Ở Kars và Frankfurt

Những Màu Khác

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 106 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ở Kars Và Frankfurt

❊ ❊ ❊

Tôi xiết bao vui sướng khi có mặt ở Frankfurt, thành phố nơi Ka, nhân vật trong tiểu thuyết Tuyết của tôi, trải qua mười lăm năm cuối đời. Nhân vật của tôi là người Thổ và do đó không có liên hệ gì với nhân vật của Kafka, họ chỉ có liên hệ với nhau về mặt văn chương (tôi sẽ nói thêm về những mối liên hệ văn chương sau). Tên thật của Ka là Kerim Alakuşoğlu, nhưng anh ta không khoái tên này lắm, nên anh ưa cái phiên bản rút gọn hơn. Anh ta đến Frankfurt lần đầu vào những năm 1980 để tị nạn chính trị. Anh không đặc biệt quan tâm đến chính trị - thậm chí anh còn không ưa gì chính trị; cả cuộc đời anh là thi ca. Nhân vật của tôi là một nhà thơ sống ở Frankfurt. Anh nhìn về chính trị Thổ Nhĩ Kỳ như ai đó khác có thể nhìn về một tai nạn - một thứ dính líu tới anh mà anh chưa bao giờ chủ định. Nếu có đủ thời gian, tôi muốn nói đôi lời về chính trị và tai nạn. Đó là một đề tài mà tôi đã suy nghĩ rất nhiều. Nhưng đừng lo: Mặc dù tôi viết những cuốn tiểu thuyết dài, hôm nay ý kiến của tôi sẽ ngắn gọn.

Với hy vọng miêu tả khoảng thời gian Ka lưu lại Frankfurt trong những năm 1980 và đầu 1990 mà không phạm quá nhiều sai sót, năm năm trước, tức năm 2000, tôi từng đến đây. Trong cử tọa hôm nay có hai người đã rất nhiệt tình giúp đỡ tôi, và chính trong lúc họ dẫn tôi đi thăm thú vòng quanh mà chúng tôi đã ghé cái công viên nhỏ đằng sau những tòa xưởng cũ kỹ gần Gutleustrasse nơi nhân vật của tôi trải qua những năm cuối đời. Để hình dung tốt hơn lộ trình Ka đi mỗi sáng từ nhà đến thư viện thành phố, nơi anh sẽ vùi cả ngày ở đó, chúng tôi đi bộ từ quảng trường phía trước trạm xe điện, dọc phố Kaiserstrasse, ngang qua những tiệm bán đồ tình dục và cửa hàng rau quả của người Thổ, tiệm hớt tóc và tiệm kebab trên phố Münchnerstrasse đến tận Quảng trường Tháp đồng hồ, băng qua ngay trước ngôi nhà thờ nơi chúng ta tụ họp hôm nay. Chúng tôi đi vào cửa hàng Kaufhof, nơi Ka mua chiếc áo khoác mà anh luôn cảm thấy thoải mái khi mặc suốt bao nhiêu năm. Suốt hai ngày, chúng tôi lượn quanh khu phố cũ nghèo mà người Thổ ở Frankfurt lấy làm nhà, thăm viếng các nhà thờ, tiệm ăn, hội đoàn cộng đồng và quán cà phê. Đây là tiểu thuyết thứ bảy của tôi, nhưng tôi nhớ là đã ghi chép chi tiết tỉ mỉ một cách không cần thiết giống như người mới vào nghề, cân nhắc từng chi tiết một, hỏi những câu đại loại, Liệu tàu điện có thực sự đi qua góc phố này trong những năm 1980 không?

Khi đến Kars, thị trấn nhỏ miệt Đông Bắc Thổ Nhĩ Kỳ nơi phần lớn tiểu thuyết của tôi diễn ra, tôi cũng làm y như vậy. Vì biết rất ít về Kars, tôi đến đó rất nhiều lần trước khi quyết định sử dụng thị trấn này làm bối cảnh cho câu chuyện; trong thời gian lưu lại đó, tôi gặp nhiều người và nhiều bạn bè trong khi khám phá từng con phố, từng cửa tiệm của thị trấn. Tôi viếng thăm vùng hẻo lánh nhất và bị lãng quên nhất của nơi này, thị trấn hẻo lánh nhất và bị lãng quên nhất Thổ Nhĩ Kỳ, trò chuyện với những người thất nghiệp suốt ngày ngồi trong quán cà phê thậm chí chẳng có lấy hy vọng tìm được việc làm một lúc nào đó; trò chuyện với cả các học sinh trung học, với cảnh sát đồng phục và thường phục, những người bám theo tôi bất kể tôi đi đâu, và với các nhà xuất bản của tờ báo có tia ra không bao giờ quá 250.

