PHƯƠNG PHÁP NYQUIST
Quay trở lại giai đoạn đầu của thế kỷ trước, ngay trước sự xuất hiện của Thung lũng Silicon, trung tâm sáng chế và đổi mới quan trọng bậc nhất thế giới nằm ở một dãy các tòa nhà rộng lớn không có gì đặc biệt ở ngoại ô bang New Jersey. Nó được gọi là Phòng thí nghiệm Bell. Vào năm 1925, tòa nhà ban đầu được thành lập nhằm giúp xây dựng một mạng lưới truyền thông quốc gia. Phòng thí nghiệm Bell đã phát triển về mặt khoa học đến trình độ tương đương với thành phố Florence trong thời kỳ phục hưng: cội nguồn của thiên tài nhóm tồn tại đến những năm 1970. Phòng thí nghiệm Bell do học giả xuất sắc Claude Shannon dẫn dắt, người thích vừa tung hứng vừa cưỡi chiếc xe đạp một bánh của mình qua các phòng hội trường. Phòng thí nghiệm Bell cùng nhóm những nhà khoa học đã phát minh và phát triển vật liệu bán dẫn, mạng dữ liệu, pin mặt trời, tia laser, vệ tinh truyền thông, điện toán nhị phân và thông tin di động, nói gắn gọn là hầu hết các công cụ chúng ta sử dụng trong đời sống hiện đại.
Khoảng giữa thế hệ vàng này, một số quản trị viên Phòng thí nghiệm Bell đã ngày càng trở nên tò mò về những lý do mang đến sự thành công đáng chú ý của họ. Họ tự hỏi những nhà khoa học nào ở Bell đã đạt được nhiều bằng phát minh sáng chế nhất, và liệu giữa họ có bất cứ điểm chung nào hay không. Họ bắt đầu bằng cách kiểm tra thư viện bằng sáng chế của Bell, nơi lưu giữ các bằng sáng chế trong cặp tài liệu xếp theo thứ tự ABC – tên của các nhà khoa học.
“Hầu hết các cặp tài liệu có kích thước tương tự nhau,” Bill Keefauver, một luật sư làm việc trong văn phòng bằng sáng chế nhớ lại. “Nhưng một số cặp tài liệu nổi bật hẳn lên vì quá dày – dày hơn rất nhiều so với mọi người khác. Đó là nhóm người siêu sáng tạo, các nhà khoa học đã nộp những lượt cả chục bằng sáng chế. Có khoảng mười người như vậy.”
Các quản trị viên nghiên cứu mười nhà khoa học, săn tìm điểm chung giữa họ. Liệu các bộ não siêu sáng tạo có chung một đặc điểm nào không? Cùng nền tảng học vấn? Cùng nền tảng gia đình tương đương? Sau khi cân nhắc và loại đi hàng chục ràng buộc có thể, họ phát hiện ra một kết nối không hề liên quan đến việc các tài năng xuất chúng này là ai. Nó có liên quan đến một thói quen chung: Họ thường xuyên ăn trưa trong cửa hàng tự phục vụ của Phòng thí nghiệm Bell cùng một kỹ sư người Thụy Điển trầm lặng có tên Harry Nyquist.
Không hề nói quá, kết quả này là một sự bất ngờ. Không phải vì Nyquist là người không có tên tuổi. Ông được biết đến là người tiên phong trong các tiến bộ quan trọng về điện ảnh và khuếch đại phản hồi. Nhưng ở một nơi nổi tiếng với các nhà lãnh đạo năng động và lập dị, Nyquist là một hình ảnh đối lập: một tín đồ Giáo Hội Tin Lành Luther ôn hòa, luôn nhẹ nhàng mỉm cười, được biết đến chủ yếu vì tính cách tin cậy trầm lặng của mình. Lớn lên từ một trang trại ở Thụy Điển, ông đã tiếp cận công việc của mình bằng các kỷ luật của thế giới cũ. Mỗi buổi sáng, ông thức dậy đúng 6 giờ 45 phút, đến văn phòng vào đúng 7 giờ 30 phút, và luôn có mặt ở nhà để ăn tối cùng gia đình vào lúc 6 giờ 15 phút. Ông có một thói quen kỳ lạ là thỉnh thoảng bắt phà về nhà thay vì đi tàu điện ngầm. (Ông rất thích không khí trong lành.) Ông quá bình thường đến nỗi gần như vô hình. Nói cách khác, người quan trọng nhất ở một trong những nơi sáng tạo nhất trong lịch sử hóa ra là người hầu như tất cả sẽ bỏ qua. Đó là lý do tại sao chúng ta cần xem xét các kỹ năng của Nyquist kỹ hơn một chút.
