Người Mohicans Cuối Cùng

Lượt đọc: 79 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 6

❊ ❊ ❊

“Những khúc ca từng du dương vang vọng chốn Sion;

Ngài chọn lấy một phần với sự minh mẫn cẩn trọng;

Và ‘Nào ta cùng thờ phượng Chúa’, Người cất lời, với vẻ mặt trang nghiêm.”—Burns

Heyward cùng hai người bạn đồng hành nữ chứng kiến động thái bí ẩn ấy với nỗi bất an thầm kín; bởi dẫu cho cách hành xử của người da trắng cho tới nay vẫn không có gì chê trách được, những trang thiết bị thô sơ, cách nói năng bộc tuệch và sự chán ghét mãnh liệt của ông ta, cùng với bản chất của những kẻ đồng hành lặng lẽ, tất cả đều là nguyên nhân gây ra sự hoài nghi trong lòng những người vừa mới bị hoảng sợ bởi sự xảo trá của người da đỏ.

Chỉ có người lạ mặt là phớt lờ những sự việc đang diễn ra. Ông ta ngồi trên một mõm đá nhô ra, không hề biểu lộ điều gì khác ngoài những dằn vặt trong tâm hồn, được thể hiện qua những tiếng thở dài dồn dập và nặng nhọc. Tiếp theo, những giọng nói bị nén nghẹn vang lên, tựa như tiếng người gọi nhau từ lòng đất thẳm, khi một luồng ánh sáng đột ngột chiếu rọi lên những người ở bên ngoài và phơi bày bí mật được trân trọng giữ gìn bấy lâu của chốn này.

Ở tận cùng của một hang động bằng đá vừa hẹp vừa sâu, nơi mà chiều dài trông có vẻ lớn hơn rất nhiều nhờ hiệu ứng phối cảnh và bản chất của ánh sáng chiếu vào, chính là người trinh sát đang ngồi, tay cầm một khúc thông cháy rực. Ánh lửa chói lọi rọi thẳng vào khuôn mặt sạm nắng, cứng cỏi cùng trang phục đậm chất rừng rú của ông, mang lại nét hoang dã đầy lãng mạn cho diện mạo của một con người mà nếu nhìn dưới ánh ban ngày tỉnh táo, sẽ bộc lộ những nét đặc trưng của một kẻ nổi bật bởi sự kỳ lạ trong trang phục, sự cứng cỏi như sắt đá của vóc dáng, cùng sự pha trộn độc đáo giữa sự nhạy bén, cảnh giác chớp nhoáng và nét mộc mạc tinh tế, luân phiên chiếm lĩnh những đường nét cơ bắp trên khuôn mặt ông. Cách đó không xa về phía trước là Uncas, toàn thân hiện ra vô cùng nổi bật. Những lữ khách lo âu ngắm nhìn dáng người thẳng thắn, dẻo dai của chàng trai người Mohican, vừa uyển chuyển vừa phóng khoáng trong những tư thế và chuyển động tự nhiên. Dù thân hình chàng được che khuất hơn thường lệ bởi chiếc áo săn bắn màu xanh lục có via tua rua giống như của người da trắng, nhưng không có gì che giấu được đôi mắt đen sẫm, láu lỉnh, không chút sợ hãi, vừa đáng sợ lại vừa điềm tĩnh; đường nét táo bạo trên khuôn mặt cao ngạo với sắc đỏ tự nhiên thuần khiết; hay vẻ cao quý đầy uy nghi của chiếc trán lùi, cùng với những tỷ lệ hoàn hảo nhất của một chiếc đầu cao quý, để trần chỏm tóc da đầu kiêu hãnh. Đây là cơ hội đầu tiên để Duncan và các bạn ngắm nhìn những đường nét rõ rệt của hai người tùy tùng da đỏ, và từng người trong nhóm đều cảm thấy trút bỏ được gánh nặng nghi ngờ khi biểu cảm kiêu hãnh, quả quyết nhưng đầy hoang dã trên khuôn mặt của người chiến binh trẻ tuổi hiện rõ trước mắt họ. Họ cảm thấy đây có thể là một sinh mệnh hãy còn chìm đắm trong thung lũng dốt nát, chứ không phải kẻ sẵn sàng đem những ân huệ tự nhiên phong phú của mình dâng hiến cho mục đích phản trơ trẽn. Alice ngây thơ ngắm nhìn dáng vẻ phóng khoáng và điệu bộ kiêu hãnh của chàng, tựa như đang chiêm ngưỡng một cổ vật quý giá của nghệ thuật điêu khắc Hy Lạp vừa được truyền sự sống bởi phép màu; trong khi Heyward, dẫu quen nhìn sự hoàn mỹ về hình thể vốn rất phong phú ở những thổ dân chưa bị vẩn đục, cũng phải cất lời bày tỏ sự ngưỡng mộ trước một mẫu mực hoàn hảo không tì vết về những tỷ lệ tối cao của con người.

