Cuốn hộ chiếu đầu tiên của tôi và những chuyến du hành châu Âu

Những Màu Khác

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 106 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Cuốn Hộ Chiếu Đầu Tiên Của Tôi Và Những Chuyến Du Hành Châu Âu

❊ ❊ ❊

Năm 1959, khi tôi lên bảy, cha tôi đột nhiên mất tích trong một tình huống bí ẩn; vài tuần sau, chúng tôi được tin ông đang ở Paris. Ông đang sống trong một khách sạn rẻ tiền ở khu Montparnasse, đang lấp đầy những cuốn sổ tay mà cuối đời ông trao lại cho tôi trong một cái va li, và thỉnh thoảng, khi ngồi ở quán Café Dôme, ông nhìn thấy Jean-Paul Sartre đi ngang ngoài phố.

Từ Istanbul bà nội tôi thường gửi tiền cho con trai. Ông nội tôi, một doanh nhân, đã kiếm được khá tiền trong ngành hỏa xa. Dưới sự giám sát chặt chẽ của bà tôi, cha tôi và các chú bác tôi chưa đến mức tiêu tán hết phần thừa kế; các căn hộ chưa bị bán sạch. Nhưng hai mươi lăm năm sau khi chồng qua đời, bà tôi cho rằng tiền sắp cạn nên thôi gửi tiền cho cậu con trai lưu đãng ở Paris.

Thế là cha tôi gia nhập danh sách dài những trí thức Thổ khốn khổ không đồng xu dính túi đã bách bộ trên những con phố Paris cả một thế kỷ qua. Như ông nội và các chú các bác tôi, ông là kỹ sư xây dựng và rất có khiếu về toán. Khi hết tiền, ông xin việc theo quảng cáo trên báo; được hãng IBM thuê, ông được điều sang văn phòng của họ ở Geneva. Hồi ấy máy tính còn được vận hành bằng thẻ đục lỗ, và hầu như còn chưa ai biết về chúng. Thế là người cha nhà văn du mục của tôi trở thành một trong những lao động Thổ đầu tiên làm việc ở châu Âu.

Không lâu sau mẹ tôi sang châu Âu theo chồng. Bà để chúng tôi lại trong căn nhà đông đúc và sang trọng của bà nội để bay sang Geneva. Hai anh em tôi phải chờ đến kỳ nghỉ hè, và trong khi đó cả hai chúng tôi phải làm hộ chiếu.

Tôi nhớ rằng chúng tôi phải làm điệu bộ rất lâu trong khi người thợ ảnh loay hoay dưới lớp vải đen sau một thiết bị ba chân bằng gỗ có gọng xếp. Để cho tấm thủy tinh đã qua xử lý hóa chất có thể bắt sáng, ông phải mở ống kính trong một phần mấy giây bằng một cú vẫy cổ tay điệu nghệ, nhưng trước khi làm thế đầu tiên ông nhìn chúng tôi mà nói, “Yeeeees”, và vì tôi thấy ông thợ ảnh này rất buồn cười nên tấm ảnh hộ chiếu đầu tiên của tôi cho thấy tôi đang cắn vào mé trong hai má. Cuốn hộ chiếu cho thấy tóc tôi, có lẽ cả năm không được chải trừ mỗi dịp đi chụp tấm ảnh hộ chiếu này, có màu nâu hạt dẻ. Hẳn tôi đã lật các trang cuốn hộ chiếu quá nhanh nên không để ý rằng màu mắt tôi không đúng, một nhầm lẫn mà mãi đến ba mươi năm sau lúc giở lại hộ chiếu tôi mới để ý. Điều này dạy tôi rằng - ngược lại với điều tôi nghĩ - hộ chiếu không phải tài liệu xác định ta là ai mà là xác định người khác nghĩ về ta như thế nào.

Lúc bay sang Geneva, với hộ chiếu mới trong túi áo khoác mới, hai anh em tôi bị một chuyến hoảng loạn. Máy bay đã chúi xuống lúc hạ cánh, và với chúng tôi cái đất nước mang tên Thụy Sĩ này trở thành nơi mà mọi thứ, kể cả mây, cũng bị dốc thẳng đứng trải dài đến vô tận. Cú chúi nhủi rồi cũng dứt và máy bay trở lại chiều ngang, hai anh tôi vẫn còn cười mỗi khi nhớ lại cảm giác nhẹ nhõm khi thấy rằng đất nước này, giống như Istanbul, cũng được xây trên đất bằng.