Theo lời mọi người, Nyquist sở hữu hai phẩm chất quan trọng. Đầu tiên là sự ấm áp. Ông có sở trường làm cho mọi người cảm thấy được quan tâm; tất cả các mô tả đương đại đều vẽ lên hình ảnh ông như một “người cha”. Phẩm chất thứ hai là sự tò mò không ngừng nghỉ. Ở một nơi cấu thành từ nhiều lĩnh vực khoa học đa dạng, ông kết hợp bề rộng và chiều sâu kiến thức với mong muốn tìm kiếm các kết nối. “Nyquist luôn tràn đầy các ý tưởng và câu hỏi,” kỹ sư Chapin Cutler ở Phòng thí nghiệm Bell nhớ lại. “Ông đã thu hút mọi người, khiến họ suy nghĩ.”
“Nyquist rất giỏi thực hiện loại hành động thực sự được khuyến khích ở Bell trong thời gian đó,” Keefauver nói. “Mọi người đến từ đủ ngành, thuộc đủ loại dự án nói về dự án của họ với một người đang làm một công việc hoàn toàn khác để mang đến ánh sáng mới cho mọi việc. Những người như Harry Nyquist có thể nắm bắt điều ai đó đang thực hiện, đưa ra vài ý tưởng mới cho họ và hỏi: “Sao anh không thử cách đó xem?”
Khi tôi đến thăm các đội nhóm để viết cuốn sách này, tôi đã gặp nhiều người sở hữu tính cách ấm áp và tò mò – thực sự trong thực tế có rất nhiều người như vậy khiến tôi bắt đầu nghĩ về họ như Nyquists. Họ lịch sự, kín đáo và biết lắng nghe. Họ tỏa ra không khí an toàn và khích lệ. Họ sở hữu kiến thức sâu rộng trong nhiều ngành và có sở trường đặt ra các câu hỏi châm ngòi cho động lực và ý tưởng. (Cách tốt nhất để tìm ra nhân vật Nyquist trong nhóm là hỏi mọi người: Nếu tôi muốn hiểu cách vận hành nền văn hóa của các bạn bằng cách gặp một người, người đó sẽ là ai?) Nếu chúng ta nghĩ về các nền văn hóa thành công như những động cơ của sự hợp tác ở con người, thì nhân vật Nyquist là các bu-gi đánh lửa.
Trong những người tôi đã gặp, Roshi Givechi là nhân vật thể hiện tốt nhất quá trình này.
Roshi Givechi làm việc tại văn phòng New York của công ty IDEO – hãng tư vấn thiết kế quốc tế có trụ sở tại thành phố Palo Alto, bang California. Vị thế của IDEO trong thế giới hiện đại gần giống với Phòng thí nghiệm Bell. Trong nhiều thiết kế của họ, có thể kể đến bản gốc chuột máy tính của Apple, bút insulin cho bệnh nhân tiểu đường và các ống kem đánh răng có chiều đứng. Họ đã giành được nhiều giải thưởng thiết kế hơn bất kỳ công ty nào khác trong lịch sử. Tập đoàn bao gồm 600 người chia thành các nhóm nhỏ có nhiệm vụ đối mặt với đủ loại thách thức, từ xây dựng kế hoạch ứng phó thiên tai toàn cầu cho đến thiết kế chiếc túi xách cầm tay có thể sạc điện thoại thông minh và tất cả những việc khác.