“Em có thể ngủ ngon giấc,” Alice thì thầm đáp lời, “với một chàng trai dũng cảm và hào hiệp như thế làm lính gác. Chắc chắn rồi, Duncan, những vụ án mạng tàn khốc ấy, những cảnh tra tấn rợn ngợp mà chúng ta từng đọc và nghe kể rất nhiều, sẽ không bao giờ xảy ra trước mặt một người như chàng!”

“Đây quả thực là một ví dụ hiếm hoi và tuyệt vời về những phẩm chất tự nhiên mà những con người đặc biệt này nổi tiếng là xuất sắc,” chàng đáp. “Anh đồng ý với em, Alice, rằng vầng trán và ánh mắt ấy được tạo ra để uy hiếp hơn là để đánh lừa; nhưng chúng ta đừng tự lừa dối bản thân bằng cách mong đợi bất kỳ biểu hiện nào khác về thứ mà chúng ta coi là đức phỏng theo lốp cách của kẻ hoang dã. Cũng giống như những tấm gương sáng về phẩm chất cao quý vốn dĩ quá hiếm hoi trong số những người theo đạo Thiên Chúa, thì ở người da đỏ chúng cũng mang tính cá biệt và cô độc; mặc dù vì danh dự của bản chất chung chúng ta, không bên nào là không có khả năng sản sinh ra chúng. Vậy chúng ta hãy hy vọng rằng người Mohican này sẽ không làm phụ lòng mong mỏi của chúng ta, mà sẽ chứng tỏ bản thân đúng như vẻ ngoài của mình, một người bạn dũng cảm và kiên định.”

“Bây giờ Thiếu tá Heyward mới nói đúng tác phong của một Thiếu tá Heyward,” Cora nói; “hỏi rằng ai nhìn vào tạo vật của tự nhiên này mà còn nhớ đến sắc da của chàng chứ?”

Một khoảng lặng ngắn và có vẻ ngượng ngùng nối tiếp nhận xét ấy, bị phá vỡ bởi tiếng người trinh sát lớn tiếng gọi họ bước vào.

“Ngọn lửa này bắt đầu cháy quá sáng rồi đấy,” ông tiếp tục khi họ làm theo, “và có thể soi đường cho lũ Mingo đến tàn phá chúng ta đấy. Uncas, buông tấm chăn xuống và cho mấy tên đểu cáng ấy thấy mặt tối của nó đi. Đây không phải là bữa tối mà một thiếu tá thuộc Trung đoàn Quân tình nguyện Hoàng gia có quyền mong đợi, nhưng ta đã từng chứng kiến những phân đội cứng cỏi của quân đoàn phải vui vẻ ăn thịt nai sống và chẳng có chút gia vị nào cả[1]. Ở đây, các người thấy đấy, chúng ta có rất nhiều muối và có thể nướng nhanh một bữa. Có những cành sassafras tươi cho các quý cô ngồi lên, tuy có thể không sang trọng bằng những chiếc ghế mây Guinea của họ, nhưng lại tỏa ra mùi thơm ngọt ngào hơn bất kỳ tấm da heo nào, dù là heo Guinea hay heo xứ nào khác. Nào, bằng hữu, đừng đau buồn vì con ngựa con nữa; đó là một sinh vật vô tội và chưa phải trải qua nhiều gian khổ đâu. Cái chết của nó sẽ cứu con vật khỏi biết bao cái lưng đau nhức và đôi chân mệt mỏi!”

[1] Theo cách nói bình dân, các loại gia vị của bữa ăn được người Mỹ gọi là “a relish” (gia vị/đồ ăn kèm), dùng danh từ chỉ sự vật thay cho tác dụng của nó. Những thuật ngữ địa phương này thường được đặt vào miệng của các nhân vật, tùy theo hoàn cảnh sống khác nhau của họ. Hầu hết chúng mang tính sử dụng cục bộ, và số khác hoàn toàn đặc trưng cho tầng lớp người nhất định mà nhân vật đó thuộc về. Trong trường hợp này, người trinh sát dùng từ này để chỉ trực tiếp đến “muối” mà nhóm của ông rất may mắn có được.

Uncas làm theo điều người kia đã chỉ dẫn, và khi giọng nói của Hawkeye dứt hẳn, tiếng gầm của ngọn thác vang lên tựa như tiếng sấm từ xa vọng lại.

“Chúng ta hoàn toàn an toàn trong hang động này chứ?” Heyward hỏi. “Liệu có nguy cơ bị tập kích bất ngờ không nhỉ? Chỉ một kẻ có vũ trang ngay lối vào cũng đủ sức đặt chúng ta vào thế mặc hắn định đoạt rồi.”