Mục đích của tôi ở đây không phải là kể lại làm thế nào mà tôi lại viết một tiểu thuyết có tên là Tuyết. Tôi dùng câu chuyện này như cách đi vào đề tài mà tôi dần hiểu rõ ràng hơn sau từng ngày mới, và điều đó, theo quan điểm của tôi, có vị trí trung tâm trong nghệ thuật tiểu thuyết: vấn đề “tha nhân”, “người lạ”, “kẻ thù” vang vang trong đầu mỗi chúng ta - hoặc, đúng hơn là, vấn đề làm thế nào cải biến cái kiếp nhân sinh này. Sự thể rằng vấn đề của tôi không đóng vai trò trung tâm của mọi cuốn tiểu thuyết đã rõ như ban ngày: Dĩ nhiên, một tiểu thuyết có thể giúp nâng cao sự hiểu biết của nhân loại bằng cách tưởng tượng ra các nhân vật trong các tình huống mà chúng ta thân thuộc, quan tâm và nhận ra từ kinh nghiệm của riêng chúng ta. Khi ta gặp ai đó trong tiểu thuyết gợi ta nhớ đến chính mình, mong ước đầu tiên của ta là muốn nhân vật đó giải thích cho ta nghe ta là ai. Nên ta kể những câu chuyện về những người mẹ, người cha, ngôi nhà, đường phố trông cứ như của chính ta, và chúng ta đặt những câu chuyện này vào trong những thành phố mà chính mắt ta nhìn thấy, trong những đất nước ta biết rõ nhất. Nhưng những quy tắc lạ lùng và ảo diệu điều khiển nghệ thuật tiểu thuyết có thể mở ra gia đình, nhà cửa và thành phố của chúng ta theo cách khiến mọi người cảm thấy như là họ có thể thấy bóng dáng gia đình, nhà cửa, thành phố của chính họ phản ảnh trong đó. Người ta thường nói rằng cuốn Gia đình Buddenbrook của Thomas Mann là một tiểu thuyết mang tính tự truyện quá mức. Nhưng khi lần đầu tiên cầm cuốn đó lên, khi là một cậu trai mười bảy tuổi, tôi không đọc nó như đọc chuyện gia đình nhà Mann - vì vào thời điểm đó tôi biết rất ít về Mann - mà như đọc một cuốn sách về một gia đình chung chung, một gia đình mà tôi có thể dễ dàng đồng cảm. Cơ chế tuyệt diệu của tiểu thuyết cho phép ta đem chuyện của chính ta trình bày cho toàn nhân loại như là chuyện về ai đó khác.

Cho nên, vâng, người ta có thể định nghĩa tiểu thuyết như một hình thức cho phép người thạo nghề biến câu chuyện riêng của anh ta thành câu chuyện về ai đó khác, nhưng đây chỉ là một khía cạnh của môn nghệ thuật vĩ đại và đầy mê hoặc đã lôi cuốn bao nhiêu người đọc và gầy cảm hứng cho bao nhiêu người viết trong gần bốn trăm năm. Đó chính là cái khía cạnh khác đã thu hút tôi đến với đường phố của Frankfurt và Kars: dịp để viết về cuộc đời của những người khác như thể là cuộc đời của chính tôi. Chính là bằng cách nghiên cứu thế này mà các tiểu thuyết gia có thể bắt đầu thử nghiệm lằn ranh xác định ranh giới cái “tha nhân” kia và trong khi làm như vậy thì cũng thay đổi đường biên chính căn cước của ta. Tha nhân trở thành “ta” và ta trở thành “tha nhân”. Lẽ dĩ nhiên một tiểu thuyết có thể đạt được hai đặc điểm này cùng lúc. Ngay cả khi mô tả cuộc đời ta như thể cuộc đời của người khác, nó cũng mang lại cho ta cơ hội mô tả cuộc đời của người khác như thể cuộc đời chính ta.

Các tiểu thuyết gia mong muốn bước vào cuộc đời của người khác không nhất thiết viếng thăm những con đường và những thành phố khác như tôi đã làm khi chuẩn bị viết Tuyết. Các tiểu thuyết gia muốn đặt mình vào địa vị người khác và đồng cảm với nỗi đau hay ưu phiền của họ sẽ trước tiên và trên hết vận dụng trí tưởng tượng của họ. Tôi sẽ minh họa cho quan niệm của tôi bằng một ví dụ gợi nhớ điều nói ở phần đầu về mối liên hệ văn chương: “Nếu một sáng nọ tỉnh giấc tôi thấy mình biến thành một con gián khổng lồ, điều gì sẽ xảy ra với tôi?” Đằng sau mỗi tiểu thuyết lớn là một tác giả mà niềm vui thú lớn nhất của tác giả đó đến từ việc bước vào một hình thái khác và làm nó sống dậy - và xung lực mạnh mẽ và sáng tạo nhất của anh ta là kiểm nghiệm những giới hạn của căn cước của chính mình. Nếu một sáng kia thức dậy thấy mình hóa thành gián, tôi sẽ cần phải làm nhiều hơn chứ không chỉ nghiên cứu côn trùng; nếu tôi đoán được rằng mọi người khác trong nhà sẽ kinh hãi và hoảng sợ khi thấy tôi bò trên tường và trần và cha mẹ tôi sẽ ném táo lên người tôi, tôi sẽ vẫn phải tìm cách để trở thành Kafka. Nhưng trước khi cố gắng tưởng tượng tôi thành ai khác, có lẽ tôi phải làm một cuộc điều tra nho nhỏ. Điều tôi cần nhất để cân nhắc là: Ai là “tha nhân” mà chúng ta đang cố tưởng tượng ra?

Cái sinh vật này vốn chẳng giống gì ta lại đề cập những lo lắng, sợ hãi và thù ghét nguyên sơ nhất của ta. Chúng ta biết rất rõ đây là những cảm xúc khởi động trí tưởng tượng và cho ta sức mạnh để viết. Nên tiểu thuyết gia tuân theo các quy tắc của môn nghệ thuật của mình thì sẽ nhận thấy rằng khi anh ta cố gắng đồng cảm với “tha nhân” thì điều đó chỉ dẫn đến sự tốt đẹp mà thôi. Anh ta cũng sẽ biết rằng việc suy nghĩ về tha nhân, cái tha nhân mà qua đó mọi người đều nhìn thấy bóng dáng đối nghịch của chính mình, sẽ giúp anh ta giải phóng bản thân khỏi giới hạn của chính mình. Lịch sử của tiểu thuyết là lịch sử giải phóng con người; Bằng cách đặt mình vào vị thế của người khác, bằng cách dùng trí tưởng tượng để rũ bỏ các căn cước của ta, ta có thể mang lại tự do cho chính mình.

