Người Mohicans Cuối Cùng

Lượt đọc: 124 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 22

❊ ❊ ❊

“Bot.—Abibl we all met?

Qui.—Pat—pat; and here’s a marvelous convenient place for our rehearsal.”

—Midsummer Night’s Dream

Độc giả hoàn toàn có thể tự tưởng tượng ra sự kinh ngạc của Heyward, chứ tôi không tài nào tả xiết. Những tên thổ dân đang rình rập bỗng chốc biến thành những con thú bốn chân; hồ nước hóa thành một cái đầm hải ly; thác nước biến thành một con đập do loài động vật chăm chỉ và khéo léo ấy dựng lên; và một kẻ thù đầy nghi vấn lại chính là người bạn tri kỷ David Gamut, bậc thầy về thánh nhạc. Sự hiện hữu của người sau mang lại biết bao hy vọng bất ngờ về hai chị em, khiến chàng thanh niên chẳng mủi lòng chần chừ lấy một giây, liền băng khỏi chỗ ẩn nấp và lao thẳng đến nhập bọn với hai nhân vật chính trong cảnh tượng ấy.

Tiếng cười của Hawkeye mãi vẫn chưa nguôi. Chẳng chút khách sáo, với một đôi tay thô kệch, hắn quay vòng Gamut trên gót chân, hết lần này đến lần khác khẳng định rằng người Huron đã cất công chăm chút quá mức cho bộ dạng của ông ta. Rồi nắm lấy tay vị giáo sĩ, hắn bóp chặt đến mức làm đôi mắt của hiền sư David rớm lệ, đồng thời chúc mừng ông ta về hoàn cảnh mới.

“Hẳn là ông đang định mở lớp luyện thanh giữa bầy hải ly phải không?” hắn nói. “Lũ quỷ ranh mãnh ấy đã nắm được nửa ngón nghề rồi đấy, vì chúng dùng đuôi nhịp phách cơ mà, như ông vừa nghe thấy đấy thôi; mà cũng may là đúng lúc, kẻo ‘kẻ giết hưu’ đã vang lên tiếng súng đầu tiên giữa chúng rồi. Tôi từng gặp những tên ngốc biết đọc biết viết còn kém xa một con hải ly già từng trải; chứ còn vụ hét tướng lên thì muôn đời loài vật sinh ra đã câm điếc! Ông nghĩ sao về một khúc ca thế này?”

David bụm đôi tai nhạy cảm lại, và ngay cả Heyward, dẫu đã được báo trước về bản chất của thứ âm thanh ấy, cũng ngước nhìn lên bầu trời để tìm con chim khi tiếng quạ kêu vang vọng khắp không gian xung quanh.

“Kìa!” gã trinh sát vừa cười vừa nói, chỉ tay về phía phần còn lại của nhóm người đang tiến đến theo hiệu lệnh; “đây mới là thứ âm thanh có giá trị tự nhiên của nó; nó mang lại hai cây súng trường tốt kề bên khửu tay tôi, chưa kể đến dao găm và rìu chiến. Nhưng chúng ta thấy anh đã bình an vô sự; giờ hãy kể cho chúng tôi nghe tung tích của hai tiểu thư đi.”

“Họ đang bị lũ ngoại đạo cầm tù,” David đáp; “và dẫu tâm thần vô cùng phiền muộn, thân xác họ vẫn được hưởng sự an toàn và thoải mái.”

“Cả hai ư?” Heyward thở hổn hển hỏi.

“Đích thị là thế. Dù hành trình của chúng ta vô cùng gian khổ và lương thực thiếu thốn, chúng ta chẳng có lý do nào khác để phàn nàn, ngoại trừ việc tình cảm bị tổn thương do phải chịu cảnh giam cầm dẫn dắt đến một vùng đất xa xôi.”

“Phước cho anh vì những lời này!” Munro run rẩy thốt lên; “Vậy là ta sắp được đoàn tụ với những đứa con thơ, nguyên vẹn và tựa thiên thần như khi ta mất chúng!”

“Tôi không dám chắc việc giải cứu họ đã cận kề,” David đầy hoài nghi đáp lại; “kẻ thủ lĩnh của đám thổ dân ấy bị ma quỷ ám ảnh đến mức chẳng thế lực nào ngoài Đấng Toàn Năng có thể thuần hóa nổi. Tôi đã thử mọi cách khi hắn thức lẫn ngủ, nhưng dường như chẳng âm thanh hay ngôn từ nào chạm tới được tâm can hắn.”

“Tên đểu cáng ấy đâu rồi?” gã trinh sát cộc lốc cắt lời.

