Tôi thức giấc, mình mẩy toát mồ hôi lạnh, Bruno nằm dựa vô cửa nhà hàng thịt hai mắt mở trao tráo. Hắn cần tôi đến ngay, tôi thì không thể nào bước ra khỏi cửa. Tôi nghe hắn lầm bầm gọi tên tôi, hơi thở hắn hổn hển. Nếu chết thì tôi không thể gặp được Mouse. Không cách nào đi được.
Tôi bỏ con bé xuống trường học ở phố Burnside rồi cho xe chạy về hướng nam. Tôi đang còn chới với vì cơn ác mộng, lại phải lo giải quyết công việc sáng nay do dậy trễ, vậy là tôi phải giải quyết việc cần trước. Nếu trong túi tôi còn tiền thì chẳng cần phải đi tìm chủ nhân chiếc răng nhặt được.
Tới gần khu phố Crenshaw và Santa Barbara, trước mắt là một dãy nhà tiền chế nhỏ hẹp trên nóc dựng tấm bảng lớn, cao hơn sáu mét ngang hơn mười mét. Bảng sơn vàng với hàng chữ lớn CÔNG TY NHÀ ĐẤT.
Bên trong văn phòng bày biện như một căn phòng với bốn chiếc bàn sắt nền tráng xi măng. Bàn xếp theo hình thoi - mỗi bàn đặt ở giữa cách vách ngăn. Renee Stewart ngồi chỗ bàn nhìn ra cửa. Chị nàng, Clovis Mc Donald ngồi ở cuối dãy.
“Ông đến có việc gì ạ?”, - Renee vừa hỏi, vờ như nàng chưa gặp tôi lần nào.
Tóc nàng uốn quăn nước da đen đến nổi không còn có thể đen hơn nữa, vậy mà môi miệng và mũi nàng giống như dân ở vùng Caucase. Renee người gầy nhom, ngón tay sơn đỏ chưa kịp sửa lại, nàng mặc chiếc áo màu xanh sẫm, nếu đứng từ xa nhìn tới tưởng như nàng đang trần truồng.
“Tôi cần gặp Clovis”.
Clovis ngồi gần đó có thể nghe thấy, nhưng Renee đứng ngay dậy nói xen vào.
“Để coi có ở đây không”.
Renee mặc đồ không thấy mông đít, bước đi tự nhiên không ai để ý. Nàng bước đi uốn éo thân mình tới chỗ Clovis ngồi hai tay chống xuống bàn.
“Có khách cần gặp”, tôi nghe tiếng nàng vừa nói. Nàng chỉ tay về phía sau.
Nàng quay về chỗ cũ ngồi xuống ngước nhìn tôi.
“Mời ông vào”, vừa nói xong tay nàng nhác máy quay số.
Clovis không muốn đứng dậy. Nàng cũng không thèm đưa tay ra bắt theo đúng phép lịch sự.
“Chào ông Rawlins”, - nàng vừa cất tiếng.
“Kìa, Clo”, - tôi đây. - “Cô định dựng bức tường ngăn cách hay sao?”.
“Hở?”.
“Đấy, cô để cho Renee giả vờ như không biết cậu ngồi ở đâu. Tôi nghĩ cậu đang tính chuyện ngăn cách”.
Clovis không có óc khôi hài. Cuộc sống chật vật nàng không có dịp được cười. Người nàng thấp nhưng đẫy đà, nước da màu bánh mật. Khuôn mặt ngắn nhờ ra phía trước như một võ sĩ quyền anh đang ra đòn chờ xem đối thủ nhăn mặt. Chân mày rậm trông như đàn ông, vầng trán nhăn như đang có chuyện gì phải suy nghĩ.
“Ông đến có việc gì, ông Rawlins?”.
“Tôi đến để biết chừng nào công ty dời về Freedon’s Plaza. Cô biết là tôi chỉ có ít tiền”.
Clovis chăm chăm nhìn tôi như một kẻ cù bơ cù bất chứ không phải là một thành viên của công ty.
Nàng quê ở Dallas, nàng di cư qua LA. sau cái chết đau đớn của một anh chàng tên “Jammer” Jerry Redd. Có lẽ Jerry đang để ý dòm ngó đứa em gái út của Clovis. Nhưng Clovis gạt hắn ra bằng một khúc ống nhựa nàng giấu trong chiếc áo dài. Ba hôm sau Jerry chết, tòa xử Clovis đã phòng vệ chính đáng và được trắng án. Băng nhóm của Redd đòi lầy đầu Clovis.