Một bóng người trông như bóng ma bước ra từ bóng tối phía sau người trinh sát, và vớ lấy một thanh củi cháy dở, giơ nó về phía tận cùng của chốn ẩn náu. Alice thét lên một tiếng nhỏ, thậm chí Cora cũng đứng phắt dậy khi vật thể kinh hoàng này di chuyển ra ánh sáng; nhưng một từ duy nhất của Heyward đã trấn an họ, với sự đảm bảo rằng đó chỉ là người tùy tùng Chingachgook của họ, khi vén một tấm chăn khác lên đã phát hiện ra hang động có tới hai lối ra. Sau đó, vừa cầm thanh củi cháy, ông ta bước qua một khe vực sâu và hẹp giữa những mảng đá nằm vuông góc với lối đi họ đang đứng, nhưng không giống lối đi kia, khe vực này mở thông lên bầu trời, rồi bước vào một hang động khác, khớp hoàn toàn với mô tả về hang động đầu tiên ở mọi chi tiết thiết yếu.

“Những con cáo già như Chingachgook và ta không đời nào bị bắt gọn trong một cái hang chỉ có một lối thoát đâu,” Hawkeye vừa cười vừa nói; “các người có thể dễ dàng nhận thấy sự khôn ranh của chốn này—hòn đá là đá vôi đen, ai cũng biết là loại mềm; nó tạo ra một chiếc gối không mấy khó chịu, ở những nơi củi mục và gỗ thông khan hiếm; chà, ngọn thác xưa kia từng nằm thấp hơn chúng ta vài thước, và ta dám chắc rằng vào thời của nó, đó là một dòng nước đều đặn và đẹp đẽ chẳng kém gì bất kỳ dòng nào dọc theo sông Hudson. Nhưng tuổi già là một tai họa lớn cho vẻ bề ngoài, điều mà các quý cô trẻ tuổi ngọt ngào này rồi sẽ phải học! Nơi đây đã thay đổi đến não nề! Những tảng đá này đầy vết nứt, và ở vài nơi chúng mềm hơn những nơi khác, và dòng nước đã khoét sâu thành những hố trũng cho chính nó, cho đến khi nó thụt lùi lại, ừm, khoảng vài trăm thước chỗ này, bào mòn chỗ kia, khiến cho ngọn thác chẳng còn hình thù hay kết cấu gì nữa.”

“Chúng ta đang ở phần nào của thác vậy?” Heyward hỏi.

“À, chúng ta đang ở gần cái nơi mà Tạo Hóa đặt chúng ta vào thủa ban đầu, nhưng hình như ở đó chúng quá bướng bỉnh không chịu ở lại. Tảng đá hóa ra lại mềm hơn ở hai bên chúng ta, và thế là chúng bỏ lại khoảng giữa con sông trơ trọi và khô cạn, trước tiên là khoét ra hai cái lỗ nhỏ này để chúng ta ẩn náu.”

“Vậy là chúng ta đang ở trên một hòn đảo!”

“Ừ! Có những ngọn thác ở hai bên chúng ta, và dòng sông ở phía trên lẫn phía dưới. Nếu có ánh sáng ban ngày, sẽ rất đáng công khi bước lên đỉnh tảng đá này và ngắm nhìn sự ngang bướng của dòng nước. Nó rơi xuống chẳng theo quy tắc nào cả; lúc thì nhảy nhót, khi thì nhào lộn; chỗ kia thì văng vơ; chỗ này thì lao vút đi; có nơi trắng như tuyết, có nơi xanh như cỏ; quanh quẩn đây thì nó lao vào những hố sâu, gầm rú và nghiền nát cả mặt đất; còn ở đằng kia thì gợn sóng và ca hát như một con suối, tạo hình những xoáy nước và rãnh sâu trên lớp đá cổ, cứ như thể nó chẳng cứng hơn lớp đất sét bị giẫm đạp là bao. Toàn bộ thiết kế của dòng sông trông có vẻ bị đảo lộn hoàn toàn. Đầu tiên nó chảy êm đềm, cứ như thể có ý định xuôi theo con dốc đúng như trật tự đã sắp đặt; rồi thì nó bẻ góc và chĩa thẳng vào các bờ; cũng không thiếu những nơi nó ngoảnh đầu nhìn lại, như thể không đành lòng rời khỏi chốn hoang dã để hòa mình vào dòng nước mặn. Nào, thưa quý cô, tấm vải trông mỏng manh như mạng nhện quàng trên cổ cô thực ra còn thô và giống như lưới đánh cá so với những điểm nhỏ mà tôi có thể chỉ cho cô thấy, nơi dòng sông tạo ra đủ mọi loại hình ảnh, cứ như thể đã xổng khỏi trật tự, nó muốn thử tay nghề với vạn vật. Thế mà cuối cùng thì sao nào! Sau khi dòng nước được thả cho làm theo ý mình một lúc, giống như một kẻ cứng đầu, nó lại được gom lại bởi bàn cách của Đấng Tạo Hóa, và chỉ cách vài sải chân bên dưới, cô có thể thấy tất cả đều xuôi dòng đều đặn hướng ra biển, đúng như đã được định mệnh sắp đặt từ thuở hồng hoang của trái đất!”

