Sự ngạc nhiên của Şirin

Những Màu Khác

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 106 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Sự Ngạc Nhiên Của Şirin

❊ ❊ ❊

Tôi là một tiểu thuyết gia. Cho dù đã học được bao nhiêu từ lý thuyết đi chăng nữa, thậm chí có lúc còn bị lý thuyết thu hút, tôi thường cảm thấy có nhu cầu tránh né nó. Bây giờ tôi hy vọng sẽ mua vui cho bạn bằng một vài câu chuyện, và thông qua đó, đề xuất một vài ý tưởng của riêng tôi.

Nếu có một khu vườn trong những giấc mơ của bạn - một khu vườn bạn chưa bao giờ thấy trong đời, có lẽ bởi vì nó ở bên kia một bức tường cao - cách tốt nhất để tưởng tượng ra khu vườn chưa bao giờ nhìn thấy đó là kể những câu chuyện khơi gợi những hy vọng và sợ hãi của bạn.

Một lý thuyết tốt, cho dù là lý thuyết đã ảnh hưởng đến ta một cách sâu sắc và thuyết phục ta, sẽ mãi là lý thuyết của ai đó khác mà không phải của ta. Nhưng một câu chuyện hay, một khi đã ảnh hưởng đến ta một cách sâu sắc và thuyết phục được ta, sẽ trở thành câu chuyện của chính ta. Những câu chuyện xưa, những câu chuyện rất xưa, đều thế. Không ai nhớ ai là người đầu tiên kể chúng. Chúng ta tẩy xóa mọi ký ức về cách chúng lần đầu được thể hiện. Mỗi lần kể mới, chúng ta nghe câu chuyện ấy như thể mới nghe lần đầu. Bây giờ tôi sẽ kể bạn nghe hai câu chuyện như vậy.

Chuyện đầu tiên là chuyện tôi cố kể lại theo phong cách của mình trong Cuốn sách đen. Tôi muốn xin lỗi những ai trong các bạn đã đọc cuốn này - mặc dù những câu chuyện như thế khoác lên những lớp ý nghĩa mới qua mỗi lần kể: Gazzali[1] kể câu chuyện sau trong Ihya-ul Ulum[2]; Enveri[3] cô đọng nó lại trong bốn câu thơ; Nizami sử dụng câu chuyện trong bài thơ Iskendername[4], Ibni Arabi[5] kể nó, và Rumi cũng kể lại trong Mesnevi.

Một ngày kia một bậc cai trị nọ - một hoàng đế, một vị hãn, một ông vua - bố cáo một cuộc thi vẽ, trong cuộc thi đó các họa sĩ Trung Hoa và các họa sĩ từ các quốc gia phía Tây bắt đầu thách thức nhau: Chúng tôi vẽ đẹp hơn các ngài; Không, chúng tôi vẽ đẹp hơn… Sau khi cân nhắc vấn đề, hoàng đế - cứ cho đó là một hoàng đế - quyết định cho hai bên thử tài. Ông giao cho họ hai bức tường đối diện nhau trong hai căn phòng liền kề, vì như thế ông sẽ dễ dàng so sánh tác phẩm của họ. Giữa hai bức tường đối diện nhau là một bức rèm; khi rèm được kéo lại và các phe họa sĩ không cồn nhìn thấy nhau, họ bắt tay vào việc. Các họa sĩ phương Tây lấy màu và cọ ra bắt đầu vẽ và phết màu. Trong khi đó, các họa sĩ Trung Hoa quyết định rằng trước hết họ cần phải quét sạch bụi bặm, nên họ bắt đầu lau và đánh bóng bức tường bên mình. Công việc kéo dài hàng tháng. Trong một phòng giờ đã có một bức tường được vẽ đầy những bức tranh màu sắc rực rỡ. Trong phòng kia là một bức tường đã được đánh bóng đến mức nó đã biến thành một tấm gương. Khi hết thời gian, bức rèm giữa hai căn phòng được mở ra. Đầu tiên hoàng đế xem tác phẩm của các họa sĩ phương Tây. Đó là một bức tranh rất đẹp, và hoàng đế hết sức ấn tượng. Khi nhìn vào bức tường mà các họa sĩ Trung Hoa đã vẽ, ông thấy phản chiếu của những bức tranh tuyệt diệu trên bức tường đối diện. Hoàng đế trao giải cho các họa sĩ Trung Hoa, những người đã biến bức tường thành một tấm gương.