Hai mươi lăm phút sau khi phiên tòa xử xong, Clovis ngồi xe buýt đi Los Angeles.
Clovis đến LA. năm 1955 trong túi chỉ còn vỏn vẹn sáu mươi lăm đô la. Nàng thuê phòng ở phố 103rd Street, tìm được một chân phục vụ nhà hàng nơi Mofass nhân viên sở nhà đất và tôi thường ghé ăn. Clovis rất lễ độ mỗi khi chúng tôi đến ăn, cô ấy cũng kính nể Mofass hơn bởi nàng cho hắn là ông chủ. Tôi thích đóng vai nhân viên dưới quyền hắn. Tôi được tiền không phàn nàn gì hết. Mọi người tử tế với tôi bởi họ mến tôi. Chẳng có ai lo lót cho tôi như Clovis biết lo lót cho Mofass.
Thời kỳ đó Mofass đổ bệnh, sụt mất hai trăm ba chục Pounds, hơi thở nặng nhọc như một con chó con. Hắn bỏ hút xì gà vì căn bệnh tàn phá hai lá phổi. Lúc đó hơi thở hắn nghe như bầy cá heo đang réo gọi hắn dưới nước trong khu công viên Pacific Ocean Park.
Mofass rất thích những món ăn do Clovis nấu sẵn ở nhà hàng. Hắn thuê phòng trọ ở phố Spruce đối diện chỗ ở của Clovis. Vậy là nàng có cơ hội để phục vụ hắn những món ăn tươi ngon miệng.
“Người có địa vị cao như ông thì đâu phải ăn đồ hộp”, - nàng nói, rồi nghiêng người xuống nhìn thấy cả bên trong. “Em sẽ mang đến cho ông món ăn tươi nếu ông có yêu cầu”.
Họ thuê nhà ở chung chưa được ba tháng. Ngay cuối năm đó. Công ty nhà đất được thành lập, Clovis lo phần quảng cáo việc kinh doanh khắp vùng phía nam LA.
Quả thật Clovis có biệt tài kinh doanh nhà đất. Nàng chọn ra một danh sách công nhân thuộc hạng trung lưu kêu gọi đầu tư xây dựng chung cư. Mofass với nàng quản lý tài sản, phân công Clovis giao dịch với chủ đất giàu có trong giới da trắng. Nàng cam đoan sẽ đặt quyền lợi dân da trắng lên trên bọn hàng xóm da đen bởi nàng biết rõ từng ngở ngách, được người thuê mướn tin cậy.
Trong vòng ba năm, tập đoàn Freedom’s Trust là một tổ hợp kinh doanh của dân Negro, sở hữu mười hai dãy nhà còn công ty Esquire Redly là người đại diện hợp pháp cùng với hai mươi dãy nhà do dân da trắng ngoài công ty quản lý.
Công ty Esquire do tôi đại diện trong phạm vi cho phép, vậy mà Clovis không hài lòng. Trước đây nàng biết tôi nắm hết toàn bộ tài sản do Mofass đứng tên nhưng lại không chịu nhìn nhận tôi là một người tài ba.
“Ta không thể dời qua bên Freedom’s Plaza”, - nàng nói.
“Cô nói sao?”.
“Chẳng ai thèm đếm xỉa đến bọn mình đâu”.
“Còn luật sư đâu?”, - tôi hỏi lại.
Clovis cong môi lên tỏ vẻ căm giận, nàng nói: “Chẳng giúp gì được. Cả khu đất đã quy hoạch. Chính quyền thành phố định xây dựng một nhà máy xử lý chất thải tại đó”. - Clovis nhìn lại hồ sơ để trên bàn. Nàng muốn báo cho tôi biết không thể nào bàn đến chuyện đã được dự báo trước.
“Nhưng ta đã được phép. Nếu được phép thì tổ chức phải tôn trọng lời hứa, đúng không?”
Tổ hợp Freedom’s Trust là một ý tưởng đáng đề cao nếu Clovis bắt tay vào việc. Dưới bàn tay mọi thứ đều sinh lợi nên khi tôi gợi ý nàng vui vẻ chấp nhận ngay và cả tôi cũng hài lòng.