Trong khi những thính giả nhận được sự đảm bảo đầy phấn khởi về sự an toàn của chốn ẩn náu từ lời mô tả mộc mạc về thác Glenn,[2] họ lại có xu hướng đánh giá về vẻ đẹp hoang dã của nó khác với Hawkeye. Nhưng họ không ở trong hoàn cảnh để cho tâm trí mình chìm đắm trong những nét quyến rũ của thiên nhiên; và vì người trinh sát không thấy cần thiết phải dừng công việc bếp núc của mình lại khi đang nói, trừ phi để dùng chiếc nĩa gãy chỉ về hướng của một điểm đặc biệt đáng ghét nào đó trong dòng sông nổi loạn, họ giờ đây đành hướng sự chú ý sang vấn đề cần thiết nhưng có phần tầm thường hơn là bữa tối.

[2] Thác Glenn nằm trên sông Hudson, cách điểm bắt đầu thủy triều hoặc nơi sông có thể cho thuyền xà-lông đi lại khoảng bốn mươi hoặc năm mươi dặm. Mô tả về con thác nhỏ đẹp như tranh vẽ và vô cùng đặc biệt này, qua lời kể của người trinh sát, là khá chính xác, mặc dù việc khai thác nguồn nước phục vụ cho đời sống văn minh đã làm tổn hại đáng kể đến vẻ đẹp của nó. Hòn đảo đá và hai hang động thì đã quá quen thuộc với mọi lữ khách, vì hòn đảo là nơi đặt trụ cầu hiện đang bắc ngang qua sông, ngay phía trên ngọn thác. Để giải thích cho gu thẩm mỹ của Hawkeye, nên nhớ rằng con người luôn trân trọng nhất những gì ít được tận hưởng nhất. Do đó, ở một vùng đất mới, rừng rậm và những cảnh vật khác vốn dĩ ở một xứ sở lâu đời sẽ được duy trì với cái giá rất đắt, lại bị phá bỏ đi, đơn giản chỉ với mục đích “cải tạo” theo như cách gọi của họ.

Bữa ăn, được hỗ trợ đáng kể bởi một số món ngon mà Heyward đã cẩn thận mang theo khi rời khỏi bầy ngựa, đã mang lại sự sảng khoái cực độ cho nhóm người mệt mỏi. Uncas đóng vai trò người hầu hạ các quý cô, chu toàn mọi việc nhỏ nhặt trong tầm tay với vẻ pha trộn giữa sự đường hoàng và nét duyên dáng đầy lo âu, khiến Heyward cảm thấy thích thú—anh thừa biết rằng đây là một sự phá lệ hoàn toàn đối với phong tục của người da đỏ vốn cấm các chiến binh làm bất kỳ công việc tay chân nào, đặc biệt là phục vụ phụ nữ. Tuy nhiên, vì các quyền lợi của lòng hiếu khách được coi là thiêng liêng đối với họ, sự phá cách nhỏ khỏi phẩm giá nam nhi này không vấp phải bất kỳ lời bình phẩm lớn tiếng nào. Giá như có ai đó ở đó với tâm trạng rảnh rỗi để trở thành một người quan sát tinh tế, hẳn người đó sẽ tưởng tượng rằng sự phục vụ của vị tù trưởng trẻ tuổi không hoàn toàn vô tư. Rằng trong khi chàng đưa cho Alice bầu nước ngọt và miếng thịt nai trên chiếc đĩa gỗ được đẽo gót tỉ mỉ từ củ cây cao su Mỹ với sự lịch sự vừa đủ, thì khi làm những việc tương tự cho người chị của nàng, đôi mắt đen của chàng lại lưu luyến trên khuôn mặt đầy biểu cảm và kiều diễm của cô. Một vài lần chàng buộc phải cất lời để thu hút sự chú ý của những người được mình phục vụ. Trong những trường hợp đó, chàng dùng tiếng Anh, bập bẹ và không hoàn chỉnh nhưng đủ để hiểu, được chàng thốt lên một cách dịu dàng và du trầm bởi giọng trầm trong lồng ngực, khiến cả hai vị phu nhân không khỏi ngước nhìn với vẻ ngưỡng mộ và kinh ngạc. Trong quá trình xã giao đó, một vài câu nói đã được trao đổi, góp phần tạo nên vẻ bề ngoài của một mối giao hảo thân thiện giữa các bên.