“Hôm nay hắn đi săn nai sừng tấm cùng đám trai tráng; và ngày mai, theo tôi nghe ngóng, chúng sẽ tiến sâu hơn vào rừng, đến gần biên giới Canada hơn. Người chị được đưa đến một bộ tộc láng giềng có lều trại nằm phía bên kia chỏm đá đen kia; trong khi người em bị giữ lại giữa những phụ nữ Huron, những kẻ có nhà cửa chỉ cách đây chừng hai dặm ngắn ngủi, trên một cao nguyên nơi lửa đã thay rìu dọn sạch khoảng đất để đón tiếp họ.”

“Alice, Alice dịu dàng của tôi!” Heyward thì thầm; “em ấy đã mất đi niềm an ủi khi có chị mình bên cạnh!”

“Đúng vậy. Nhưng chừng nào lời ca tụng và tạ ơn trong thánh nhạc còn có thể xoa dịu tâm hồn trong cơn hoạn nạn, thì cô ấy vẫn chưa phải chịu đựng nhiều.”

“Thế ra nàng có tâm hồn yêu âm nhạc ư?”

“Thiên về âm hưởng trang nghiêm và thành kính hơn; dẫu phải thừa nhận rằng, bất chấp mọi nỗ lực của tôi, vị tiểu thư ấy vẫn khóc nhiều hơn cười. Những lúc như thế, tôi đành nén lại những khúc thánh ca; nhưng vẫn có không ít khoảng thời gian ngọt ngào và thoải mái để trò chuyện, khi mà tai lũ thổ dân phải kinh ngạc trước tiếng hát hòa quyện của chúng tôi.”

“Và sao họ lại để anh đi lại tự do, không người canh chừng?”

David cố nặn nét mặt ra vẻ khiêm nhường hết mực trước khi hiền hòa đáp lời:

“Chẳng có công trạng gì với một kẻ hèn mọn như tôi đâu. Nhưng, dẫu sức mạnh của thánh nhạc đã phải tạm gác lại giữa khung cảnh chiến trường đẫm máu mà chúng ta vừa đi qua, nó đã lấy lại được ảnh hưởng ngay cả trên tâm hồn của lũ ngoại đạo, và tôi được phép muốn đi đến đâu tùy ý.”

Gã trinh sát cười lớn, lấy ngón tay gõ gõ lên trán mình đầy ẩn ý, dường như để giải thích sự dung túng kỳ lạ ấy một cách thỏa đáng hơn khi hắn nói:

“Người da đỏ chẳng bao giờ làm hại một kẻ điên. Nhưng này, khi con đường đã mở rộng trước mắt, sao anh không quay đầu theo dấu vết của chính mình (nó đâu có mờ tịt như đường đi của một con sóc), để mang tin tức về cho Edward?”

Gã trinh sát, chỉ nghĩ đến bản chất kiên cường và cứng cỏi của chính mình, có lẽ đã đòi hỏi một nhiệm vụ mà David, dưới bất kỳ hoàn cảnh nào, cũng không thể làm được. Nhưng, chẳng hề đánh mất vẻ khiêm nhường, vị giáo sĩ điềm tĩnh đáp:

“Dù tâm hồn tôi rất đỗi vui mừng nếu được thăm lại những xứ sở Thiên Chúa giáo một lần nữa, đôi chân tôi thà đi theo những linh hồn mong manh được phó thác cho sự bảo bọc của mình, dấn thân vào cả vùng đất ngoại đạo của dòng Tên, chứ nhất định không lùi bước dù chỉ một bước, trong khi họ đang héo mòn trong cảnh tù đày và đau khổ.”

Dẫu ngôn ngữ mang nhiều hình tượng của David không dễ gì hiểu thấu, ánh mắt chân thành, kiên định cùng vẻ mặt chân chất của ông ta là những thứ không thể dễ dàng nhầm lẫn. Uncas bước sát lại gần hơn, nhìn người diễn thuyết với ánh mắt tán thưởng, trong khi người cha bày tỏ sự hài lòng bằng tiếng kêu ngắn gọn quen thuộc tỏ ý tán đồng. Gã trinh sát lắc đầu đáp lời:

“Chúa chẳng bao giờ định đoạt để con người dồn hết mọi nỗ lực vào cái cổ họng, mà bỏ bê những ân huệ khác tốt đẹp hơn! Nhưng hắn lại rơi vào tay mấy ả đàn bà ngốc nghếch, lẽ ra hắn phải được trau dồi học thức dưới vòm trời xanh giữa những chốn rừng thiêng nước độc này mới phải. Nào, bạn hiền; tôi từng định dùng cái còi phát ra âm thanh the thé này để nhóm lửa; nhưng vì anh quý trọng nó đến thế, hãy cầm lấy và thổi cho thật đã đời đi.”