Tôi còn sở hữu một số tài sản có giá trị ở thành phố Compton, tôi được quyền ưu tiên mua thêm nữa. Clovis tập trung toàn bộ tài sản của Freedom’s Trust mua một khu đất kế cận theo thỏa thuận xây dựng một trung tâm thương mại riêng biệt là Freedom’s Plaza, gồm có siêu thị, cửa hàng thiết bị gia dụng và một dãy cửa hiệu nhỏ do người da đen làm chủ và quản lý tài sản.
Tất cả đã lên kế hoạch và được phép xây dựng. Tôi phải vay tiền để thực hiện kế hoạch và muốn thành công thì phải chi thật nhiều tiền. Mọi việc được bàn tính chu đáo ngay buổi sáng hôm nay. Phải nói là quá trình chuấn bị có chậm hơn. Tôi cảm thấy chưa hài lòng nhưng không nghĩ là giấy phép bị gác lại.
“Nếu lỡ chi phí hết mà chưa xong công trình thì sao?”.
“Chính quyền thành phố cho ngưng thi công công trình, hoàn trả đúng giá trị sử dụng đất”.
“Nhưng chúng ta chưa thực hiện kế hoạch, còn nợ chi phí, tiền thuế”, - tôi nói - “Giá cũ chưa công khai đã chiếm hết một nửa số dư nợ”.
“Ta thử thời vận xem sao, thưa ông Rawlins. Dù sao ta phải lo trả chi phí cho kế hoạch và tiền thuê luật sư, kể cả chi phí quản lý”.
“Phí quản lý là sao? Cô đòi tôi phải trả nợ sau khi chi hết tiền của tôi sao? Tôi không còn một xu dính túi”.
“Ông còn mấy dãy nhà đó, ông Rawlins. Bán đi hai dãy đủ tiền trả nợ, còn dư chút tiền bỏ túi”.
“Nói sao?”, - tôi bước tới đứng tựa sát mép bàn, vừa lúc đó cánh cửa mở ra. Tôi không cần phải quay lại nhìn bởi nghe tiếng bước chân nện thình thịch biết ngay là bọn Tyrone, Clavell, Crover and Fitts - mấy đứa em trai của Clovis. Trước đó Renee đã gọi máy cho bọn chúng. Hễ lúc nào Clovis cần là bọn chúng đến ngay.
“Ông nghe tôi nói chứ, ông Rawlins”.
“Tôi muốn nói chuyện với Mofass về chuyện này”. Tôi nghe có tiếng vo ve trong đầu. Cái nóng bên trong gian phòng khiến tôi căm ghét bọn chúng.
“Ông đang nói chuyện với tôi đây, ông Rawlins. Tôi đang có mặt tại văn phòng. Ông muốn nói chuyện riêng với tôi sao?”.
Tôi đứng ngay dậy xô ngã chiếc ghế. Tôi bước đi ngang qua chỗ bọn trẻ đang đứng, ra thẳng ngoài cửa.
Mùa này ở Santa Ana thời tiết khô khốc, cơn gió nóng như chắn ngang trước mặt tôi, mồ hôi ướt đẫm xuống dưới chân, tôi vừa ra tới chỗ chiếc xe Pontiac đời 56 đang đậu. Khẩu súng săn của Dickhead còn đó. Tôi bẻ gập đôi nạp đạn vào. Chỉ cần bắn hai phát cũng đủ gây sát thương những ai đang ở trong phòng. Tôi với tay lấy túi đạn để nạp thêm nằm trong góc chỗ để lốp xe, và tôi nhìn thấy con búp bê của con bé Feather kẹt trong đó. Hai tuần trước nó chạy đi lục tìm mãi, mất con búp bê nó khóc suốt cả mấy đêm liền, nó lo sợ không ai cho búp bê ăn. Trong thoáng chốc tôi quên hết nỗi tức giận, hình dung vẻ mặt hớn hở của con bé lúc tôi đem về con búp bê dính lem dầu nhớt xe.
“Rawlins”, - Fitts vừa cất tiếng, giọng có vẻ như kiêu ngạo. Hắn đứng trước đầu xe.
“Gì hở?” - Ngồi trong thùng xe, liếc nhìn thấy hắn, tôi vui miệng đáp .
“Tôi muốn nói là ông bỏ xe đó.