Trong khi đó, vẻ nghiêm nghị của Chingachgook vẫn không hề suy chuyển. Ông đã ngồi dịch vào bên trong vòng sáng, nơi những cái nhìn lo âu thường trực của các vị khách có thể dễ dàng tách biệt biểu cảm tự nhiên trên khuôn mặt ông ra khỏi những nỗi kinh hoàng nhân tạo của lớp sơn chiến tranh. Họ tìm thấy sự giống nhau đến kỳ lạ giữa hai cha con, chỉ khác biệt ở tuổi tác và những gian khổ họ từng trải qua. Sự hung dữ trên khuôn mặt ông giờ đây có vẻ như đang chìm vào giấc ngủ, và thay vào đó là nét điềm tĩnh lặng lẽ, trống trải đặc trưng của một chiến binh da đỏ, khi các giác quan của chàng không bị chi phối bởi bất kỳ mục đích lớn lao nào trong sự tồn tại của mình. Tuy nhiên, người ta vẫn dễ dàng nhận ra, qua những tia chớp thỉnh thoảng lóe lên trên khuôn mặt ngăm đen ấy, rằng chỉ cần khơi gợi bản năng của ông là đủ để phát huy trọn vẹn tác dụng của mưu mẹo đáng sợ mà ông đã áp dụng nhằm uy hiếp kẻ thù. Mặt khác, đôi mắt láu lỉnh, đảo liên hồi của người trinh sát hiếm khi chịu dừng lại. Ông ăn uống với một sự thèm ăn mà không nỗi sợ nguy hiểm nào có thể làm lung lay, nhưng sự cảnh giác của ông dường như chưa bao giờ rời bỏ ông. Đã hai mươi lần bầu nước hay miếng thịt nai dừng lại trước môi ông, trong khi đầu quay sang một bên như thể đang lắng nghe những âm thanh xa xôi và đầy hoài nghi—một cử động chưa bao giờ thất bại trong việc kéo các vị khách của ông trở lại từ việc ngắm nhìn những điều mới lạ trong hoàn cảnh của họ, để nhớ về những lý do đáng sợ đã đẩy họ tìm đến chốn này. Vì những khoảng lặng thường trực này không bao giờ đi kèm với bất kỳ lời bình luận nào, nên nỗi bất an thoáng qua mà chúng tạo ra nhanh chóng trôi qua rồi bị lãng quên.

“Nào, bằng hữu,” Hawkeye vừa nói vừa kéo một chiếc keg rượu từ dưới lớp lá che phủ ra về phía cuối bữa ăn, hướng về phía người lạ mặt đang ngồi ngay sát bên và tỏ ra vô cùng thán phục tài nấu nướng của ông, “hãy thử một chút rượu vân sam đi; nó sẽ trôi đi mọi suy nghĩ về con ngựa con, và khơi dậy sự sống trong lồng ngực ông. Tôi cạn chén vì tình bạn tốt đẹp hơn của chúng ta, hy vọng rằng một chút thịt ngựa sẽ không để lại sự ấm ức nào giữa chúng ta. Ông tên là gì thế?”

“Gamut—David Gamut,” người dạy thanh nhạc đáp lại, chuẩn bị đánh bay nỗi buồn của mình bằng một ngụm lớn hợp chất đậm đà và cay nồng của người thợ rừng.

“Một cái tên rất hay, và tôi dám cá là được truyền lại từ những tổ tiên lương thiện. Tôi là một người rất ngưỡng mộ tên gọi, mặc dù các phong cách Thiên Chúa giáo thua xa phong tục da đỏ trong điểm đặc biệt này. Tên hèn nhát nhất mà tôi từng biết lại có tên là Lyon (Sư tử); và vợ hắn, Patience (Kiên nhẫn), sẽ mắng cho ông điếc tai trong thời gian chưa bằng một con nai bị săn chạy qua một sào. Đối với người da đỏ, đó là vấn đề lương tâm; họ tự gọi mình là gì, thì họ thường đúng là như vậy—không phải cái tên Chingachgook, có nghĩa là Con Rắn Lớn, lại thực sự là một con rắn, lớn hay nhỏ; mà là vì hắn hiểu rõ những khúc quanh co của bản tính con người, và sống lặng lẽ, rồi giáng đòn vào kẻ thù khi chúng ít ngờ tới nhất. Nghề nghiệp của ông là gì thế?”

“Tôi là một người hướng dẫn không xứng đáng trong nghệ thuật thánh ca.”

“Hả!”

“Tôi dạy hát cho những thanh niên trong đội dân phòng Connecticut.”

“Ông có thể làm việc khác có ích hơn. Lũ chó săn trẻ tuổi đó đã cười nói quá nhiều trong rừng rồi, trong khi lẽ ra chúng không nên thở to hơn một con cáo trong hang. Ông có biết sử dụng súng nòng trơn, hay cầm súng trường không?”

“Tạ ơn Chúa, tôi chưa bao giờ có dịp dây dưa vào những thứ vũ khí sát nhân!”

“Có lẽ ông hiểu về la bàn, và vẽ ra những dòng sông cùng núi non của chốn hoang dã lên giấy, để những kẻ đi sau có thể tìm thấy địa điểm nhờ tên gọi của chúng chăng?”

“Tôi không hành nghề đó.”

“Ông sở hữu một đôi chân có thể biến con đường dài thành ngắn! Tôi đoán là thỉnh thoảng ông đi du hành mang theo tin tức cho vị tướng quân nhỉ?”