Gamut đón lấy ống còi chuẩn âm với biểu cảm hân hoan lớn nhất mà ông cho là phù hợp với sứ mệnh trang nghiêm mình đang gánh vác. Sau khi thử nghiệm âm vực của nó nhiều lần để so với giọng hát của chính mình, và tự mãn nguyện rằng chẳng chút giai nào bị thất lạc, ông liền thực hiện một màn biểu diễn vô cùng nghiêm túc nhằm cất lên vài khổ thơ trong một trong những khúc ca dài dòng nhất nằm trong cuốn sách nhỏ mà người ta vẫn hay nhắc đến.

Tuy nhiên, Heyward đã vội vàng cắt đọc mục đích đạo đức ấy bằng cách tiếp tục đặt câu hỏi về tình trạng quá khứ và hiện tại của các bạn đồng hành, với một thái độ ngăn nắp hơn nhiều so với những xúc cảm dạt dào khi họ vừa gặp nhau. David, dẫu vẫn lưu luyến nhìn món báu vật với ánh mắt thèm thuồng, đành phải đáp lời, nhất là khi vị bô lão đáng kính cũng xen vào buổi tra hỏi với một mối quan tâm quá mức áp đảo chẳng thể chối từ. Gã trinh sát cũng không quên ném vào những câu hỏi sắc bén mỗi khi có cơ hội thích hợp. Cứ thế, dẫu bị gián đoạn liên tục bởi những âm thanh đe dọa phát ra từ chiếc còi vừa tìm lại được, những kẻ bám theo đã nắm bắt được những tình tiết chủ chốt có thể hữu ích trong việc hoàn thành mục tiêu cao cả và trọng đại của họ—đó là giải cứu hai tiểu thư.

Câu chuyện của David khá đơn giản và các sự kiện thì chẳng có bao nhiêu.

Magua đã chờ đợi trên núi cho đến khi xuất hiện thời điểm an toàn để rút lui, rồi hắn mới hạ sơn và đi theo tuyến đường dọc theo bờ tây hồ Horican hướng về phía các vùng đất thuộc địa Canada. Vì tên Huron ranh mãnh này nắm rõ từng đường đi nước bước và thừa biết không có nguy hiểm bị truy đuổi trước mắt, tốc độ di chuyển của chúng khá thong thả và chẳng hề mệt mỏi. Từ lời kể mộc mạc của David, sự hiện diện của ông ta bị ép nhận nhiều hơn là chào đón; dù cho ngay cả Magua cũng không hoàn toàn miễn nhiễm với sự kính trọng mà người da đỏ dành cho những kẻ được Đại Linh ghé thăm trí óc. Ban đêm, sự chăm sóc dành cho các tù nhân được đặt lên hàng đầu, vừa để tránh tổn hại do sương ẩm rừng sâu, vừa để đề phòng việc trốn chạy. Tại con suối, những con ngựa đã được thả tự do như đã thấy; và bất chấp sự xa xôi cùng độ dài của vết chân để lại, những mưu mẹo kể trên đã được áp dụng nhằm chặt đứt mọi manh mối dẫn đến nơi ẩn náu của chúng. Khi đến trại của bộ tộc mình, Magua, tuân thủ một nguyên tắc ít khi phá bỏ, đã tách các tù nhân ra. Cora được gửi đến một bộ tộc tạm thời chiếm giữ một thung lũng lân cận, dẫu David quá ư mù mờ về phong tục và lịch sử của người bản địa nên chẳng thể nói được điều gì thỏa đáng về tên tuổi hay tính cách của họ. Ông chỉ biết rằng họ không tham gia vào cuộc viễn chinh vừa qua chống lại pháo đài William Henry; rằng giống như người Huron, họ là đồng minh của Montcalm; đồng thời họ duy trì mối quan hệ hữu nghị nhưng đầy cảnh giác với bộ tộc hiếu chiến và dã man mà tình cờ đã đẩy họ đến gần nhau một cách đầy khó chịu trong một thời gian.

Người Mohicans và gã trinh sát lắng nghe câu chuyện ngắt quãng và không trọn vẹn của ông ta với sự quan tâm tăng dần theo từng lời kể; và chính khi ông đang cố gắng giải thích về công việc mưu sinh của cộng đồng nơi Cora đang bị giam giữ, gã trinh sát liền đột ngột hỏi:

“Anh có thấy kiểu dáng dao của họ không? Chúng mang kiểu dáng Anh hay Pháp?”

“Tâm trí tôi lúc ấy chẳng bận tâm đến những thứ phù phiếm đó, mà chỉ mải hòa quyện để an ủi các tiểu thư mà thôi.”

