dự người Đức nào hay sao?” (TG)

[2] . Đoạn cuối câu chuyện này ít gây cảm hứng hơn nhưng vẫn có những giá trị thông tin hữu ích. Khi biết tin, tướng lĩnh của cả hai phe đã chấm dứt cuộc ngừng bắn tương đối dễ dàng. Các đội quân đột kích và cứu viện được ra lệnh chấm dứt mối hòa hảo, phá hủy nhanh chóng nền tảng những mối gắn bó đã tích lũy trong thời gian trước đó. Mùa Giáng sinh sau, cả hai phe tiếp tục chiến đấu như bình thường. (TG)

Thu Huyền dịch
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.