“Không bao giờ; tôi không tuân theo bất cứ thứ gì ngoài ơn gọi cao cả của mình, đó là việc truyền dạy âm nhạc thánh thiện!”

“Đó quả là một cái nghề kỳ lạ!” Hawkeye lẩm bẩm với một tiếng cười thầm trong lồng ngực, “đi suốt cuộc đời như một con chim nhại, bắt chước tất cả những thăng trầm có thể phát ra từ cổ họng người khác. Chà, bạn tôi ạ, tôi đoán đó là năng khiếu của ông, và không thể chối bỏ nó cũng giống như chuyện bắn súng hay sở thích nào khác tốt đẹp hơn. Hãy cho chúng tôi nghe ông có thể làm gì với tài năng đó; đó sẽ là một cách thân thiện để nói lời chúc ngủ ngon, vì đã đến lúc các quý cô này nên lấy lại sức lực cho một chặng đường dài và gian khổ vào lúc rạng sáng, trước khi bộ lạc Maquas thức dậy.”

“Với niềm vui sướng hân hoan, tôi đồng ý,” David vừa nói vừa chỉnh lại cặp kính gọng sắt, rồi lấy ra cuốn sách nhỏ yêu quý của mình, lập tức đưa cho Alice. “Còn điều gì phù hợp và an ủi hơn là dâng lên lời ngợi ca buổi tối, sau một ngày đầy rẫy hiểm nguy tột cùng như thế!”

Alice mỉm cười; nhưng khi nhìn sang Heyward, nàng đỏ mặt và chần chừ.

“Hãy tự do làm theo ý mình,” anh thì thầm; “lẽ nào lời gợi ý từ người có cùng tên với tác giả Thánh Vịnh lại không có sức nặng vào lúc thế này sao?”

Được sự cổ vũ từ ý kiến của anh, Alice đã làm điều mà những khuynh hướng sùng đạo cùng sở thích mãnh liệt dành cho những âm thanh dịu dàng của nàng đã thôi thúc trước đó. Cuốn sách được mở ra ở một bài thánh ca rất phù hợp với hoàn cảnh của họ, nơi nhà thơ, không còn bị thúc giục bởi khao khát vượt qua vị Vua được truyền cảm hứng của xứ Israel, đã khám phá ra một số sức mạnh đầy tiết chế và đáng nể. Cora lộ rõ ý định ủng hộ em gái mình, và bài thánh ca cất lên, sau khi những khúc dạo đầu không thể thiếu của còi lấy độ cao và giai điệu đã được David cẩn thận chuẩn bị theo đúng phương pháp.

Giai điệu trang nghiêm và chậm rãi. Có lúc nó vút lên tới âm vực đầy đặn nhất của giọng ca phong phú từ những người phụ nữ, những người đang cúi mình bên cuốn sách nhỏ trong sự phấn khích thiêng liêng, và rồi có lúc nó chìm xuống thấp đến mức tiếng dòng nước chảy xiết luồn qua giai điệu của họ, tựa như một phần đệm vang dội từ sâu thẳm. Gu thẩm mỹ tự nhiên và đôi tai chuẩn xác của David đã điều khiển và tiết chế âm thanh sao cho phù hợp với hang động chật hẹp, nơi mọi kẽ hở và ngóc ngách đều được lấp đầy bởi những nốt nhạc rung động từ giọng ca uyển chuyển của họ. Những người da đỏ dán chặt mắt vào những tảng đá, và lắng nghe với một sự tập trung khiến họ trông như hóa đá. Thế nhưng người trinh sát, người đã chống cằm lên tay với vẻ thờ ơ lạnh lùng, lại dần thả lỏng những nét mặt cứng nhắc của mình, cho đến khi, hết đoạn này đến đoạn khác vang lên, ông cảm thấy bản chất sắt đá của mình bị khuất phục, trong khi ký ức đưa ông trở về tuổi thơ, khi tai ông đã quen lắng nghe những âm thanh ngợi ca tương tự trong các khu định cư của thuộc địa. Đôi mắt đảo liên hồi của ông bắt đầu ngấn lệ, và trước khi bài thánh ca kết thúc, những giọt nước mắt nóng bỏng tuôn trào từ những nguồn suối vốn đã khô cạn từ lâu, nối đuôi nhau lăn dài trên đôi má từng phải hứng chịu nhiều giông bão của đất trời hơn là bất kỳ biểu hiện yếu đuối nào. Các ca sĩ đang dừng lại ở một trong những hợp âm trầm, lịm dần mà tai người ta ngấu nghiến đón nhận với niềm say mê tham lam, như thể ý thức được rằng mình sắp sửa đánh mất chúng, thì một tiếng thét, dường như chẳng phải của con người hay trần thế, bỗng vang lên từ không gian bên ngoài, xuyên thấu không chỉ những ngóc ngách sâu thẳm trong hang động, mà còn thấu tận đáy lòng của bất kỳ ai nghe thấy. Tiếp sau đó là một sự tĩnh lặng dường như sâu thẳm đến mức tưởng chừng như dòng nước đã bị chặn lại giữa dòng chảy cuồng nộ của nó trước một sự gián đoạn kinh hoàng và bất thường đến thế.