Công việc chính thức của Givechi là một nhà thiết kế. Nhiệm vụ không chính thống của cô là đóng vai chất xúc tác lưu động, tham gia một số dự án, giúp các đội điều hướng quá trình thiết kế. “Khi các đội bị mắc kẹt, hoặc nếu có một yếu tố gây khó khăn, Roshi giống như phép màu,” ông Duane Bray, một đối tác của IDEO nói. “Cô ấy có kỹ năng cực kỳ tốt trong việc mở khóa các đội ngũ, đặt câu hỏi kết nối mọi người và mở ra các khả năng. Sự thật là, chúng tôi không hoàn toàn hiểu rõ cách cô ấy làm việc này. Chúng tôi chỉ biết rằng nó hoạt động thực sự tốt.”
Givechi là một người phụ nữ nhỏ bé trạc tuổi 40, mặc chân váy có những chiếc túi lớn. Cô có mái tóc xoăn tối màu, đôi mắt sẫm tinh anh với nụ cười có những vết nhăn ở đuôi mắt. Khi đón tôi, cô không cố gắng tỏ ra quyến rũ – không đùa cợt, không kéo dài các mẩu trò chuyện nhỏ. Cô ấy không phản chiếu bất cứ loại năng lượng kịch tính nào bạn thường gặp ở những người làm công việc sáng tạo. Thay vào đó, cô tỏa ra một sự tĩnh lặng mãn nguyện, như thể đã gặp bạn nhiều lần trước đó.
“Về mặt xã hội, tôi không phải kiểu người hay nói nhất,” Givechi nói. “Tôi yêu thích các câu chuyện, nhưng không phải kiểu người đứng kể chuyện giữa căn phòng. Tôi là người đứng bên cạnh lắng nghe và đặt câu hỏi. Thường là những câu hỏi có vẻ hiển nhiên, đơn giản hoặc không cần thiết. Nhưng tôi yêu thích việc hỏi họ, vì tôi đang cố gắng hiểu những gì đang thực sự xảy ra.”
Tương tác giữa Givechy với các nhóm của cô diễn ra phần lớn trong các chuyến bay của IDEO. Đó là những cuộc họp có mặt toàn bộ nhóm, thường xuyên diễn ra ở các thời điểm đầu, giữa và kết thúc của mỗi dự án. (Hãy nghĩ về chúng như phiên bản tại IDEO của cuộc họp BrainTrust hoặc buổi đánh giá hậu kỳ AAR.) Givechy tiếp cận mỗi chuyến bay từ bên ngoài vào. Cô tự nghiên cứu, chủ yếu là thông qua các cuộc hội thoại, để tìm hiểu những vấn đề cả nhóm đang chật vật đối mặt, cả từ quan điểm thiết kế (các rào cản là gì?) và quan điểm động lực của nhóm (ở đâu có xung đột?). Rồi với cảnh quan đó trong tâm trí, cô tập hợp các nhóm và đặt ra những câu hỏi được thiết kế để khai quật những tình huống căng thẳng, giúp các nhóm hiểu rõ về dự án và bản thân mình. Cô gọi tên quá trình này là lộ diện.[20]
“Tôi thích từ kết nối,” Givechi nói. “Đối với tôi, mỗi cuộc trò chuyện là như nhau, bởi vì nó liên quan đến việc giúp mọi người tiến xa với một ý thức lớn hơn về nhận thức, hứng thú và động lực tạo ra ảnh hưởng. Bởi vì các cá nhân thực sự khác nhau. Vì vậy, bạn phải tìm ra những cách khác nhau khiến mọi người thoải mái và gắn kết, làm cho họ chia sẻ điều họ đang thực sự suy nghĩ. Nó không liên quan đến tính quyết đoán mà là sự phát hiện. Đối với tôi, điều cần làm là đặt ra đúng câu hỏi theo cách đúng đắn.”[1]
Khi nói chuyện với các đồng nghiệp của Givechi, họ chỉ ra một nghịch lý: Cô ấy vừa mềm mại lại cứng rắn, đồng cảm nhưng cũng cố chấp. “Roshi có tính cương trực ngầm,” Lawrence Abrahamson, một giám đốc thiết kế của công ty IDEO nói. “Cô ấy không trình bày lịch trình buổi họp, nhưng tất nhiên có một lịch trình được khéo léo dẫn dắt sau đó. Và một trong những công cụ lớn nhất trong hộp dụng cụ của cô là thời gian.” Cô sẽ dành ra rất nhiều thời gian, kiên nhẫn tiếp tục trò chuyện và đảm bảo các cuộc đàm thoại tiến triển theo hướng tốt. “Luôn có một khoảnh khắc với Roshi,” Peter Antonelli, một giám đốc thiết kế nói. “Cô ấy có tinh thần khiêu khích mọi người liên tục tham gia cuộc chơi, nhằm thúc đẩy và giúp chúng tôi suy nghĩ vượt khỏi những gì ngay trước mắt mình.” Và mọi thứ thường bắt đầu với việc đặt câu hỏi về những điều to lớn, rõ ràng. Cuộc trò chuyện không bao giờ mang tính đối đầu – cô ấy không bao giờ nói: “Anh đang làm sai rồi”. Những điều căn bản đó được cài vào cuộc trò chuyện.