Câu chuyện thứ hai cũng xưa như chuyện đầu. Nó cũng có nhiều dị bản. Nó xuất hiện trong Nghìn lẻ một đêm, trong các chuyện kể của con két về Tutiname, và trong chuyện về Hüsrev và Şirin của Nizami, bản thân nó được đưa vào nhiều cuốn sách khác. Tôi sẽ cố gắng tóm tắt bản của Nizami.

Şirin là một công chúa Armenia xinh đẹp tuyệt trần. Hüsrev là một hoàng tử, con trai của một vị vua Ba Tư. Şapur muốn Hüsrev - chủ nhân của mình - yêu Şirin, và muốn Şirin yêu Hüsrev. Với ý này trong đầu anh lên đường tới vương quốc của Şirin. Ngày kia, khi Şirin đi vào rừng cùng với đoàn tùy tùng để ăn uống, anh giấu mình giữa đám cây. Rồi ở đó anh vẽ một bức tranh về vị chủ nhân khôi ngô tuấn tú của mình, treo tranh lên một thân cây, rồi lẩn đi. Khi Şirin nô đùa trong rừng cùng các người hầu, nàng trông thấy bức tranh Hüsrev treo trên một cành cây và đem lòng yêu mến chàng trai trong tranh, Şirin không tin vào tình yêu của mình; nàng muốn quên đi bức tranh và phản ứng của mình trước bức tranh ấy. Rồi, trong một chuyến đi chơi trong một khu rừng khác, chuyện y như vậy lại xảy ra. Şirin một lần nữa lại xao xuyến vì bức tranh; nàng yêu nhưng vô vọng. Trong chuyến dạo chơi thứ ba, khi Şirin lại nhìn thấy bức tranh của Hüsrev treo trên một cành cây, nàng biết rằng nàng đã yêu chàng trong vô vọng. Nàng chấp nhận tình yêu của mình và bắt đầu đi tìm kiếm con người nàng đã thấy qua tranh.

Bằng cách tương tự, Şapur muốn chủ nhân của mình yêu Şirin, nhưng trong trường hợp này anh không dùng tranh mà dùng lời lẽ. Sau khi hai bên đều tương tư nhau, một người qua tranh và một người qua lời kể, hai người trẻ tuổi này bắt đầu tìm kiếm nhau. Mỗi người lên đường hướng về đất nước của người kia. Đường đi của họ giao nhau bên bờ một dòng suối, nhưng họ không nhận ra nhau, Şirin, mệt mỏi vì chuyến đi, cởi bỏ quần áo và bước xuống nước. Giây phút Hüsrev mắt nhìn thấy nàng, chàng chợt mụ mẫm. Đây có phải là giai nhân mà chàng được biết qua các câu chuyện kể? Vào một lúc mà chàng không đang ngắm nàng, Şirin cũng thấy Hüsrev. Nàng cũng hết sức xao xuyến. Nhưng Hüsrev không mặc chiếc áo choàng đỏ vốn có thể giúp nàng nhận ra chàng. Nàng tin chắc vào cảm giác của mình nhưng ngạc nhiên và bối rối quá nên suy nghĩ thế này: Đó là một bức tranh treo trên một cành cây, nhưng người đàn ông trước mắt ta là một người bằng xương bằng thịt. Cái ta thấy treo trên cành cây là một bức họa, nhưng đây là một con người thực.