“Sẽ có lúc anh không còn coi con dao của thổ dân là một thứ phù phiếm đáng khinh bỉ thế đâu,” gã trinh sát đáp lại, thể hiện sự khinh miệt rõ rệt trước sự chậm tiêu của đối phương. “Họ đã tổ chức lễ hội ngô chưa—hoặc anh có biết gì về vật tổ của bộ tộc đó không?”

“Về ngô, chúng tôi đã có những bữa tiệc linh đình và sung túc; vì hạt ngô đang độ sữa vừa ngọt miệng lại vừa ấm bụng. Còn về vật tổ, tôi không hiểu nghĩa là gì; nhưng nếu nó có dính dáng chút nào đến nghệ thuật âm nhạc của người da đỏ, thì chẳng cần phải hỏi han gì họ làm gì. Họ chẳng bao giờ cất cao giọng ca ngợi, và có vẻ như họ là những kẻ bất kính nhất trong số những kẻ ngoại đạo.”

“Nói thế là anh đang bôi nhọ bản chất của người da đỏ đấy. Ngay cả người Mingo cũng tôn thờ vị Thiên Chúa chân thật và đầy yêu thương. Đó chỉ là những bị đặt độc ác của người da trắng, và tôi phải nói điều này ra để hổ thẹn cho màu da của mình, rằng lại đi bịa chuyện bắt chiến binh phải cúi đầu trước những hình nhân do chính họ tạo ra. Đúng là họ cố gắng giảng hòa với ác quỷ—ai mà chẳng thế khi đối đầu với kẻ thù không thể đánh bại! Nhưng họ chỉ hướng lên Đại Linh Thiêng và Nhân Từ để cầu xin ân huệ và sự giúp đỡ.”

“Có thể là thế,” David nói; “nhưng tôi đã thấy những hình thù kỳ dị và quái đản được vẽ lên lớp sơn của họ, mà sự ngưỡng mộ và chăm chút dành cho chúng mang theo sự kiêu ngạo tâm linh; nhất là một hình thù, và đó lại là một sinh vật ghê tởm, gớm ghiếc.”

“Có phải hình con rắn không?” gã trinh sát nhanh chóng gặng hỏi.

“Cũng tựa như thế. Nó có hình dạng của một con rùa đê tiện và đang bò trườn.”

“Hugh!” cả hai cha con người Mohicans đồng thanh thốt lên; trong khi gã trinh sát lắc đầu với vẻ mặt của một kẻ vừa phát hiện ra điều quan trọng nhưng chẳng mấy dễ chịu. Sau đó, người cha cất lời bằng ngôn ngữ của người Delaware, với một sự bình tĩnh và trang nghiêm lập tức thu hút sự chú ý của ngay cả những kẻ không hiểu nổi lời ông. Cử chỉ của ông đầy sức biểu cảm và đôi khi rất mạnh mẽ. Có lúc ông giơ cao cánh tay lên; và khi hạ xuống, hành động ấy làm vạt chiếc áo choàng nhẹ vén sang một bên, với một ngón tay đặt lên ngực như muốn nhấn mạnh ý nghĩa qua tư thế của mình. Ánh mắt Duncan dõi theo chuyển động ấy, và chàng nhận ra hình con vật vừa được nhắc đến thêu rất đẹp dẫu mờ nhạt bằng sắc mực xanh trên lườn ngực rám nắng của vị tù trưởng. Tất cả những gì chàng từng nghe về cuộc chia cắt đẫm máu của các đại tộc Delaware bỗng ùa về trong tâm trí, và chàng nín thở chờ đợi thời điểm thích hợp để lên tiếng, một sự hồi hộp gần như không thể chịu đựng nổi bởi mối quan tâm quá lớn đến cục diện này. Tuy nhiên, ý muốn của chàng đã được gã trinh sát đi trước một bước khi hắn quay sang người bạn da đỏ của mình và nói:

“Chúng ta vừa tìm thấy thứ có thể mang lại điềm lành hoặc điềm dữ cho mình, tùy theo ý trời định đoạt. Tù trưởng Sagamore thuộc dòng dõi cao quý của người Delaware, và ngài là đại tù trưởng của bộ tộc Rùa! Việc một số người thuộc dòng dõi này đang sống giữa cộng đồng mà người ca sĩ nhắc đến là điều hiển nhiên qua lời kể của ông ấy; và nếu ông ta chịu dùng một nửa hơi sức lãng phí vào những câu hỏi khôn ngoan thay vì dùng cổ họng làm cái kèn, thì chúng ta đã biết rõ họ có bao nhiêu chiến binh rồi. Nhìn chung, đây là một con đường nguy hiểm mà chúng ta đang dấn bước; bởi một kẻ thù quay lưng đi đôi khi lại mang tâm địa đẫm máu hơn cả kẻ tìm kiếm da đầu của anh.”