Quan sát Givechi lắng nghe giống như việc xem một vận động viên lành nghề luyện tập. Cô lắng nghe chủ yếu bằng mắt, với sự nhạy cảm giống như máy đo khúc xạ đối với những thay đổi trong tâm trạng và biểu hiện. Cô phát hiện ra những thay đổi nhỏ và đáp ứng lại nhanh chóng. Nếu bạn thể hiện một chút căng thẳng về một chủ đề nào đó, cô ấy sẽ lưu ý và theo sát bằng một câu hỏi được thiết kế để nhẹ nhàng khám phá lý do đằng sau sự căng thẳng đó. Khi nói chuyện, cô ấy liên tục kết nối với bạn bằng các cụm từ nhỏ – Có lẽ bạn từng trải qua việc như thế này rồi... Công việc của bạn có thể tương tự... Lý do tôi đã tạm dừng ở đó là vì... – cung cấp tín hiệu kết nối ổn định. Bạn nhận thấy chính mình thoải mái, cởi mở, chấp nhận rủi ro và nói ra sự thật.
Điều này có vẻ giống ma thuật, nhưng trên thực tế đó là kết quả của rất nhiều sự thực hành. Khi còn là một cô bé, Givechi đã sử dụng một máy ghi âm băng cassette thu đi thu lại nhiều lần giọng đọc quyển sách yêu thích của chính mình. Cách những thay đổi nhỏ trong giọng đọc và thời điểm có thể chuyển đổi ý nghĩa câu chuyện khiến cô bị mê hoặc. Khi còn là một sinh viên ngành tâm lý học và thiết kế, cô tình nguyện giúp đỡ những người mù và đã viết luận văn đại học về khiêu vũ và biên đạo. Cô sử dụng ý tưởng khiêu vũ để mô tả những kỹ năng cô sử dụng với các đội thiết kế của công ty IDEO: để tìm ra âm nhạc, hỗ trợ bạn nhảy và bước theo nhịp điệu. “Tôi không tự cho mình là nhạc trưởng,” cô nói. “Tôi giống với người nuôi dưỡng âm nhạc hơn. Tôi khuyến khích vũ đạo và cố gắng tạo nên các điều kiện để những điều tốt đẹp diễn ra.”
Một năm trước công ty IDEO quyết định mở rộng khả năng của Givechi trong toàn bộ tổ chức. Họ yêu cầu cô tạo ra các mô-đun câu hỏi để các nhóm có thể tự hỏi chính họ, sau đó cung cấp những môđun này cho bộ phận thiết kế làm công cụ giúp họ cải thiện. Ví dụ, dưới đây là một vài câu hỏi:
• Một điều khiến tôi hào hứng về cơ hội đặc biệt này là _____
• Tôi thừa nhận, một trong những điều khiến tôi không mấy vui với cơ hội đặc biệt này là ____
• Ở dự án này, tôi thực sự muốn trở nên tốt hơn về phương diện ____
Điều thú vị ở các câu hỏi của Givechi là chúng cực kỳ đơn giản. Chúng nhắm đến việc kết nối với những cảm xúc sâu sắc như sợ hãi, tham vọng, động lực hơn là sự sắp đặt. Có thể dễ dàng hình dung nếu rơi vào tay người khác, những câu hỏi này có thể trở nên nhàm chán và không khơi mào được cho các cuộc hội thoại. Điều này là do sức mạnh thực sự của tương tác nằm trong tín hiệu cảm xúc hai chiều tạo ra một bầu không khí kết nối bao quanh cuộc trò chuyện.