Trong phiên bản của Nizami, câu chuyện về Hüsrev và Şirin tiếp tục với vẻ thanh lịch tối đa. Điều tôi có thể dễ dàng đồng cảm nhất ở đây là sự ngạc nhiên của Şirin, cái cách nàng dao động giữa hình ảnh và thực tại. Tôi thấy vẻ ngây thơ của nàng - sự nhạy cảm của nàng trước một bức tranh, cái cách nàng để cho một hình ảnh nhóm lên khao khát trong mình - như là điều mà ngày nay ta vẫn có thể hiểu được. Và có lẽ tôi cũng nhìn thấy vẻ ngây thơ ấy, trong tình cảm mà Nizami dành cho cái truyền thống cứ khiến mọi việc phải xảy ra ba lần. Nhưng nỗi băn khoăn mà Şirin cảm thấy khi lần đầu nhìn thấy chàng Hüsrev tuấn tú cũng là băn khoăn của chúng ta: Ai là Hüsrev “thật”? Cũng như Şirin, ta tự vấn, Có phải sự thật nằm trong thực tại, hay trong hình ảnh? Bên nào khiến ta xúc động sâu sắc hơn, bức tranh chàng Hüsrev tuấn tú hay chính bản thân chàng?

Mỗi chúng ta trả lời các câu hỏi ấy theo cách riêng của mình. Khi chúng ta nghe hay đọc những câu chuyện này, những câu hỏi căn bản này quay lại với chúng ta. Chúng đến với ta vào những lúc ta đang đắm chìm trong suy tư hay đang đọc một câu chuyện, xem một cuốn phim, hoặc cảm thấy mong manh và ngây thơ. Cái nào có ảnh hưởng mạnh hơn đối với chúng ta, bức tranh chàng trai hay chính chàng trai?

Những người kể chuyện phương Đông, khi bàn về câu chuyện cuộc thi tài giữa các họa sĩ, luôn luôn đưa ra những giải thích lọt tai về việc tại sao các họa sĩ Trung Hoa giành được giải thưởng của hoàng đế. Điều khiến tôi quan tâm không phải là sự thông thái của những người kể chuyện mà là cái gì đó khác phản ánh đời sống của chính câu chuyện, một cái gì đó mà tấm gương trong câu chuyện tiết lộ: Tấm gương nhân lên, tấm gương mở rộng ra, nó cũng khiến chúng ta cảm thấy như thể chúng ta khiếm khuyết, như thể chúng ta phần nào giả tạo hay vô vị. Như thể chúng ta không hoàn thiện. Rồi, tùy thuộc chúng ta can đảm chừng nào, chúng ta cũng cất bước ra đi: cũng một dạng hành trình mà Hüsrev và Şirin dấn bước ra đi vì tình yêu. Chúng ta đi tìm “người kia” để hoàn thiện mình. Đây là một hành trình đưa chúng ta vượt khỏi bề mặt, đi vào chiều sâu, gần hơn với trung tâm. Sự thật nằm ở xa. Ai đó ở đâu đó bảo ta như thế, và bây giờ ta lên đường đi tìm nó. Văn chương là câu chuyện của hành trình này. Mặc dù tin vào hành trình này, tôi không tin rằng có một trung tâm chờ được khám phá ở một vùng đất xa xôi.

Đây có thể là nguồn cơn của nỗi buồn hay lòng lạc quan. Bạn có thể gọi nó là một bài học chúng tôi học được từ cuộc sống ở các quốc gia như đất nước chúng tôi vốn quá cách xa trung tâm. Nếu tôi thấy mình tin vào tình thế tiến thoái lưỡng nan mà cuộc thi tài của vị hoàng đế kia đặt ra, hoặc nếu tôi chịu thua trước sự ngạc nhiên của Şirin và hỏi đúng cái câu hỏi mà tôi nên tránh nhất: Thì tôi buộc phải nói rằng tôi đã đi hết cả đời mà chưa bao giờ chạm tới cái trung tâm ấy, chưa bao giờ đạt tới sự chân thực ấy, sự thật tinh khiết ấy. Nhưng câu chuyện của tôi cũng là câu chuyện của hầu hết mọi người trên thế giới.