“Đó là gì vậy?” Alice thì thầm, sau vài giây phút hồi hộp đến rợn người.

“Đó là gì vậy?” Alice thì thầm, sau vài giây phút hồi hộp đến rợn người.

“Đó là gì vậy?” Heyward lớn tiếng lặp lại.

Cả Hawkeye lẫn những người da đỏ đều không đưa ra câu trả lời nào. Họ lắng nghe, như thể đang mong đợi âm thanh ấy lặp lại, với thái độ thể hiện sự kinh ngạc của chính họ. Cuối cùng, họ nói chuyện với nhau bằng vẻ đầy nghiêm túc trong tiếng Delaware, rồi Uncas bước qua khe hở bên trong và kín đáo nhất, cẩn thận rời khỏi hang động. Khi cậu đi rồi, người trinh sát mới cất lời bằng tiếng Anh.

“Đó là gì, hay không phải là gì, không ai ở đây có thể nói được, mặc dù hai trong số chúng tôi đã lùng sục trong rừng suốt hơn ba mươi năm. Tôi từng tin rằng chẳng có tiếng thét nào mà người da đỏ hay thú vật có thể phát ra mà tai tôi chưa từng nghe qua; nhưng điều này đã chứng minh rằng tôi chỉ là một kẻ phàm phu hão huyền và kiêu ngạo.”

“Đó chẳng phải là tiếng hô mà các chiến binh phát ra khi họ muốn uy hiếp kẻ thù hay sao?” Cora hỏi, người đang đứng kéo khăn choàng quanh người với một sự bình tĩnh mà người em gái đang hoảng loạn của cô không hề có.

“Không, không; điều này thật tồi tệ, gây sốc, và mang một thứ âm thanh phi nhân tính; nhưng một khi cô đã nghe tiếng hò hét xung trận, cô sẽ không bao giờ nhầm lẫn nó với bất cứ thứ gì khác. Nào, Uncas!” ông nói bằng tiếng Delaware với người chiến binh trẻ khi cậu bước trở vào, “cậu thấy gì thế? ánh sáng của chúng ta có chiếu xuyên qua mấy tấm chăn không?”

Câu trả lời ngắn gọn và có vẻ quả quyết, được thốt lên bằng chính ngôn ngữ đó.

“Chẳng có gì có thể nhìn thấy bên ngoài cả,” Hawkeye tiếp tục, lắc đầu bất mãn; “và chỗ ẩn náu của chúng ta vẫn chìm trong bóng tối. Hãy sang hang bên kia đi, ai cần thì cứ đi và tìm giấc ngủ; chúng ta phải lên đường từ rất lâu trước khi mặt trời mọc, và tận dụng tối đa thời gian để đến chỗ Edward, trong lúc lũ Mingo đang tranh thủ chợp mắt buổi sáng.”

Cora làm gương trước bằng sự kiên quyết đã dạy cho Alice nhát gan hơn thấy được sự cần thiết phải tuân theo. Tuy nhiên, trước khi rời đi, cô thì thầm nhờ Duncan đi theo sau. Uncas vén tấm chăn lên để họ đi qua, và khi hai chị em quay lại để cảm ơn cậu vì sự quan tâm đó, họ thấy người trinh sát lại ngồi trước những tàn lửa đang lụi dần, tay chống cằm theo tư thế cho thấy ông đang suy ngẫm sâu sắc nhường nào về sự gián đoạn khó hiểu đã phá hỏng buổi lễ nguyện tối của họ.

Heyward cầm theo một khúc củi cháy dở, hắt ánh sáng mờ ảo qua lối đi hẹp của căn phòng mới. Đặt nó vào một vị trí thuận lợi, anh nhập bọn với các phụ nữ, những người giờ đây thấy mình chỉ còn ở một mình với anh lần kể từ khi họ rời khỏi những bức tường thành thân thiện của Pháo đài Edward.

“Đừng rời bỏ chúng em, Duncan,” Alice nói: “chúng em không thể ngủ nổi ở một nơi thế này, khi tiếng thét kinh hoàng đó vẫn còn văng vẳng bên tai.”

“Trước tiên chúng ta hãy kiểm tra độ an toàn của pháo đài này đã,” anh đáp, “rồi chúng ta sẽ nói về việc nghỉ ngơi.”

Anh tiến lại gần phần cuối của hang động, đến một lối ra, cũng giống như những lối khác, được che giấu bởi các tấm chăn; và gạt bỏ lớp màn chắn dày, hít lấy bầu không khí trong lành và sảng khoái từ ngọn thác. Một nhánh sông chảy qua một khe núi sâu và hẹp, do dòng chảy của nó khoét sâu vào lớp đá mềm ngay dưới chân anh, tạo thành một hàng phòng thủ hiệu quả, theo anh tin là vậy, chống lại bất kỳ mối nguy hiểm nào từ phía đó; dòng nước, cách họ vài sải chân phía trên, đang lao xuống, lóe sáng và càn quét theo cách bạo liệt và đứt quãng nhất.