“Từ tinh tế chính là chìa khóa,” Abrahamson nói. “Cô ấy khiêm nhường và gỡ bỏ sự phòng vệ của mọi người vì cô ấy cực kỳ cởi mở, lắng nghe và quan tâm. Roshi có khả năng dừng toàn bộ, chấm dứt những gì đang tiếp diễn trong đầu mình để tập trung hoàn toàn vào người đối diện và câu hỏi đang có, cũng như để xem câu hỏi ấy đang dẫn đến đâu. Cô ấy không bao giờ cố kéo bạn theo một hướng nào đó. Cô ấy thật sự nhìn bạn từ vị trí của chính bạn, và đó là sức mạnh của cô ấy.”
“Từ đồng cảm nghe rất mềm mại và tốt đẹp, nhưng đó không phải những gì đang thực sự xảy ra,” Njoki Gitahi, một nhà thiết kế truyền thông cao cấp nói. “Điều Roshi làm đòi hỏi tư duy phản biện về cách tạo động lực cho mọi người, và không phải cứ đối xử tốt với mọi người là tạo động lực cho họ. Một phần là do Roshi hiểu con người quá rõ đến mức cô ấy biết họ cần gì. Đôi khi họ cần được hỗ trợ và khen ngợi. Nhưng đôi khi những gì họ cần là cú đấm nhẹ, một lời nhắc nhở cần làm việc chăm chỉ hơn, một cú hích để thử những điều mới. Đó là những gì cô ấy trao tặng.”
“Cô ấy thực sự lắng nghe những gì bạn nói và đào sâu hơn, hỏi xem điều đó có nghĩa là gì,” Nili Metuki, nhà nghiên cứu thiết kế nói. “Cô ấy không chịu đựng được bất cứ sự việc nào không rõ ràng, ngay cả khi mọi người thấy khó chịu. Đặc biệt là khi họ thấy khó chịu.”
Ngay lúc này chúng ta cần đặt câu hỏi: Có điều gì bên trong phút tạm ngừng, hay thời điểm Nyquistian với sự tổn thương và kết nối thực sự? Hay nói cách khác: Liệu chúng ta có thể nhìn tận sâu bên trong trong khoảng khắc này và xem điều thực sự diễn ra bên dưới bề mặt?
Đó là một câu hỏi mà tiến sỹ Carl Marci đã dành phần lớn sự nghiệp để khám phá. Marci là một nhà thần kinh học giảng dạy tại Đại học Harvard. Lần đầu tiên ông bị quyến rũ với việc lắng nghe ở một lớp học y của các thầy thuốc không đến từ phương Tây. Những thầy thuốc này rất độc đáo, sử dụng một loạt phương pháp ngoạn mục và đáng ngờ trước khoa học – ví dụ, xoa bóp không cần chạm bàn tay vào bệnh nhân, hay trữ các giọt chất lỏng với thành phần có nồng độ gần bằng không – nhưng họ đã đạt được kết quả đáng chú ý. Một lý do Marci nhận thấy là kết nối mà người thầy thuốc tạo ra với bệnh nhân của mình.
“Điểm chung giữa tất cả các thầy thuốc này là họ đều là những người lắng nghe xuất sắc. Họ ngồi xuống, xem xét tiền sử lâu dài của bệnh nhân, và thực sự nhận biết bệnh nhân của mình,” Marci nói. “Họ đều là những người vô cùng đồng cảm, thực sự giỏi kết nối với mọi người và hình thành mối liên kết tin tưởng. Và đó là khi tôi nhận ra phần thú vị không nằm ở chỗ các thầy thuốc mà là sự lắng nghe và mối quan hệ được hình thành. Đó là những gì chúng ta cần nghiên cứu.”