Nên cuốn tiểu thuyết lớn của Defoe không chỉ dựng nên hình ảnh Robinson Crusoe mà còn cả nô lệ của anh, Thứ Sáu. Còn Don Quixote, ngoài việc tạo dựng nên nhân vật hiệp sĩ sống trong thế giới của những cuốn sách, nó cũng dựng nên nhân vật người hầu Sancho Panza thuyết phục không kém. Tôi thích thú đọc Anna Karenina, cuốn tiểu thuyết xuất sắc nhất của Tolstoy, như một người đàn ông có hôn nhân hạnh phúc thử hình dung ra một phụ nữ hủy hoại cuộc hôn nhân bất hạnh của mình và rồi chính mình. Cảm hứng của Tolstoy là từ một nam tiểu thuyết gia khác, người này tuy bản thân không bao giờ kết hôn song tìm thấy con đường dẫn vào tâm hồn của quý bà bất mãn Emma Bovary. Trong Moby Dick, tác phẩm vĩ đại nhất trong các tiểu thuyết phúng dụ, Melville thăm dò những nỗi sợ hãi bám lấy nước Mỹ vào thời của ông - cụ thể là mối lo sợ về những nền văn hóa lạ lẫm - mà trung gian là cá voi trắng. Những ai trong chúng ta khám phá thế giới thông qua sách vở không thể nghĩ về người Mỹ miền Nam mà không đồng thời nghĩ về những người da đen trong các tiểu thuyết của Faulkner. Nếu không tạo được ra họ một cách khả tín, tác phẩm của ông sẽ trở nên kém cỏi. Trong cùng cách thức đó, chúng ta có thể cảm thấy rằng một tiểu thuyết gia người Đức muốn viết cho mọi người sống ở nước Đức đọc mà lại - một cách rõ ràng hay không rõ ràng - không tưởng tượng ra được những người Thổ của nước họ cùng với những bất an họ tạo ra, thì có nghĩa là tác giả còn chưa biết đủ. Cũng như vậy, một tiểu thuyết gia Thổ Nhĩ Kỳ không hình dung ra được người Kurd và các tộc người thiểu số khác, và quên lãng những điểm đen trong dòng chảy lịch sử ngầm của đất nước thì, theo tôi, sẽ tạo ra tác phẩm hời hợt.

Trái ngược với điều hầu hết mọi người tưởng, chính trị của một người như tiểu thuyết gia không liên quan gì đến các xã hội, đảng phái, băng nhóm mà người đó có thể thuộc về - hoặc dành cho bất kỳ lý tưởng chính trị nào. Chính trị của tiểu thuyết gia xuất phát từ trí tưởng tượng của anh ta, từ khả năng của anh ta tưởng tượng mình là người khác. Quyền lực này không chỉ cho phép anh ta khám phá những thực tại của nhân loại trước đây không được chú ý, nó còn khiến anh ta trở thành người phát ngôn của những người không thể tự phát ngôn cho mình, những người mà cơn giận dữ của họ không được lắng nghe, lời của họ bị đè nén. Tiểu thuyết gia có thể, như tôi, không có lý do thực sự nào để ham mê chính trị, và nếu có lý do đi nữa, động cơ của anh ta rốt cuộc cũng không thành vấn đề lắm. Ngày hôm nay chúng ta không đọc tiểu thuyết chính trị vĩ đại nhất, Lũ người quỷ ám của Dostoyevsky, như ý tác giả thoạt tiên mong muốn - như là áng hùng văn chống lại những người phương Tây hóa và theo hư vô chủ nghĩa ở Nga; chúng ta đọc cuốn sách đó như là bản phản ánh nước Nga thời kỳ đó, một nước Nga cho ta biết cái bí mật lớn lao khóa kín bên trong tâm hồn người Slav. Một bí mật như thế, chỉ tiểu thuyết mới có thể khai phá.

Lẽ hiển nhiên, chúng ta không thể hy vọng đi đến chỗ thấu hiểu các vấn đề sâu sắc thế này chỉ bằng cách đọc báo và tạp chí hay xem ti vi. Để hiểu những chỗ độc đáo trong lịch sử các quốc gia khác và dân tộc khác, để dự phần vào những đời sống độc đáo làm ta băn khoăn, kinh sợ bởi chiều sâu của chúng và kinh ngạc bởi vẻ giản dị của chúng - chúng ta chỉ có thể thu nhặt được những chân lý đó bằng cách đọc cẩn thận và kiên nhẫn các tiểu thuyết lớn. Tôi muốn nói thêm rằng khi lũ quỷ của Dostoyevsky bắt đầu thì thầm vào tai người đọc, kể cho anh ta nghe về bí mật bắt rễ trong lịch sử, một bí mật sinh ra từ kiêu hãnh và thất bại, hổ thẹn và giận dữ, thì chúng cũng đang chiếu rọi bóng dáng chính lịch sử của người đọc. Người nói thì thầm kia là một nhà văn tuyệt vọng, người yêu và ghét phương Tây ngang bằng nhau, một người không thể tự coi mình là người phương Tây nhưng lại bị quyến rũ bởi vẻ chói ngời của văn minh phương Tây, người thấy mình mắc kẹt giữa hai thế giới.