Trước khi đọc Dante tôi đã nghe những câu chuyện vui lấy cảm hứng từ Thần khúc. Trước khi xem Nhà độc tài của Chaplin, tôi đã thấy nó được sao chép trong một xê ri phim truyền hình Thổ tên là Ibrahim biến mất. Tôi bắt đầu biết tới và yêu thích các nhà Ấn tượng chủ nghĩa từ những bản in lại được xé ra từ các tạp chí và trưng trên vách các tiệm cắt tóc và cửa hàng rau quả. Tôi bắt đầu biết đến thế giới thông qua Tintin - cũng như hầu hết các cuốn sách khác, qua bản dịch tiếng Thổ. Tôi có được hứng thú về lịch sử từ các quốc gia mà lịch sử không giống lịch sử chúng tôi. Cả đời tôi đã tin rằng các tòa nhà tôi đã sống và các đường phố tôi đã dạo qua là những bản bắt chước vụng về các đường phố và các tòa nhà đâu đó ở phương Tây. Bàn ghế tôi ngồi là bản sao của những bản gốc trong phim Mỹ; chỉ mãi sau này, khi xem lại các bộ phim ấy, tôi mới nhận ra điều này. Tôi đã so sánh rất nhiều gương mặt mới với những gương mặt mà tôi từng thấy trên phim hay ti vi, và tôi đã lẫn lộn chúng. Tôi đã học được về danh dự, lòng can đảm, tình yêu, tình thương mến, sự trung thực và cái xấu bằng cách đọc về chúng nhiều hơn là biết đến chúng trong đời thực. Tôi không thể nói được rằng bao nhiêu phần trong nỗi hân hoan của tôi hay sự nghiêm túc có mục đích của tôi, trong cách đứng hay cách nói của tôi, là bẩm sinh còn bao nhiêu phần tôi đã sao chép một cách vô thức từ các hình mẫu khác. Tôi cũng không biết trong số các hình mẫu ấy bao nhiêu lại là bản sao của một bản gốc hay bản sao khác. Cũng có thể nói giống như vậy về lời lẽ của tôi. Có lẽ đây là lý do tại sao tốt hơn cả là cứ nhắc lại những gì người khác đã nói.

Oğuz Atay (1934-1977), một trong những tiểu thuyết gia xuất sắc nhất Thổ Nhĩ Kỳ, người chịu ảnh hưởng sâu đậm của các nhà văn thể nghiệm châu Âu từ Joyce cho đến Nabokov, từng nói, “Tôi là bản sao của một cái gì đó, nhưng tôi đã quên mất cái gì đó là cái gì rồi.” Cái trung tâm nơi sự thật có thể trú ngụ thật ra ở rất xa! Hầu hết thế giới không thuộc phương Tây đều biết điều này rồi. Chúng ta biết điều đó mà không hay biết rằng chúng ta biết điều đó. Giờ đây chúng ta khám phá cái chúng ta đã biết.

Chủ nghĩa hiện đại văn chương là một trong những phản ứng cuối cùng cho cuộc kiếm tìm tính chân thực này; bắt rễ từ chủ nghĩa lãng mạn, nó theo đuổi sự thanh khiết. Nếu tiếng vọng của nó nghe được tại đây ở Thổ Nhĩ Kỳ, thì nó cũng rất yếu ớt. Tôi không thể nói tôi thấy điều này là thất vọng. Như hầu hết mọi người trên thế giới, tôi đã trải qua hầu hết đời mình chờ đợi một điều gì đó xảy ra.

Nhưng giờ cái chúng ta có trong tay là những phân mảnh vô tận. Có phải đã có một ông vua triết gia theo cái cách mà Plato mường tượng, ông không thể đưa ra một quyền hay một lý do nhất quán trong việc lựa chọn giữa các họa sĩ vẽ trên tường và các họa sĩ biến bức tường thành một cái gương soi. Câu chuyện thi tài giữa các họa sĩ mang dấu vết dụ ngôn cái hang nổi tiếng của Plato[6]. Trong thế giới không thuộc phương Tây, và đặc biệt truyền thông của họ, câu hỏi liệu câu chuyện này hoặc thực ra là bất cứ câu chuyện hay hình ảnh nào khác là bản gốc hay bản sao của một bản gốc, vào thời điểm này, là một vấn đề chỉ dành cho các nhà ngữ văn học lỗi thời hay các sử gia nghệ thuật. Sự thật mà chúng ta từng tin là ẩn giấu xa, rất xa, đằng sau các bức rèm và những cái bóng, có lẽ nó đã tan biến mất rồi. Nếu sự thật có tồn tại ở đâu, thì nó nằm ngay trong ký ức của ta. Tôi sẽ sung sướng hơn nếu chúng ta dùng những phân mảnh đang có trong tay này, những hình ảnh và những câu chuyện mà chúng ta đã tách ra khỏi nhau, tách khỏi quá khứ của chúng.