Những con phố trong đất nước mới này sạch sẽ hơn và cũng vắng vẻ hơn. Cửa hàng cửa hiệu trưng bày nhiều hàng hóa hơn và trên đường có nhiều xe hơn. Những người ăn mày không đi ăn xin tay không như ở Istanbul; họ chơi phong cầm dưới cửa sổ. Trước khi ném tiền cho họ, mẹ tôi thường lấy giấy gói tiền lại. Căn hộ chúng tôi thuê - cách những cây cầu trên sông Rhône chỗ chảy vào hồ Léman năm phút đi bộ - “có sẵn đồ đạc”.

Vậy là tôi dần gắn việc sống ở một đất nước khác với việc ngồi ở những cái bàn nơi người khác từng ngồi, dùng cốc và đĩa người lạ từng ăn, ngủ trong những chiếc giường xệ xuống sau bao năm dỗ dành giấc ngủ người khác. Một đất nước khác nghĩa là một đất nước thuộc về những người khác. Chúng tôi phải chấp nhận rằng những thứ chúng tôi đang dùng này sẽ không bao giờ thuộc về chúng tôi, và đất nước lâu đời này, xứ sở khác này, cũng sẽ chẳng bao giờ thuộc về chúng tôi. Suốt mùa hè, mẹ tôi, từng học trường Pháp ở Istanbul, bắt chúng tôi ngồi ở bàn ăn trống trơn mỗi sáng cố dạy chúng tôi tiếng Pháp.

Chỉ đến sau khi đăng ký theo học ở một trường tiểu học công chúng tôi mới nhận ra rằng chúng tôi chưa học được gì cả. Cha mẹ tôi đã sai lầm khi hy vọng rằng chúng tôi có thể học được tiếng Pháp chỉ bằng cách lắng nghe giáo viên nói ngày này qua ngày nọ. Vào giờ giải lao, anh tôi và tôi len lỏi giữa những đám đông trẻ con đang chơi đùa cho đến khi tìm thấy nhau và nắm tay nhau. Vùng đất xa lạ này là một khu vườn vô tận đầy những đứa trẻ chơi đùa hạnh phúc. Hai anh em tôi thèm thuồng đứng nhìn khu vườn hạnh phúc này từ đằng xa.

Cho dù không biết tiếng Pháp, anh tôi đứng đầu lớp ở trò đếm ngược cách ba[1]. Nhưng điều duy nhất khiến tôi tách biệt trong ngôi trường mà tôi không hiểu ngôn ngữ này là sự im lặng của tôi. Cứ như người ta từ chối một giấc mơ mà trong đó không ai lên tiếng, tôi từ chối đến trường. Việc mang theo khuynh hướng hướng nội này sang những thành phố khác và ngôi trường khác sẽ bảo vệ tôi trước những khó khăn của cuộc đời, nhưng đồng thời cũng khiến tôi không thấy được vẻ phong phú của nó. Một ngày cuối tuần nọ, cha mẹ cũng cho anh tôi nghỉ học luôn. Nhét hộ chiếu vào tay, họ gửi chúng tôi ra khỏi Geneva, về nhà bà nội ở Istanbul.

Tôi không bao giờ dùng lại hộ chiếu này - mặc dù mang dòng chữ “Thành viên Hội đồng châu Âu”, nó trở thành kỷ niệm chuyến phiêu lưu châu Âu bất thành đầu tiên của tôi, và quyết định hướng nội của tôi quyết liệt đến nỗi mãi đến hai mươi tư năm sau đó tôi mới ra khỏi Thổ Nhĩ Kỳ lần nữa. Thời trẻ, lòng tôi đầy ngưỡng mộ và hoài vọng khi nghĩ về những ai có được hộ chiếu và du lịch đến châu Âu và xa hơn nữa, thế nhưng, bất chấp mọi cơ hội, tôi vẫn cứ sợ sệt đoan chắc rằng chỗ của tôi là ngồi ở một góc của Istanbul và dành hết sức mình cho những cuốn sách mà tôi hy vọng có thể hoàn thiện con người tôi và những cuốn sách khác một ngày nào đó có thể mang lại tên tuổi cho tôi. Hồi ấy, tôi tin người ta có thể hiểu châu Âu trọn vẹn nhất bằng cách thấu hiểu những cuốn sách vĩ đại nhất của nó.

Rốt cuộc, chính những cuốn sách của tôi khiến tôi đi xin tấm hộ chiếu thứ hai. Sau nhiều năm nhốt mình trong phòng, tôi đã nỗ lực biến mình thành một tác giả. Giờ đây họ mời tôi sang Đức, nơi nhiều người Thổ tị nạn chính trị, và nghĩ rằng người ta sẽ thích thú nghe tôi đọc những cuốn sách chưa được dịch sang tiếng Đức. Mặc dù xin cấp hộ chiếu với niềm hy vọng tươi tắn rằng sẽ được quen biết với bạn đọc người Thổ ở Đức, song chính là qua những chuyến đi tôi đã bắt đầu gắn cái giấy tờ này với cái kiểu khủng hoảng căn cước sẽ tiếp tục gây ra nhiều vấn đề khác trong những năm kế tiếp.