Giờ ta chạm đến vấn đề Đông-Tây. Các phóng viên mê mẩn đề tài này một cách quá đáng, nhưng khi nhìn thấy hàm ý của nó trong vài bộ phận của báo chí phương Tây, tôi có xu hướng nghĩ rằng tốt hơn là không nên mảy may động chạm đến vấn đề Đông-Tây. Bởi vì hầu như lúc nào nó cũng mang theo giả định rằng các quốc gia nghèo khó phương Đông nên nghe theo mọi thứ mà phương Tây và Hoa Kỳ có thể nhân tiện đề xuất. Cũng không tránh được cái rằng văn hóa, cách thức sống, và chính trị của những nơi như nơi tôi được nuôi dạy, cái thứ đó sẽ đặt ra những vấn đề mệt mỏi, và có một mong đợi rằng những nhà văn như tôi tồn tại chỉ để trả lời những câu hỏi mệt mỏi đó. Dĩ nhiên có một vấn đề Đông-Tây, và nó không đơn giản là một công thức hiểm ác do phương Tây bịa ra và áp đặt. Vấn đề Đông-Tây thực ra là vấn đề về thịnh vượng và nghèo khổ và về hòa bình.

Vào thế kỷ 19, khi đế quốc Ottoman bắt đầu cảm thấy mình bị lấn lướt bởi một phương Tây ngày càng năng động, gánh chịu những thất bại lặp đi lặp dưới tay các quân đội châu Âu và thấy quyền lực của mình dần sa sút, trỗi dậy một nhóm tự gọi mình là Người Thổ Trẻ. Cũng như các đấng tinh hoa sẽ đi theo trong những thế hệ sau này, không loại trừ cả những hoàng đế Ottoman cuối cùng, họ bị lóa mắt bởi sự vượt trội của phương Tây, nên đã khởi động chương trình cải cách theo hướng Tây hóa. Logic tương tụ cũng là nền tảng của Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại và những cải cách Tây hóa của Kemal Atartük. Và nền tảng của bản thân logic này là cáo buộc rằng sự yếu kém và nghèo khổ của Thổ Nhĩ Kỳ là hệ quả của truyền thống, văn hóa cổ xưa của nó, của cách thức nó tổ chức tôn giáo của mình về mặt xã hội.

Xuất thân từ một gia đình trung lưu Istanbul đã Tây hóa, tôi phải thừa nhận rằng đôi khi tôi cũng khuất phục trước niềm tin này, một niềm tin mà tuy ý định là tốt đẹp song lại hẹp hòi và thậm chí là chất phác. Những người theo đường lối Tây hóa mơ về việc biến đổi và làm cho nước mình và văn hóa của mình giàu có hơn bằng cách bắt chước phương Tây. Vì mục đích tối hậu của họ là tạo dựng một quốc gia giàu hơn, hạnh phúc hơn, và mạnh mẽ hơn, họ cũng có khuynh hướng trở nên có tinh thần quốc gia và dân tộc chủ nghĩa mãnh liệt; dĩ nhiên ta có thể nhìn thấy những khuynh hướng này ở phong trào Người Thổ Trẻ và những người theo đường lối Tây hóa trong Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ trẻ tuổi. Nhưng, như là một phần của các phong trào hướng về phương Tây, họ vẫn phê phán sâu sắc những đặc điểm căn bản nhất định của đất nước và văn hóa của mình; cho dù có thể làm vậy trong cùng tinh thần và cùng phong cách như các nhà quan sát phương Tây, họ cũng cho rằng văn hóa của mình là khiếm khuyết, đôi khi là chẳng có giá trị gì. Điều này làm phát sinh một cảm xúc sâu sắc và bối rối khác: sự hổ thẹn.

Tôi thấy sự hổ thẹn phản ánh trong một vài phản ứng đối với các tiểu thuyết của tôi và đối với nhận thức về mối quan hệ của chính tôi với phương Tây. Khi chúng tôi ở Thổ Nhĩ Kỳ thảo luận vấn đề Đông-Tây, khi chúng tôi nói về những căng thẳng giữa truyền thống và hiện đại (với tôi đây là mấu chốt của vấn đề Đông- Tây), hoặc khi chúng tôi tránh né mối quan hệ giữa Thổ Nhĩ Kỳ và châu Âu, vấn đề hổ thẹn luôn luôn lởn vởn. Khi cố hiểu sự hổ thẹn này, tôi luôn cố liên hệ với mặt đối lập của nó, sự kiêu hãnh. Như ta đều biết, bất cứ nơi đâu có quá nhiều kiêu hãnh, bất cứ nơi đâu khi người ta hành xử một cách quá tự hào, thì cũng luôn có nỗi ám ảnh về sự xấu hổ và nhục nhã của họ. Vì bất cứ nơi đâu khi một dân tộc khác cảm thấy bị làm nhục sâu sắc, chúng ta có thể trông đại tinh thần dân tộc kiêu hãnh trỗi lên bề mặt. Các tiểu thuyết của tôi làm từ những chất liệu đen tối này, từ nỗi hổ thẹn này, niềm kiêu hãnh này, sự giận dữ này, và cảm quan thất bại này. Bởi xuất thân từ một quốc gia đang gõ lên cánh cửa châu Âu, tôi biết quá rõ đôi khi những cảm xúc mong manh này có thể dễ dàng phát hỏa và sự thịnh nộ trở nên không kiểm soát được như thế nào. Điều tôi cố làm ở đây là nói về sự hổ thẹn này như một bí mật được thầm thì, như lần đầu tiên tôi nghe nói về nó trong tiểu thuyết của Dostoyevsky. Vì bằng cách chia sẻ những hổ thẹn bí mật của chúng ta mà chúng ta được giải phóng: Đây là điều mà nghệ thuật tiểu thuyết đã dạy cho tôi.