Fitts còn trẻ, khỏe mạnh. Hắn cố làm ra vẻ nhăn nhó nhưng vẫn không che giấu được nét mặt non choẹt của hắn.
Tôi buông súng xuống đóng cốp xe lại.
“Cậu đừng bận tâm đến tôi”, - tôi nói - “Tôi đây mới đáng phải lo”.
Không để hắn kịp mở miệng, tôi đi ngang qua trước mặt mở cửa xe ngồi trước tay lái. Fitts đứng nhìn chăm chằm vào cửa hông xe, vẻ mặt hắn ngờ nghệch. Hắn nhìn theo xe tôi, bọn anh em nhà nó chạy tới xúm nhau lại bu quanh nó như đối với chó nhà.
Nghĩ tới thằng nhóc đó, tôi chới với. Hắn chẳng có được một khái niệm đơn giản nào về thế giới quanh nó. Hắn còn trẻ khỏe mạnh, còn có anh chị em lo lắng chăm sóc cho hắn.
Tôi có thể giết nó - vì một duyên cớ không đâu. Rồi có ngày hắn sẽ bị người ta giết chết. Như Mouse đã giết Bruno.
Tôi muốn giết luôn cả Clovis, nghĩ lại không có lý do gì phải giết nàng. Nàng có tội tình gì. Lỗi tại tôi mà ra. Tôi muốn giành phần thưởng của tên da trắng, và rồi bị tóm. Tôi đã quên đi bài học lúc nhỏ là phải biết thân phận mình. Tôi thật là điên rồ. Đến lúc này tôi phải tự mình trả giá cho cái tội đó.
Từ trong tiềm thức tôi nhận ra mình không thể là một người làm ăn lương thiện được. Bởi lẽ tôi hăng say vì công việc chung. Từ nhỏ tôi làm lụng đầu tắt mặt tối, quét dọn, làm vườn, giao hàng. Tôi không chê một việc nào, tôi muốn làm tới nơi tới chốn. Tôi muốn làm được việc.
Nhiệt tình không được bao lâu. Mỗi khi nó trỗi dậy tôi chợt nhớ Bruno và Mouse sao mà người ta dễ chết đến vậy.
Tôi nhớ lại ở quê nhà Texas và Louisiana, chuyện chém giết đánh đập như cơm bữa. Một người tay không cũng có thể giết chết ta nếu ta chưa tìm được hung khí, phụ nữ chết vì sinh khó, đàn ông chết sống vì kéo bè gỗ bởi không ai dám làm việc đó. Nhìn đâu cũng thấy người chết vì phong tình, sưng phổi, ho lao…
Thế rồi chiến tranh thế giới lần hai nổ ra. Người chết hàng triệu. Có người chết trong nhà, có người nầm chết chơ vơ giữa mùa đông tuyết giá. Ở châu Âu xây dựng những nhà xưởng khổng lồ để đưa con người vào chỗ chết, hoặc phải tự đào hố chôn mình trước khi lãnh một viên đạn ngay sau ót.
Có những ngày tôi nhìn thấy người chết nhiều hơn cả người đang sống. Ở một vùng thị trấn bên Ba Lan, tôi đã nhìn thấy một cái hố khoảng sáu mét vuông chất đầy những xác chết trẻ em. Thật là thương tâm khi chưa có đứa nào đủ tuổi biết nói.
Suốt quãng thời gian đó tôi vẫn nuôi hy vọng. Tôi hy vọng đến một nơi vào đúng thời điểm mà cái chết không còn là nỗi ám ảnh trong tâm trí tôi. Điều đó không có nghĩa là một ngày kia không còn ai phải chịu chết, bởi tôi biết cái chết luôn gần kề bên ta. Nhưng không phải là cái chết vô nghĩa giết nhau vì chán chường hoặc là bày trò chơi trẻ con.
Khi hay Bruno bị giết chết, tôi hiểu ra quanh tôi là một thế giới đầy bạo lực và những kẻ tâm thần. Tất cả nhan nhản khắp nơi, trên khuôn mặt non choẹt của thằng Fitts, từ cái nhìn hoảng hốt bệnh hoạn của Dickhead và thậm chí cả tôi cũng không tránh khỏi. Cái ấn tượng căm giận đó đã ăn sâu vào từng đường gân sớ thịt bên trong người tôi.
Cứ thế nó lớn dần mãi, sâu sắc thêm.