“Hãy giải thích đi,” Duncan nói.

“Đó là một truyền thuyết dài và buồn thảm, thứ mà tôi chẳng mặn mà gì khi nghĩ tới; bởi không thể chối cãi rằng tai họa ấy phần lớn do những kẻ mang làn da trắng gây ra. Nhưng nó đã kết thúc bằng việc quay rìu chiến chém giết lẫn nhau giữa những người anh em, và đẩy người Mingo lẫn người Delaware bước chung trên một con đường.”

“Vậy anh nghi ngờ đó là một nhánh của cộng đồng nơi Cora đang cư trú?”

Gã trinh sát gật đầu đồng tình, dù hắn có vẻ nôn nóng muốn tránh né việc bàn luận sâu hơn về một chủ đề có vẻ đầy đau buồn. Duncan lúc này đang bồn chồn liền đưa ra vài đề xuất chớp nhoáng và liều lĩnh nhằm tìm cách giải cứu hai tiểu thư. Munro dường như trút bỏ được vẻ dửng dưng, lắng nghe những kế hoạch điên rồ của chàng thanh niên với sự cung kính mà lẽ ra tuổi già và mái tóc bạc của ông không nên có. Nhưng gã trinh sát, sau khi để cho ngọn lửa tình yêu của chàng trai bớt phần hừng hực, đã tìm cách thuyết phục chàng về sự dại dột của tính vội vã, một việc đòi hỏi sự phán đoán bình tĩnh nhất và lòng can đảm tối đa của họ.

“Sẽ tốt hơn,” hắn nói thêm, “nếu để người này quay lại đó như bình thường, và anh ta cứ trú ngụ trong các lều trại, báo tin cho các tiểu thư biết về sự xuất hiện của chúng ta cho đến khi chúng ta gọi anh ta ra bằng hiệu lệnh để bàn bạc. Anh có phân biệt được tiếng kêu của con quạ với tiếng còi của con chim chiền chiện không, bạn hiền?”

“Đó là một loài chim đáng yêu,” David đáp, “và nó có khúc ca dịu dàng và u buồn! Dẫu nhịp điệu có phần hơi nhanh và lỡ nhịp.”

“Ý anh ta là con chim chiền chiện rừng,” gã trinh sát nói; “thôi được, vì anh thích tiếng còi của nó, hãy dùng nó làm hiệu lệnh. Hãy nhớ nhé, khi nghe tiếng chim chiền chiện vang lên ba lần, anh phải bước vào lều cỏ nơi người ta có thể cho rằng con chim đang đậu—”

“Dừng lại,” Heyward ngắt lời; “tôi sẽ đi cùng anh ấy.”

“Anh ư!” Hawkeye kinh ngạc thốt lên; “anh chán sống rồi à?”

“David là minh chứng sống cho thấy người Huron cũng có lòng nhân từ.”

“Ờ, nhưng David biết cách dùng cổ họng của mình theo cách mà chẳng người bình thường nào lại đi lãng phí món quà ấy cả.”

“Tôi cũng có thể đóng vai kẻ điên, kẻ ngốc, người hùng; tóm lại là bất kỳ ai hoặc mọi thứ để cứu người tôi yêu. Đừng nêu thêm phản đối nào nữa: tôi đã quyết định rồi.”

Hawkeye nhìn chàng thanh niên sững sờ không nói nên lời. Nhưng Duncan, vì nể trọng tài năng và những đóng góp của đối phương nên trước giờ vẫn ngoan ngoãn tuân theo sự chỉ đạo của hắn, giờ đây lại ra dáng kẻ bề trên với một thái độ không dễ gì lay chuyển. Chàng phất tay ra hiệu không muốn nghe bất kỳ lời can ngăn nào, rồi bằng giọng điệu điềm đạm hơn, nói tiếp:

“Anh có sẵn phương tiện ngụy trang; hãy cải trang cho tôi; hãy sơn người cho tôi luôn nếu anh muốn; tóm lại, hãy biến tôi thành bất cứ thứ gì—một kẻ ngốc.”

“Không phải phận tôi để nói rằng một kẻ vốn được nhào nặn bởi bàn tay quyền năng của Đấng Tối Cao lại cần phải thay đổi,” gã trinh sát làu bàu đầy bất mãn. “Khi các anh cử các toán quân đi chinh chiến, các anh ít ra cũng thấy việc sắp xếp các dấu hiệu và vị trí đóng quân là khẩn thiết, để những kẻ chiến đấu bên cạnh các anh biết khi nào và ở đâu có thể mong đợi một người bạn.”