Nhưng chính vào khoảnh khắc được giải phóng tôi bắt đầu cảm thấy trong lòng mình tính phức tạp của chính trị đại diện và những nan đề về mặt luân lý của việc phát ngôn nhân danh người khác. Đây là một trách nhiệm khó khăn cho bất kỳ ai, mà đặc biệt khó khăn cho một tiểu thuyết gia bản thân đầy những xúc cảm như tôi vừa mô tả. Thế giới tự do phóng khoáng của trí tưởng tượng có thể dường như lừa bịp, và chưa bao giờ lừa bịp hơn trong tấm gương của một tiểu thuyết gia ưa châm chích và dễ nổi sùng nhưng lại tràn ngập lòng tự hào dân tộc. Nếu ta giữ bí mật một thực tại, ta hy vọng nó sẽ làm ta hổ thẹn trong yên lặng, song hy vọng đó bị phản bội khi tiểu thuyết gia sử dụng trí tưởng tượng để cải biến cùng cái thực tại đó, tạo dựng nó thành một thế giới song song đòi hỏi sự chú ý. Khi tiểu thuyết gia bắt đầu chơi đùa với những quy tắc quản lý xã hội, khi anh ta đào xới bên dưới bề mặt để khám phá khối hình ẩn giấu của nó, khi anh ta khám phá thế giới bí mật đó như một đứa trẻ hiếu kỳ, bị điều khiển bải những cảm xúc mà anh ta không hiểu mấy, thì chuyện không thể tránh khỏi là anh ta sẽ làm cho gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và các công dân khác cảm thấy bất an. Nhưng đây là một sự bất an hạnh phúc. Vì chính bằng cách đọc tiểu thuyết, các câu chuyện và các huyền thoại mà chúng ta bắt đầu hiểu ra những ý tưởng điều khiển thế giới mà ta đang sống; vì chính văn chương hư cấu giúp ta tiếp cận cái sự thật vốn bị gia đình, trường lớp và xã hội của chúng ta che giấu; chính nghệ thuật tiểu thuyết cho phép chúng ta đặt câu hỏi chúng ta thực sự là ai.

Chúng ta thảy đều đã biết niềm hoan lạc của việc đọc tiểu thuyết; chúng ta thảy đều đã biết cảm giác rờn rợn khi men theo lối đi dẫn vào thế giới của ai đó khác, dự hưởng vào thế giới đó bằng cả linh hồn và thân thể, và mong đợi thay đổi nó, bị choán ngợp trong văn hóa của nhân vật, trong mối quan hệ của anh ta với các vật thể cấu thành thế giới của anh ta - nói theo lời tác giả, trong những quyết định của anh ta và trong những thứ anh ta để ý khi câu chuyện dần hé mở. Chúng ta biết cái chúng ta đang đọc là sản phẩm của trí tưởng tượng của tác giả và đồng thời là sản phẩm của cả thế giới thực mà anh ta đã mang ta vào trong đó. Tiểu thuyết không hoàn toàn là tưởng tượng mà cũng không hoàn toàn thực. Đọc tiểu thuyết là đương đầu với cả trí tưởng tượng của tác giả lẫn thế giới thực mà bề mặt của nó chúng ta chỉ mới hiểu lớt phớt nhờ tính hiếu kỳ ngọ nguậy không yên. Khi ta rúc vào một góc, khi ta nằm xuống giường, khi ta duỗi người trên đi văng với một cuốn tiểu thuyết trên tay, trí tưởng tượng của ta đi đi lại lại giữa thế giới trong cuốn tiểu thuyết đó và thế giới mà chúng ta hằng sống. Cuốn tiểu thuyết trên tay ta có thể đưa ta đến một thế giới mà ta chưa bao giờ viếng thăm, chưa bao giờ nhìn thấy và cũng chưa bao giờ biết tới. Hoặc nó có thể đưa ta vào những chiều sâu ẩn giấu của những nhân vật mà bề ngoài có vẻ giống những người ta biết rõ nhất.

Tôi đang hướng sự chú ý đến các khả năng này một cách riêng lẻ bởi vì đôi khi tôi nghĩ ngợi về một tầm nhìn bao gồm cả hai thái cực. Đôi khi tôi cố hình dung ra, từng người một, một tập hợp độc giả ẩn nấp trong các góc nhà, khoanh người trên ghế bành với những cuốn tiểu thuyết; tôi cũng cố hình dung ra sơ đồ đời sống hằng ngày của họ. Rồi, trước mắt tôi, hàng ngàn, hàng chục ngàn người đọc sẽ hình thành, tỏa ra khắp các nẻo đường thành phố, và trong khi họ đọc, họ mơ giấc mơ của tác giả, hiện hữu hóa các nhân vật, và nhìn thấy thế giới của tác giả. Nên giờ đây những độc giả này, cũng như bản thân tác giả, cố gắng tưởng tượng ra người kia; họ cũng đang đặt chính họ vào chỗ của người khác. Đây là những lúc mà ta cảm thấy sự khiêm tốn, thương cảm, bao dung, tiếc nuối và tình yêu khuấy động trong tim ta, bởi văn chương lớn không giao cảm với quyền lực phán xét của ta mà với khả năng của ta đặt mình vào chỗ của người khác.