Marci đã phát minh ra một phương pháp trong đó ông ghi lại băng video quay các cuộc hội thoại trong khi theo dõi đáp ứng điện da – sự thay đổi điện trở nhằm đo lường kích thích cảm xúc. Ông phát hiện ra rằng đa phần thời gian, các đường cong kích thích của hai người trong cuộc trò chuyện mang ít hoặc không có mối quan hệ với nhau. Nhưng ông cũng tìm thấy những khoảnh khắc đặc biệt, trong một số cuộc hội thoại nhất định khi hai đường cong có sự đồng bộ hoàn hảo. Marci gọi những khoảnh khắc này là sự hòa hợp.
“Sự hòa hợp xảy ra khi một người có thể phản ứng chân thực với cảm xúc đang phóng chiếu trong căn phòng”, Marci nói. “Đó là sự thấu hiểu, đồng cảm, sau đó có những cử chỉ, nhận xét hoặc biểu hiện tạo ra một kết nối.
Một trong những đoạn phim có thời điểm hòa hợp ghi hình chính Marci. Ông đang ngồi trên một chiếc ghế đối mặt với một người đàn ông lớn tuổi trong một bộ Âu phục ba mảnh màu xám, người tình cờ là bác sỹ trị liệu của Marci. Marci đang miêu tả lại ngày ông cầu hôn với người bạn gái lúc đó của mình. Máy quay được đặt giữa hai người, ghi lại các biến động bên trong và chiếu chúng lên màn hình. Đó là hình ảnh một cặp đường màu sắc rực rỡ đang đổi chỗ cho nhau: màu xanh cho Marci, và màu xanh lá cây cho người đàn ông mặc đồ xám.
MARCI: Chúng tôi muốn đi ăn món bánh gối samosa nhân rau củ ở nhà hàng Bread and Circus. Tôi nói: “Hôm nay anh mời, ta hãy mua vài cái bánh nhé”. Vì thế, cô ấy nghĩ rằng chúng tôi sẽ đi dã ngoại hay sau đó.
ÁO XÁM: [liên tục gật nhẹ đầu đồng tình]
MARCI: Khi nghĩ lại, cô ấy cho rằng chúng tôi cũng có thể sẽ đến đó ngắm hoàng hôn. Cô ấy nói có lẽ có gì đó thú vị đang diễn ra trên bầu trời.
ÁO XÁM: [Gật mạnh đầu dứt khoát]
Marci: Và cô ấy nói thực ra cô ấy đã thích thú với ý nghĩ rằng tôi sẽ ngỏ lời trong một tích tắc, nhưng [ý tưởng] đó đã bị dập tắt còn nhanh hơn lúc nó đến.
ÁO XÁM: [Gật đầu thông cảm rồi nghiêng đầu]
Marci: Vì vậy, cô ấy đến đó, ăn mặc đẹp đẽ, trông tuyệt vời như mọi khi và hỏi: “Mọi chuyện thế nào?” Cô ấy nhìn lại, tìm kiếm đồ ăn mà không thấy đâu.
ÁO XÁM: [Cười nhẹ]
MARCI: Tôi nói: “Em đến ngồi đi”. Tôi đọc thuộc khổ đầu tiên trong một bài thơ của e. e. cummings: “Đã đến lúc ngày trở thành vô tận, tình yêu sẽ kết thúc nếu không lớn lao hơn khi bắt đầu.”
ÁO XÁM: [Nghiêng đầu, lông mày nhướng lên]
MARCI (tiếp tục trích thơ): “Khi chẳng có nơi đâu để hít thở, dạo bước hay vẫy vùng, tình yêu là không khí, là đại dương và miền đất”.
Và tôi nói: “Em là không khí, đại dương và miền đất của anh.”