“Hãy nghe đây,” Duncan ngắt lời; “anh đã nghe người theo hầu trung thành này kể về các tù nhân rằng người da đỏ thuộc hai bộ tộc, nếu không muốn nói là khác quốc gia. Với một nhóm mà anh cho là nhánh của người Delaware, chính là người mà anh gọi là ‘tóc đen’; người còn lại, là vị tiểu thư trẻ tuổi hơn, không thể chối cãi đang ở cùng kẻ thù tuyên chiến của chúng ta là người Huron. Phận sự tuổi trẻ và cấp bậc của tôi đòi hỏi phải dấn thân vào thử thách thứ hai. Trong khi anh đang thương lượng với những người bạn của mình để giải cứu một trong hai tiểu thư, tôi sẽ cứu người còn lại, hoặc là chết.”

Tinh thần bùng cháy của người lính trẻ ánh lên trong đôi mắt, và vóc dáng chàng trở nên uy nghiêm dưới sức ảnh hưởng ấy. Hawkeye, dẫu quá quen thuộc với những mưu mẹo của thổ dân để không lường trước sự nguy hiểm của canh bạc này, vẫn không biết cách nào để chống lại quyết định đột ngột ấy.

Có lẽ trong đề xuất đó có điều gì đó phù hợp với bản chất gan dạ của hắn và tình yêu ngầm dành cho những chuyến phiêu lưu mạo hiểm, thứ đã tăng lên theo năm tháng trải nghiệm cho đến khi hiểm nguy và rủi ro trở thành một phần thiết yếu để tận hưởng sự tồn tại của hắn. Thay vì tiếp tục phản đối kế hoạch của Duncan, tâm trạng hắn đột ngột thay đổi và hắn xuôi theo để thực hiện nó.

“Nào,” hắn nói với một nụ cười đầy thiện cảm; “con nai chuẩn bị lao xuống nước phải được đón đầu chứ không phải đuổi theo. Chingachgook có đủ loại màu sơn chẳng kém gì vợ của viên sĩ quan công binh, kẻ chuyên phác họa tự nhiên lên mấy mảnh giấy vụn, biến những ngọn núi trông giống như đống cỏ khô rỉ sét và đặt bầu trời xanh trong tầm với của bạn. Sagamore cũng biết cách dùng chúng đấy. Hãy ngồi xuống khúc gỗ kia; và tôi lấy mạng sống ra đảm bảo, hắn có thể biến anh thành một kẻ ngốc tự nhiên ngay tức khắc, và điều đó hoàn toàn hợp ý anh đấy.”

Duncan làm theo; và người Mohicans, nãy giờ vẫn chăm chú lắng nghe cuộc trò chuyện, liền sẵn sàng nhận trọng trách. Vốn luyện tập lâu năm trong tất cả các mưu mẹo ranh mãnh của giống loài mình, hắn phác họa bằng sự khéo léo và nhanh nhẹn tuyệt vời lớp mặt nạ kỳ quái mà người bản địa thường coi là bằng chứng của một thái độ thân thiện và bông đùa. Mọi đường nét có thể bị hiểu nhầm thành ý đồ chiến tranh tiềm ẩn đều được cẩn thận né tránh; trong khi đó, hắn lại nghiên cứu những nét vẽ có thể diễn giải thành sự hòa hiếu.

Tóm lại, hắn hoàn toàn hy sinh vẻ ngoài của một chiến binh để hóa trang thành một gã hề. Những màn biểu diễn như thế không hiếm thấy ở người da đỏ, và vì Duncan đã được ngụy trang đầy đủ qua trang phục, quả thực có lý do để tin rằng với sự am hiểu tiếng Pháp của mình, chàng có thể đóng giả làm một nghệ sĩ tung hứng đến từ Ticonderoga đang lang thang giữa các bộ tộc đồng minh và thân thiện.

Khi nghĩ rằng chàng đã được sơn đủ lớp, gã trinh sát đưa ra nhiều lời khuyên thân thiện; bàn bạc các tín hiệu, và ấn định nơi họ sẽ gặp lại nhau trong trường hợp cả hai cùng thành công. Cuộc chia tay giữa Munro và người bạn trẻ có phần đượm buồn; tuy nhiên, vị lão tướng vẫn chấp nhận sự chia ly với sự dở dang lạnh lùng mà bản chất nồng hậu và chân chất của ông sẽ chẳng bao giờ cho phép trong một tâm trạng bình thường hơn. Gã trinh sát kéo Heyward sang một bên, thông báo cho chàng ý định để vị cựu binh lại một nơi trú ẩn an toàn dưới sự bảo vệ của Chingachgook, trong khi hắn và Uncas tiếp tục dò la giữa những người mà họ có lý do để tin rằng là người Delaware. Sau đó, lặp lại những lời cảnh báo và khuyên nhủ, hắn kết thúc bằng sự trang nghiêm và nồng nhiệt khiến Duncan vô cùng xúc động:

“Và giờ, cầu Chúa phù hộ cho anh! Anh đã thể hiện một tinh thần mà tôi rất thích; bởi đó là món quà của tuổi trẻ, nhất là của một kẻ mang dòng máu nóng và trái tim quả cảm. Nhưng hãy tin vào lời cảnh báo của một người có lý do để biết mọi điều mình nói đều là sự thật. Anh sẽ cần đến bản lĩnh nam nhi cao nhất và một trí tuệ nhạy bén hơn những gì nhặt nhạnh trong sách vở, trước khi có thể qua mặt sự ranh mãnh hay đánh bại lòng dũng cảm của một tên Mingo. Cầu Chúa phù hộ cho anh! Nếu lũ Huron lấy được da đầu của anh, hãy dựa vào lời hứa của một kẻ có hai chiến binh lực lưỡng hậu thuẫn. Chúng sẽ phải trả giá cho chiến thắng đó bằng một mạng đổi lấy từng sợi tóc. Tôi nói này chàng trai trẻ, mong rằng ơn trên sẽ phù hộ cho công việc của anh, vốn hoàn toàn là việc thiện; và hãy nhớ rằng, để qua mặt lũ tiểu nhân, người ta được phép áp dụng những mánhnhới vốn không phải là bản năng tự nhiên của một kẻ da trắng.”

Duncan siết chặt bàn tay người đồng đội đáng kính đầy lưu luyến, một lần nữa gửi gắm người bạn già cho hắn chăm sóc, và gửi lại những lời chúc tốt đẹp, chàng ra hiệu cho David bước đi. Hawkeye dõi theo bóng dáng nhiệt huyết và đầy phiêu lưu của chàng thanh niên trong giây lát với vẻ ngưỡng mộ lồ lộ; rồi lắc đầu đầy hoài nghi, hắn quay người và dẫn dắt nhóm của mình khuất hẳn vào trong rừng sâu.

Tuyến đường mà Duncan và David chọn đi thẳng ngang qua bãi trống của loài hải ly và dọc theo mép bờ ao của chúng.

Khi chàng nhận ra mình chỉ đi có một mình với một kẻ quá ngây ngô và chẳng đủ khả năng hỗ trợ trong những tình huống nguy cấp, chàng mới bắt đầu thấm thía những khó khăn của nhiệm vụ mình vừa dấn thân vào. Ánh sáng đang lụi tàn làm tăng thêm vẻ ảm đạm của vùng hoang mạc tiêu điều và hoang vu trải dài ngút ngàn xung quanh, thậm chí có một sự đáng sợ ẩn giấu trong sự tĩnh lặng của những túp lều nhỏ mà chàng biết rõ đang có rất đông cư dân sinh sống. Khi ngắm nhìn những công trình tuyệt vời và sự phòng bị đáng kinh ngạc của những cư dân thông thái ấy, chàng chợt nghĩ rằng ngay cả những con thú hoang dã nơi đại ngàn này cũng sở hữu bản năng gần như tương đương với lý trí của con người; và chàng không thể không lo âu khi nghĩ về cuộc đối đầu không cân sức mà mình đã rước lấy một cách quá ư liều lĩnh. Rồi hình ảnh rực rỡ của Alice hiện về; nỗi đau khổ của nàng; hiểm nguy trước mắt; và mọi nỗi sợ hãi trong hoàn cảnh của chàng bỗng tan biến. Trấn an David, chàng tiếp tục bước đi với sải chân nhẹ nhàng, mạnh mẽ của tuổi trẻ và khát vọng.

Sau khi đi gần nửa vòng tròn quanh cái hồ, họ rẽ khỏi dòng nước và bắt đầu leo lên độ cao thoai thoải của vùng đất trũng nơi họ đang hành trình. Trong vòng nửa tiếng, họ đã đến bờ của một bãi trống khác mang đầy dấu hiệu cũng từng được tạo ra bởi loài hải ly, và có lẽ những con vật khôn ngoan ấy vì một sự cố nào đó đã buộc phải bỏ đi để chuyển đến vị trí đắc địa hơn mà chúng đang chiếm giữ. Bản năng tự nhiên khiến Duncan ngập ngừng giây lát, ngần ngại không muốn rời khỏi lớp che chở của đám bụi cây, giống như một người dừng lại để thu thập năng lượng trước khi dấn thân vào một thử nghiệm mạo hiểm nào đó mà bản thân ngầm hiểu họ sẽ cần đến tất cả sự quyết tâm. Chàng tận dụng thời gian dừng chân ngắn ngủi ấy để thu thập những thông tin có thể có qua những cái liếc nhìn vội vã.