Khi tôi tưởng tượng những độc giả này sử dụng trí tưởng tượng của họ để đặt bản thân họ vào chỗ của ai đó khác, khi tôi hình dung các thế giới của họ, từng con đường, từng khu dân cư, khắp cả thành phố, một khoảnh khắc chợt vụt đến khi tôi nhận ra tôi đang thực sự nghĩ về một xã hội, một nhóm người, cả một quốc gia - cái mà bạn sẽ - tưởng tượng nó trở nên hiện hữu. Các xã hội, bộ tộc và quốc gia hiện đại thực hành suy nghĩ sâu sắc nhất về chính mình bằng cách đọc tiểu thuyết; thông qua đọc tiểu thuyết, họ có khả năng tranh luận về việc họ là ai. Nên ngay cả nếu ta cầm một cuốn tiểu thuyết lên với hy vọng chỉ để giải khuây cho bản thân, thư giãn, đào thoát khỏi sự chán chường của đời sống thường ngày, chúng ta bắt đầu, mà không nhận ra, hình dung nên cái tập thể, quốc gia, xã hội mà chúng ta là thành viên. Đây cũng là nguyên cớ khiến tiểu thuyết không chỉ lên tiếng về niềm kiêu hãnh và hân hoan của một quốc gia mà còn về sự giận dữ, những tổn thương và sự hổ thẹn của quốc gia đó. Chính là vì chúng nhắc nhở độc giả về sự hổ thẹn, niềm kiêu hãnh và vị trí nhỏ nhoi của họ trong thế giới mà các tiểu thuyết gia có thể khơi dậy những giận dữ như thế, và thật là hổ thẹn khi ta vẫn thấy những bùng nổ của sự hẹp hòi - khi ta vẫn thấy sách bị đốt và tiểu thuyết gia bị truy tố.

Tôi lớn lên trong một gia đình mà mọi người đều đọc tiểu thuyết. Cha tôi có một thư viện lớn, hồi tôi còn bé ông thường thảo luận về các tiểu thuyết gia lớn mà tôi đề cập ở trên - Mann, Kafka, Dostoyevsky, Tolstoy - theo cách mà các ông bố khác thảo luận về các tướng lĩnh và vị thánh nổi tiếng. Từ tuổi còn rất bé, các tiểu thuyết gia này - các tiểu thuyết gia vĩ đại này - trong tâm trí tôi được kết nối với ý niệm về châu Âu. Nhưng điều này không chỉ bởi vì gia đình tôi, vốn nhiệt thành tin tưởng vào Tây hóa và do đó, trong ngây thơ, mong muốn tin rằng bản thân gia đình và đất nước mình nhiều chất Tây phương hơn thực tế; đó cũng là vì tiểu thuyết là một trong những thành tựu nghệ thuật vĩ đại nhất phát sinh từ châu Âu.

Tiểu thuyết, cùng với nhạc giao hưởng và hội họa hậu Phục hưng, theo tôi là một trong những cột trụ của văn minh châu Âu; đó chính là những thứ tạo nên một châu Âu như nó bây giờ, là phương tiện mà nhờ đó châu Âu đã tạo lập và phô diễn bản chất của nó, nếu có một thứ như thế. Tôi không thể nghĩ ra một châu Âu không có tiểu thuyết. Giờ đây tôi đang nói về tiểu thuyết như một cách nghĩ, cách hiểu và cách tưởng tượng và cũng là cả cách tưởng tượng mình thành ai khác. Ở những nơi khác trên thế giới, trẻ em và thanh niên gặp gỡ châu Âu trong chiều sâu của nó đầu tiên bằng những cuộc mạo hiểm đầu tiên vào tiểu thuyết; với tôi cũng vậy. Cầm một cuốn tiểu thuyết lên là bước vào trong biên giới châu Âu; bước vào một lục địa mới, một văn hóa mới, một nền văn minh mới; học cách, thông qua quá trình của các khám phá này, thể hiện mình bằng khao khát mới và cảm hứng mới; và do dó, tin rằng đó là một phần của châu Âu - đây là điều tôi nhớ mình đã cảm thấy. Ta cũng hãy nhớ rằng các tiểu thuyết lớn của Nga và châu Mỹ Latinh đều có nguồn gốc từ văn hóa châu Âu… do đó chỉ cần đọc tiểu thuyết là hiểu rằng biên giới châu Âu, lịch sử châu Âu và các đặc thù quốc gia thường xuyên thay đổi. Châu Âu ngày xưa tả trong các tiểu thuyết Nga, Pháp, Đức trong thư viện của cha tôi, giống như châu Âu hậu chiến của tuổi thơ tôi và châu Âu ngày nay, là một nơi chốn luôn luôn thay đổi. Và sự hiểu biết của chúng ta về cái là châu Âu cũng thế. Tuy nhiên tôi có một cái nhìn bất biến, và tôi sẽ nói về điều đó ngay bây giờ.