Trong tiểu thuyết thế kỷ 19, miêu tả chi tiết các gương mặt và cử chỉ là đầu mối cho các sự thật nền tảng nằm bên dưới bề mặt. Người trần thuật hay nhân vật của anh ta sẽ cất bước trên một hành trình tìm kiếm sự thật ẩn giấu này theo cách hệt như Hüsrev và Şirin đã làm. Ý nghĩa đằng sau những gương mặt và các vật thể là một cái gì đó trỗi dậy từ cuốn sách như một tổng thể, và chỉ sau khi ta đã đi đến đoạn kết của câu chuyện. Ý nghĩa của cuốn sách - tức ý nghĩa của tiểu thuyết thế kỷ 19 - sẽ là ý nghĩa của thế giới mà chúng ta đã khai phá với các nhân vật. Đây là một Sự Thật vinh quang được viết hoa.

Nhưng với sự suy thoái của tiểu thuyết thế kỷ 19, thế giới đánh mất tính thống nhất và ý nghĩa của nó. Ngày nay khi ta cầm bút lên để viết tiểu thuyết, tất cả những gì chúng ta có trong tay là những phân mảnh và thêm những phân mảnh. Đây có thể là cội nguồn của lạc quan: Bằng cách giải phóng bản thân chúng ta khỏi các tôn ti trật tự, chúng ta có thể chấp nhận toàn bộ thế giới và mọi văn hóa và đời sống. Nhưng đây cũng có thể là nguyên do của sợ hãi và bối rối, khiến ta bớt kể chuyện đi, thúc đẩy trung tâm của các câu chuyện của chúng ta từ trung tâm ra các ngoại biên. Việc nó cho phép các khả năng tự sự mới và các quan điểm mới là không quan trọng. Chúng ta không thể dùng các phân mảnh chúng ta có để thực hiện cuộc hành trình theo chiều dọc ấy đến với ý nghĩa, đến trung tâm; thay vào đó điều chúng ta làm là hành trình theo chiều ngang. Thay vì đi đến những chiều sâu ẩn giấu của thế giới, chúng ta khai thác sự mênh mông của nó. Tôi thích đi tìm kiếm thêm các phân mảnh, tìm kiếm những câu chuyện chưa được kể. Lục địa mới của các câu chuyện, lịch sử, con người và các vật thể bị bỏ quên và do đó không có tên này của những vùng đất mà giọng điệu của chúng hãy còn chưa được nghe, và các câu chuyện hãy còn chưa được kể, lục địa ấy quá mênh mông và còn được khai phá quá ít, nên từ “hành trình” là một từ hoàn toàn thích hợp.

Nhưng hành trình dẫn đến ý nghĩa bên dưới của một văn bản vẫn còn đứng trước chúng ta, và nó đòi hỏi nỗ lực cá nhân. Nó riêng tư hơn bao giờ hết, bởi vì chúng ta không có một công thức mà cũng chẳng có la bàn. Chiều sâu của một văn bản cư ngụ trong sự phức tạp của nó và quyết tâm của nó muốn đề cập những phân mảnh này. Hãy để tôi kết thúc phần thảo luận này bằng cách kể cho các bạn một câu chuyện thứ ba. Chuyện này ngắn và rất riêng tư.