Ở phía bên kia bãi trống, gần nơi con suối đổ ào qua những tảng đá từ cao độ lớn hơn, khoảng năm mươi đến sáu mươi túp lều được dựng lên một cách thô sơ bằng thân cây, cành cọ và đất trộn lẫn vào nhau, đang hiện ra trước mắt. Chúng được sắp xếp chẳng theo trật tự nào và có vẻ được cất lên mà chẳng mưu cầu sự ngăn nắp hay đẹp đẽ. Thật vậy, so với ngôi làng mà Duncan vừa nhìn thấy, những túp lều này kém hơn hẳn về hai mặt sau, khiến chàng bắt đầu chờ đợi một sự ngạc nhiên thứ hai chẳng kém phần kinh ngạc so với lần trước. Sự chờ đợi ấy hoàn toàn không hề thuyên giảm khi dưới ánh chạng vạng lờ mờ, chàng nhìn thấy hai mươi hoặc ba mươi bóng hình lần lượt nhô lên từ đám cỏ cao thô ráp phía trước các túp lều, rồi lại chìm khuất khỏi tầm mắt như thể đang chui xuống lòng đất. Qua những cái nhìn chớp nhoáng và vội vã về những hình thù này, chúng trông giống những bóng ma u ám lướt qua, hay một sinh vật siêu nhiên nào đó hơn là những tạo vật làm bằng da thịt tầm thường. Một dáng người gầy gò, trần trụi bỗng xuất hiện trong khoảnh khắc ngắn ngủi, quẫy mạnh tay chân vào không trung rồi vị trí đó bỗng trống hoác; hình bóng ấy bỗng xuất hiện ở một nơi khác xa xôi hơn, hoặc bị thay thế bởi một hình thù khác mang đặc điểm kỳ bí tương tự. David, nhận ra người đồng hành của mình đang chần chừ, bèn hướng theo ánh mắt của chàng và phần nào đánh thức ký ức của Heyward bằng cách lên tiếng.

“Có rất nhiều mảnh đất màu mỡ chưa được khai hoang ở đây,” ông ta nói; “và tôi có thể nói thêm mà không mang men chua của sự tự mãn tội lỗi rằng, kể từ khi tôi tạm trú ngắn ngủi tại chốn ngoại đạo này, rất nhiều hạt giống lành đã được gieo vãi dọc đường đi.”

“Các bộ tộc thích săn bắn hơn là nghệ thuật lao động của con người,” Duncan lơ đễnh đáp, mắt vẫn dán vào những sinh vật đang khiến chàng ngạc nhiên.

“Cất cao giọng ca ngợi là niềm vui chứ không phải lao động đối với tâm hồn; nhưng buồn thay, lũ trẻ này lại lãng phí món quà của chúng quá nhiều. Hiếm khi tôi tìm thấy đứa nào ở độ tuổi của chúng mà thiên nhiên lại ban tặng cho những yếu tố thánh nhạc dồi dào đến thế; và chắc chắn, chắc chắn là chẳng có ai thờ ơ với chúng hơn chúng. Đã ba đêm tôi trú ngụ ở đây, và ba lần tôi tập hợp bọn trẻ để cùng hát thánh ca; thế mà lần nào chúng cũng đáp lại nỗ lực của tôi bằng những tiếng hú hét làm lạnh cả tâm hồn tôi!”

“Anh đang nói về ai thế?”

“Về đám con cái của quỷ sứ, những kẻ đang lãng phí những khoảnh khắc quý giá vào những trò hề vô bổ kia. A! Sự kỉ luật nghiêm ngặt vốn ít khi được biết đến giữa đám người tự túng này. Ở một xứ sở rừng bạch dương, roi vọt chẳng bao giờ xuất hiện, và tôi chẳng có gì phải ngạc nhiên khi những ân huệ tuyệt vời nhất của Đấng Tối Cao lại bị hoài phí trong những tiếng kêu la thế này.”

David bụm tai lại để tránh xa bầy trẻ con, thứ âm thanh vừa vang lên lanh lảnh khắp khu rừng; và Duncan, nhếch mép cười nhạo chính sự mê tín của bản thân, dứt khoát nói:

“Chúng ta đi thôi.”

Chẳng thèm bỏ tay ra khỏi tai, bậc thầy âm nhạc tuân theo và cả hai cùng rảo bước về hướng mà David đôi khi vẫn gọi là “những chiếc lều của người Phi-li-tinh”.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.