Hãy để tôi bắt đầu bằng cách nói rằng châu Âu là một đề tài rất tế nhị, nhạy cảm đối với người Thổ. Chúng tôi đây, gõ lên cánh cửa nhà bạn, xin vào, lòng tràn đầy hy vọng cao vời và những dự định tốt đẹp nhưng cũng thấy khá lo lắng và sợ bị từ chối. Tôi cảm thấy những điều đó rõ rệt như những người Thổ khác, và những điều tất cả chúng tôi cảm thấy là rất gần với “sự hổ thẹn lặng lẽ” mà tôi mô tả ở phần trước. Khi Thổ Nhĩ Kỳ gõ lên cánh cửa châu Âu, khi chúng tôi cứ chờ đợi chờ đợi hoài và châu Âu hứa hẹn rồi quên biến chúng tôi đi, chỉ để nâng cao các yêu cầu - và trong khi châu Âu xem xét những ảnh hưởng toàn diện của việc Thổ Nhĩ Kỳ trở thành thành viên đầy đủ của châu Âu - thì đáng tiếc chúng tôi đã chứng kiến một thái độ cứng rắn hơn chống lại Thổ Nhĩ Kỳ tại vài phần của châu Âu, ít nhất là ở một số chính trị gia. Trong những cuộc bầu cử gần đây, khi họ bày tỏ thái độ chống lại người Thổ và Thổ Nhĩ Kỳ, tôi thấy phong cách của họ nguy hiểm chẳng khác gì kiểu cách mà một số chính trị gia ở nước tôi áp dụng.

Chỉ trích những khiếm khuyết về dân chủ ở Thổ Nhĩ Kỳ hay tìm ra sai lầm trong nền kinh tế của nó là một chuyện; coi thường toàn bộ văn hóa Thổ Nhĩ Kỳ - hay văn hóa của những hậu duệ người Thổ ở đây tại Đức, những người mà đời sống thuộc loại khó khăn và nghèo khổ nhất nước, lại là một chuyện khác hẳn. Còn với những người Thổ ở Thổ Nhĩ Kỳ: Khi nghe được họ bị đánh giá một cách phũ phàng như thế, họ lại được nhắc nhở rằng họ đang gõ lên một cánh cửa và đang chờ được cho vào, và dĩ nhiên họ cảm thấy không được chào đón. Hài hước nhất là việc thổi bùng thái độ chống Thổ mang tính chất dân tộc chủ nghĩa ở châu Âu đã châm ngòi cho sự chống đối mang tính chất quốc gia chủ nghĩa thô lỗ nhất ngay tại Thổ Nhĩ Kỳ. Những ai tin vào Liên minh châu Âu phải ngay lập tức nhìn ra rằng lựa chọn đích thực mà chúng tôi phải thực hiện là lựa chọn giữa hòa bình và chủ nghĩa quốc gia. Hoặc chúng tôi có hòa bình, hoặc chúng tôi có chủ nghĩa quốc gia. Tôi tin lý tưởng về hòa bình nằm ở trung tâm của Liên minh châu Âu, và tôi tin rằng cơ hội cho hòa bình mà Thổ Nhĩ Kỳ mời chào châu Âu cuối cùng sẽ không bị khước từ. Chúng ta đã đi đến chỗ mà chúng ta phải lựa chọn giữa quyền năng của trí tưởng tượng của tiểu thuyết gia và loại chủ nghĩa quốc gia chấp nhận việc đốt sách của tiểu thuyết gia.

Trong vài năm qua, tôi nói nhiều về Thổ Nhĩ Kỳ và nỗ lực tham gia EU của Thổ Nhĩ Kỳ, và tôi thường xuyên gặp phải những câu hỏi ngờ vực và những cái nhăn mặt, vậy hãy để tôi trả lời các câu hỏi đó ở đây và ngay bây giờ. Điều quan trọng nhất mà Thổ Nhĩ Kỳ và nhân dân Thổ Nhĩ Kỳ phải mang đến cho châu Âu và Đức, không mảy may nghi ngờ gì, là hòa bình; chính là sự an ninh và sức mạnh sẽ đến từ khao khát của một quốc gia theo đạo Hồi muốn gia nhập châu Âu, và sự phê chuẩn khao khát hòa bình này. Những tiểu thuyết gia vĩ đại nhất tôi đọc khi còn bé và trẻ tuổi định nghĩa châu Âu không chỉ về phương diện niềm tin Thiên Chúa mà còn về sự khát khao mạnh mẽ của các cá nhân. Chính là vì những nhân vật này vùng vẫy tự giải thoát, thể hiện sự sáng tạo của họ, và hiện thực hóa giấc mơ của họ mà tiểu thuyết của họ giao cảm với trái tim tôi. Châu Âu đã được thế giới phi phương Tây kính trọng vì những lý tưởng mà nó đã làm rất nhiều để nuôi dưỡng: tự do, bình đẳng, bác ái. Nếu linh hồn của châu Âu là sự khai sáng, bình đẳng và dân chủ, nếu nó là một liên minh trên cơ sở hòa bình, thì Thổ Nhĩ Kỳ có một chỗ trong đó. Một châu Âu mà lại định nghĩa chính nó trên phương diện lòng tin Thiên Chúa hẹp hòi thì cũng như một Thổ Nhĩ Kỳ chỉ cố khai thác sức mạnh từ tôn giáo, sẽ là một nơi quay lưng tách rời khỏi thực tại, ràng buộc với quá khứ nhiều hơn tương lai.