Tôi đã viết tiểu thuyết về một nhóm họa sĩ - các nhà tiểu họa - lấy bối cảnh thời đại cổ điển của tiểu họa Ottoman. Đó là lý do tại sao có một lúc tôi đi đến chỗ đặc biệt quan tâm đến câu chuyện về Hüsrev và Şirin. Câu chuyện này rất phổ biến trong văn hóa đạo Hồi và Trung Đông. Đây là nguyên do các nhà tiểu họa thường được triệu đến các dinh thự Ba Tư và Ottoman để minh họa nó. Điều khiến tôi quan tâm nhất là cảnh Şirin nhìn bức tranh vẽ Hüsrev và đem lòng yêu mến chàng. Các họa sĩ vẽ cảnh này đã phải vẽ không chỉ Şirin và cảnh vật xung quanh, bởi vì có một bức tranh trong một bức tranh: bức tranh khiến Şirin đem lòng yêu Hüsrev. Cái phân cảnh đầy tính kịch này rất được yêu chuộng cũng như câu chuyện mà nó là một phần, và tôi đã thấy nó trong rất nhiều sách, bản sao và viện bảo tàng. Nhưng khi ngắm những bức tranh này, tôi luôn cảm thấy bất an: như thể một cái gì đó chưa hoàn bị, như thể tôi không phải là toàn thể.

Trong những bức tranh này, Şirin luôn ở đó, và dù trang phục cũng như vẻ mặt của nàng thay đổi, nàng vẫn là Şirin. Bất kể màu sắc, trang phục, dáng đứng như thế nào, đoàn tùy tùng của nàng vẫn vây quanh nàng. Có cả cây cối, và sự mênh mông của cánh rừng. Và đâu đó, treo từ một cành cây, bức tranh bên trong bức tranh.

Phải mất rất lâu tôi mới hiểu điều gì khiến tôi khó chịu. Cho dù có một bức tranh bên trong cái khung treo từ cành cây, chưa bao giờ nó thể hiện gương mặt của chàng Hüsrev mà tôi mong nhìn thấy. Cho dù tôi đã đi tìm kiếm nó khắp mọi noi, tôi chưa bao giờ tìm thấy nhận thức của riêng tôi về Hüsrev phản ánh trong bất cứ tiểu họa nào. Trong tất cả những bức tiểu họa này, bức tranh bên trong bức tranh quá nhỏ đến đỗi Hüsrev là một chấm đỏ không phân biệt được, không nhận ra được, thay vì là một nhân vật hay một gương mặt trọn vẹn.

Dĩ nhiên cách thể hiện như thế đánh gục tâm điểm của câu chuyện về Hüsrev và Şirin, về việc yêu nhau qua một hình ảnh. Tuy nhiên tôi thích tính giản đơn về mặt kỹ thuật có được do người ta không hay biết về cách vẽ chân dung theo phương Tây. Sự đơn giản này gọi ra thế giới mong manh, ngây thơ mà tôi muốn khám phá trong cuốn tiểu thuyết đang viết, một thế giới mà những câu chuyện và phân mảnh của nó tôi định tích hợp, đề xuất cho nó một trung tâm mới.

❀ ❀ ❀

[1] Gazzali (1058-1111): nhà thần học, triết học Ba Tư, được xem là người giàu ảnh hưởng nhất sau nhà tiên tri Muhammad trong thế giới đạo Hồi.

[2] Ihya-ul Ulum: sách về giáo lý đạo Hồi, là cuốn sách được đọc nhiều nhất trong thế giới đạo Hồi, chỉ sau kinh Koran.

[3] Enveri: nhà thơ, tác giả sử thi Düsturname, soạn dưới sự bảo trợ của Pasha Mahmud.

[4] Iskendername: tên một trường ca của Nizamivé Alexander Đại đế.

[5] Ibni Arabi (1165-1240): nhà triết học, thần bí học đạo Hồi.

[6] Dụ ngôn cái hang: trong tác phẩm Cộng hòa, Plato kể câu chuyện một nhóm tù nhân bị trói trong hang từ bé, chỉ có thể nhìn về một hướng, thấy những bóng người, thú, cây cỏ chuyển động trên tường qua ánh lửa từ ngọn lửa đốt sau lưng họ. Do không được quay đâu lại để nhìn những gì thực sự chuyển động sau lưng, cũng như không được tiếp xúc với thế giới bên ngoài, họ tin những cái bóng trên tường là thực.

ors: Essays and A Story ebook©MotSAch Nhã Nam & NXB Văn Học tve-4u©vctvegroup | 07-04-2021
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.