ÁO XÁM: [Nghiêng đầu, cười, gật đầu]
MARCI: Đó chính là điều xúc động nhất vì cô ấy nhận ra điều tôi đang làm khi tôi lấy chiếc nhẫn ra và bật khóc một cách quá chân thành, tha thiết. Cô ấy đã quá choáng ngợp. Mọi thứ thật xúc động và đẹp đẽ. Cô ấy đã thật sự cảm động.
ÁO XÁM: [Gật nhẹ đầu đồng tình]
Khi xem đoạn video, điều đầu tiên bạn nhận thấy là cuộc trò chuyện có chứa một số khoảnh khắc hoàn toàn hòa hợp, khi đó các đường màu xanh lá cây và màu xanh da trời phối hợp chuyển động một cách hoàn hảo. Chúng lượn lên và xuống giống như những lá cờ nheo gợn sóng trong gió. Điều thứ hai có thể nhận thấy là những khoảnh khắc này diễn ra trong khi Áo Xám không nói một từ nào. Không thể kết luận rằng Áo Xám không tương tác. Ở anh ta ra tỏa ra một sự chú ý ổn định, một sự tĩnh lặng sẵn sàng. Bàn tay anh ta xếp trên đùi mình. Đôi mắt của anh ta ngước lên và cảnh giác. Anh ta đáp lại bằng những cái gật đầu và biểu hiện nho nhỏ. Nói cách khác, anh ta đang làm đúng những điều Roshi Givechi đã làm với hãng thiết kế IDEO và có lẽ Harry Nyquist cũng đã thực hiện ở các phòng thí nghiệm Bell. Anh ta chứng minh rằng những khoảnh khắc quan trọng nhất trong cuộc trò chuyện xảy ra khi có một người tích cực, chăm chú lắng nghe.
“Không phải ngẫu nhiên mà các khoảnh khắc hòa hợp diễn ra khi có một người nói và người còn lại lắng nghe,” Marci nói. “Việc đồng cảm với người đối diện trong khi bạn đang nói là rất khó. Nói chuyện là hành động thực sự phức tạp, bởi vì bạn cần suy nghĩ và dự tính xem mình sẽ nói gì. Điều này khiến bạn dễ bị mắc kẹt trong chính tâm trí của mình. Nhưng mọi chuyện lại khác khi bạn lắng nghe. Trong khi thực sự lắng nghe, thời gian của bạn trôi đi. Bạn không cảm thấy chính mình bởi vì hành động không tập trung vào bạn. Nó tập trung vào nhiệm vụ – nhằm kết nối hoàn toàn với người còn lại.”
Marci đã liên hệ giữa việc gia tăng các khoảnh khắc hòa hợp với sự gia tăng mối đồng cảm có thể nhận thức: Càng nhiều khoảnh khắc hòa hợp diễn ra, hai người càng cảm thấy gần gũi nhau hơn. Hơn nữa, mức độ gần gũi không thay đổi dần dần mà xảy ra ngay lập tức. “Có một thời điểm thường diễn ra các thay đổi”, ông nói. “Mối quan hệ có sự thay đổi nhanh chóng khi bạn có thể thật sự lắng nghe để hiện diện trước mắt người còn lại.” Nó giống như một bước đột phá – “Chúng tôi từng như vậy, nhưng bây giờ chúng tôi sẽ tương tác theo một cách mới, và cả hai đều hiểu việc đó đã xảy ra.”
❀ ❀ ❀
[1] . Giữa chừng cuộc trò chuyện, Givechi hỏi tôi về tiêu đề chính và tiêu đề phụ của cuốn sách này. Tôi nói với cô ấy, và cô dừng lại – một đoạn tạm dừng dài và có ý nghĩa. Rồi cô ấy hỏi: “Dòng tiêu đề phụ này có thật sự hiệu quả không?”. Một vài phút sau đó, sau khi trao đổi qua lại, cuốn sách này đã có dòng tiêu đề phụ cải tiến mới. Tôi không chắc mình hay cô ấy đã đề xuất sự thay đổi. Như Givechi nói, tôi và cô ấy cùng nhau khiến nó lộ diện. (TG)