Trưởng thành trong một gia đình thế tục Tây phương hóa ở phần châu Âu của Istanbul, không khó khăn gì để tôi - hay những người như tôi - tin vào Liên minh châu Âu. Đừng quên rằng, từ khi tôi còn bé, đội bóng của tôi, FenerbahÇe, đã chơi ở Cúp châu Âu. Có hàng triệu người Thổ như tôi hoàn toàn tin tưởng vào Liên minh châu Âu. Nhưng điều quan trọng hơn là hầu hết người Thổ bảo thủ ngày nay và người Thổ theo đạo Hồi, và cùng họ là những đại diện chính trị của họ, cũng muốn nhìn thấy Thổ Nhĩ Kỳ nằm trong Liên minh châu Âu, góp phần hoạch định tương lai châu Âu, mơ tưởng đến hiện thực hóa điều đó và chung tay xây dựng nó. Sau hàng thế kỷ chiến tranh và mâu thuẫn, không thể coi nhẹ cử chỉ thân hữu này; gạt phắt nó sẽ gây ra những nuối tiếc và thất vọng lớn lao. Cũng hệt như việc tôi không thể tưởng tượng ra một Thổ Nhĩ Kỳ mà không có viễn tượng châu Âu, tôi không thể tin vào một châu Âu không có viễn tượng Thổ Nhĩ Kỳ.

Tôi xin lỗi vì đã nói quá dài về chính trị. Thế giới mà trên hết tôi vẫn muốn thuộc về, dĩ nhiên, là thế giới của tưởng tượng. Từ bảy đến hai mươi hai tuổi, tôi mơ trở thành họa sĩ, nên tôi lang thang trên những nẻo đường Istanbul vẽ phong cảnh thành phố. Như đã kể trong cuốn Istanbul, tôi bỏ hội họa năm hai mươi hai tuổi và bắt đầu viết tiểu thuyết. Bây giờ tôi nghĩ rằng dẫu là hội họa hay văn chương, cái mà tôi muốn đều giống nhau: Cái thu hút tôi đến hội họa và văn chương là sự hứa hẹn bỏ lại sau lưng cái thế giới nhàm chán, nhàu nhĩ, nát tan này để tiến tới một thế giới sâu sắc hơn, phong phú hơn, và đa dạng hơn. Để đạt tới địa hạt huyền ảo kia, cho dù tự thể hiện bằng đường nét và màu sắc như quãng đời trẻ tuổi của tôi, hay bằng ngôn từ, tôi cũng phải bỏ ra hàng giờ mỗi ngày ngồi một mình, tưởng tượng từng cung bậc của nó. Cái thế giới khuây khỏa mà tôi dựng xây từ ba mươi năm qua khi tôi ngồi một mình trong góc của tôi hầu như một cách chắc chắn được làm từ những chất liệu của thế giới mà chúng ta đều biết - từ những thứ mà ta có thể thấy trên đường phố cũng như nội thất của Istanbul, Kars và Frankfurt. Nhưng chính sự tưởng tượng - sự tưởng tượng của một tiểu thuyết gia - mang lại cho cái thế giới được bao bọc bởi chuyện hằng ngày cái vẻ cụ thể, huyền diệu và linh hồn của nó.

Tôi sẽ kết thúc bằng mấy lời về cái linh hồn này, cái cốt lõi mà tiểu thuyết gia vật vã cả đời để mong chuyển tải. Đời chỉ có thể vui nếu ta có thể tìm cách đặt cái cam kết lạ lùng và bí ẩn này vừa vào một cái khung. Gần như hạnh phúc và bất hạnh của ta không xuất phát từ chính cuộc đời mà từ ý nghĩa ta gán cho nó. Tôi dành cả đời cố gắng khai phá ý nghĩa ấy. Hay nói cách khác, cả đời tôi đã ngao du qua những ồn ã huyên náo của thế giới đang lao nhanh, khó khăn và hỗn độn ngày nay, ngoặt qua lối này lối nọ theo từng vặn vẹo, uốn khúc của cuộc đời, tìm kiếm một khởi đầu, một quãng giữa, một kết thúc. Theo quan điểm của tôi, đây là cái mà chỉ có thể tìm thấy trong tiểu thuyết. Kể từ khi xuất bản tiểu thuyết Tuyết, mỗi khi đặt chân trên đường phố Frankfurt, tôi cảm thấy bóng ma của Ka, nhân vật có khá nhiều điểm chung với tôi, và tôi cảm thấy như thể tôi thực sự nhìn thấy cái thành phố mà tôi đã tưởng tượng, như thể tôi đã bằng cách nào đó chạm vào trái tim của nó.

Mallarmé đã nói ra chân lý, “Mọi thứ trong thế giới tồn tại là để được đưa vào một quyển sách.” Không nghi ngờ gì, loại sách được trang bị tốt nhất để thẩm thu mọi thứ trên thế giới chính là tiểu thuyết. Sự tưởng tượng - khả năng chuyển tải ý nghĩa đến cho người khác - là quyền năng vĩ đại nhất của nhân loại, và trong nhiều thế kỷ nó đã tìm thấy sự thể hiện chân thực nhất của nó trong tiểu thuyết. Tôi xin nhận Giải thưởng Hòa bình của Hiệp hội Sách của Đức để ghi nhận ba mươi năm trung thành tận tụy với thể loại nghệ thuật tuyệt diệu này, và từ đáy lòng tôi xin cảm ơn các bạn.

ors: Essays and A Story ebook©MotSAch Nhã Nam & NXB Văn Học tve-4u©vctvegroup | 07-04-2021
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.