Câu chuyện đầu tiên tôi cần phải kể liên quan đến căn cước: Vào quãng giữa những năm 1980 và sau đó, tôi trở về với những chuyến tàu Đức đúng giờ tuyệt vời ấy trong những giấc mơ lặp đi lặp lại, lướt đi từ thành phố này sang thành phố khác qua những cánh rừng sẫm tối, tháp nhà thờ làng mạc xa xôi, sân ga với những hành khách đắm chìm trong suy nghĩ. Ở mỗi điểm đến tôi sẽ được vị chủ nhà người Thổ đón tiếp, luôn mồm xin lỗi về những thứ mà tôi còn chưa để ý là thiếu, và khi đưa tôi đi dạo thành phố anh ta sẽ nói với tôi về những nhân vật được trông chờ hiện diện tại sự kiện tối hôm ấy.

Tôi trìu mến nhớ về những buổi đọc sách ấy: Đến dự có những người tị nạn chính trị và gia đình họ, các giáo viên, những thanh niên hai dòng máu Đức Thổ - những người mong muốn biết về đời sống trí thức ở Thổ Nhĩ Kỳ - và tại mỗi cuộc gặp mặt còn có một vài công nhân Thổ và một vài người Đức, những người đã xác định rằng quan tâm đến những thứ liên quan đến Thổ Nhĩ Kỳ cũng là điều tốt.

Tại mỗi buổi đọc, ở thành phố nào cũng vậy, cảnh tượng diễn ra gần giống nhau. Sau khi tôi đọc sách của tôi, một thanh niên đầy bức xúc sẽ giơ tay lên cho mọi người thấy, rồi cậu ta sẽ la mắng tôi xối xả vì dám viết những cuốn sách ung dung bàn luận về cái đẹp trừu tượng trong khi vẫn còn đàn áp và tra tấn ở Thổ Nhĩ Kỳ, và cho dù tôi bác bỏ những lời lẽ nặng nề đó, chúng vẫn đánh thức trong tôi cảm giác tội lỗi. Kế sau người thanh niên giận dữ là một phụ nữ run run vì mong muốn bảo vệ tôi, và câu hỏi của bà sẽ phải liên quan đến vẻ cân đối hài hòa trong các cuốn sách của tôi hay một vấn đề tinh tế nào khác như thế. Kế đó nhanh chóng có những câu hỏi rộng hơn về hy vọng của tôi đối với Thổ Nhĩ Kỳ, chính trị, tương lai, ý nghĩa của cuộc sống - tôi sẽ trả lời những câu hỏi này như một nhà văn trẻ đầy háo hức. Đôi khi một ai đó sẽ làm một bài diễn văn lê thê đầy những thuật ngữ chính trị, dù chủ ý ở đây không phải là trách cứ tôi mà là hướng tới những người khác trong khán giả, và sau đó các giám đốc của hội mời tôi đến sẽ mách tôi diễn giả này thuộc về nhóm cánh tả nào; họ còn giải thích anh ta dự định cho thành viên của các nhóm tản mát khác tiếp nhận được ý nghĩa nào từ lời lẽ của mình. Bằng vào sự hào hứng của những người trẻ, những người yêu cầu tôi chia sẻ bí mật thành công của mình, tôi thấy rõ rằng người Thổ trẻ ở Đức ít ngượng ngùng hơn so với các bạn đồng trang lứa ở Thổ khi có những tham vọng trong cuộc đời. Rồi ngay lập tức, ai đó sẽ hỏi một câu hoặc xuất phát từ những giấc mơ tan vỡ của họ - “Ông nghĩ gì về người Thổ ở Đức?” hoặc không thì cũng chạm vào giấc mơ của tôi - “Sao ông không viết nhiều hơn về tình yêu?” và khi tám, chín chục người trong hội trường bắt đầu rúc rích mỉm cười, tôi hiểu ra rằng mình đang nói chuyện cho một nhóm người quen biết nhau, nếu không thân thiết thì cũng có biết nhau. Khi buổi đọc sách trôi dần về một kết thúc ấm cúng, thân thiện, một quý ông đứng tuổi, có lẽ là một giáo viên gần đến tuổi hưu, sẽ quá lời ca ngợi tôi, rồi cau mắt nhìn một trong mấy thanh niên lai Đức Thổ đang cười đùa mỉa mai ở hàng ghế sau; vì lợi ích của họ ông sẽ làm một bài diễn thuyết đậm tính dân tộc chủ nghĩa, đầy tự hào nhưng u ám, về việc làm thế nào mà Thổ Nhĩ Kỳ - quê hương của họ - có những nhà văn độc đáo và tại sao đọc những tác giả ấy và làm quen với văn hóa của họ là việc quan trọng, những lời lẽ tử tế ấy chỉ khiến đám thanh niên cười thêm chút nữa.