“Tự nhiên đã tạo ra một bức tường chắn kiên cố ở phía này,” anh tiếp tục, chỉ tay xuống vách đá dựng đứng hướng về dòng nước tối sầm trước khi buông tấm chăn xuống; “và như các em biết đấy, những con người tốt bụng và đáng tin đang canh gác ở phía trước, tôi không thấy lý do gì mà lời khuyên của người chủ nhà trung thực của chúng ta lại bị phớt lờ cả. Tôi chắc chắn Cora sẽ đồng tình với tôi khi nói rằng giấc ngủ là điều cần thiết cho cả hai em.”

“Cora có thể chịu thua trước tính đúng đắn trong ý kiến của anh nhưng cô ấy không thể biến nó thành hiện thực,” người chị lớn đáp, người đã ngồi xuống bên cạnh Alice trên chiếc ghế sassafras; “sẽ có những nguyên nhân khác đánh đuổi giấc ngủ, dẫu cho chúng ta có được tha miễn đi cú sốc từ tiếng động bí ẩn này đi nữa. Hãy tự hỏi chính mình đi, Heyward, liệu những người con gái có thể quên đi sự lo lắng mà một người cha phải chịu đựng, khi các con của ông trú ngụ không biết ở đâu hay ra sao, giữa chốn hoang vu và giữa muôn vàn hiểm nguy thế này?”

“Ông ấy là một người lính, và biết cách đánh giá những rủi ro nơi rừng thiêng nước độc.”

“Ông ấy là một người cha, và không thể chối bỏ bản chất của mình.”

“Cha đã từng dịu dàng biết bao với mọi sự dại dột của em, ân cần và chiều chuộng biết bao đối với mọi mong muốn của em!” Alice sụt sùi nói. “Chúng ta đã ích kỷ biết bao, chị ơi, khi nài nỉ chuyến thăm này trong một hoàn cảnh đầy rủi ro như thế.”

“Chị có thể đã liều lĩnh khi ép buộc sự đồng ý của cha vào một thời điểm vô cùng bối rối, nhưng chị muốn chứng minh cho ông thấy rằng dẫu cho những kẻ khác có quay lưng bỏ mặc ông trong hoàn cảnh ngặt nghèo, thì ít ra các con của ông vẫn luôn trung thành.”

“Khi ông nghe tin các em đến Edward,” Heyward ân cần nói, “đã có một cuộc đấu tranh mãnh liệt trong lồng ngực ông giữa sự sợ hãi và tình yêu; mặc dù tình yêu sau đó, được tô điểm thêm, nếu có thể, bởi quãng thời gian xa cách quá lâu, đã nhanh chóng chiếm ưu thế. ‘Đó là tinh thần của Cora cao quý của ta đang dẫn đường cho chúng, Duncan,’ ông đã nói, ‘và ta sẽ không cản trở nó. Nguyện xin Chúa Trời, kẻ đang nắm giữ danh dự của vị quân vương chúng ta trong sự bảo bọc của ngài, cũng sẽ thể hiện được một nửa sự kiên định ấy!’”

“Và cha đã không nhắc đến em sao, Heyward?” Alice gặng hỏi với tình cảm nũng nịu đầy ghen tị; “chắc chắn là ngài không hoàn toàn quên bé Elsie nhỏ bé của mình chứ?”

“Điều đó là không thể,” chàng thanh niên đáp; “ông đã gọi em bằng hàng ngàn mỹ từ thân thương mà anh không dám mạo muội dùng lại, nhưng anh có thể nhiệt thành làm chứng cho sự đúng đắn của chúng. Có lần, quả thực ông đã nói—”

Duncan ngừng nói; bởi trong khi đôi mắt anh đang dán chặt vào đôi mắt của Alice, người vừa quay về phía anh với sự khao khát của tình cảm phụ tử để đón lấy từng lời anh nói, thì một tiếng thét mạnh mẽ và kinh hoàng y như trước lại tràn ngập bầu không gian, khiến anh câm lặng. Một khoảng lặng kéo dài, nghẹt thở nối tiếp theo sau, trong đó mỗi người nhìn những người còn lại với sự chờ đợi đầy sợ hãi rằng âm thanh đó sẽ lặp lại. Cuối cùng, tấm chăn được vén lên một cách chậm rãi, và người trinh sát xuất hiện ở khe hở với một vẻ mặt mà sự kiên cứng rõ ràng bắt đầu nhường chỗ trước một điều bí ẩn dường như đe dọa một mối nguy hiểm nào đó, mà mọi sự khôn ngoan và kinh nghiệm của ông đều có nguy cơ trở nên vô ích.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.