Cứ như vậy những trò chuyện về bản sắc, và những câu hỏi vô tận về quốc tịch, chỉ thêm vào không khí gia đình. Xong buổi đọc, các nhà tổ chức sẽ mời tôi và chừng mươi mười lăm người nữa ra quán ăn. Thường đó là một nhà hàng Thổ. Ngay cả khi không phải là nhà hàng Thổ, thì những câu hỏi dành cho tôi bên bàn ăn, những lời nói đùa giữa những người khác với nhau và những đề tài họ nêu ra chẳng mấy chốc sẽ cho tôi cảm giác như vẫn đang ở Thổ Nhĩ Kỳ, và vì tôi thích bàn thảo văn chương hơn nói chuyện về Thổ Nhĩ Kỳ nên điều này làm tôi chán, về sau tôi nhận ra rằng, ngay cả khi chúng tôi có vẻ bàn luận văn chương, thực ra chúng tôi vẫn bàn luận về Thổ Nhĩ Kỳ. Văn chương, sách vở và tiểu thuyết đơn giản chỉ là cái cớ cho việc đề cập - hay tránh né - những băn khoăn nhuốm âu lo về bản ngã vốn là nguồn gốc nỗi bất hạnh sâu xa của chúng tôi.

Trong những chuyến đi này và tất cả các chuyến đi về sau, khi sách của tôi được biết đến nhiều hơn bằng tiếng Đức, tôi sẽ nhìn những người đến nghe tôi đọc và cảm thấy như mình nhìn ra được trên gương mặt họ sự sao nhãng thường trực, mối bận tâm với những câu hỏi về tính chất Thổ và tính chất Đức. Vì những cuốn sách của tôi phần nào nói về những mâu thuẫn giữa Đông và Tây, và vì tôi là kiểu nhà văn khai phá những do dự, lưỡng lự mà sự mâu thuẫn đó nuôi dưỡng, trong những trò chơi phúng dụ khiến họ thay đổi hoàn toàn, khán giả của tôi tưởng tôi hẳn cũng bị giằng xé bởi những câu hỏi về bản ngã và đau đáu vì những vùng tối tăm ấy như họ, nhưng sự thật là tôi không như thế. Sau khi cố gắng cả giờ đồng hồ truy vấn tôi, khi họ lặng lẽ rút lui vào thế giới bí mật của những người Thổ ở Đức, tranh cãi không dứt về chuyện họ là người Đức hay người Thổ ở mức độ nào, tôi sẽ bắt đầu cảm thấy cô độc vì lẽ tôi là người Thổ chứ không phải là người Đức gốc Thổ, và khi đó tôi sẽ chợt nhìn thấy nỗi bất hạnh trong căn phòng theo cách của tôi.

Có thật đây là bất hạnh, hay đó là nguồn gốc của sự đa dạng? Tôi không xác định được. Bất kể họ nồng nhiệt dường nào, hay chân thành dường nào, bất kể bao nhiêu ánh sáng họ rọi trên những giấc mơ và những nỗi sợ hãi là cội nguồn những âu lo của chúng tôi, những trò chuyện như thế khiến tôi cảm thấy vô vọng và nghĩ rằng đời sống chẳng có ý nghĩa gì.

Để tôi minh họa luận điểm này bằng thước đo yêu thích nhất của tôi. Khi ngồi quanh mấy bàn này, lắng nghe cuộc trò chuyện càng về khuya càng nóng, tôi để ý rằng có sự khác biệt về mặt số lượng trong các cấp độ của tính Thổ và tính Đức, mà các bạn cùng bàn người Đức gốc Thổ đều yêu cầu tôi sử dụng. Trong những người này, ta hãy gán số 10 cho những ai tin rằng trở thành người Đức hoàn toàn là điều quan trọng (nếu quả thật một điều như thế là có thể; dù sao đi nữa, loại người này xa lánh bất kỳ ký ức nào về Thổ Nhĩ Kỳ và thậm chí đôi khi tự coi mình là người Đức). Với những ai không sẵn lòng chấp nhận bất cứ sự pha loãng tính Thổ nào, ta hãy gán cho anh ta số 1 (loại người này tự hào sống như người Thổ mặc dù anh ta ở Đức). Trong số những người ngồi quanh bàn tự cho rằng mình đâu đó giữa hai thái cực, thì có nhiều loại. Một số mơ đến ngày trở về Thổ Nhĩ Kỳ mãi mãi nhưng lại đi nghỉ ở Ý, một số khác từ chối ăn chay trong tháng Ramadan nhưng vẫn xem ti vi Thổ hằng đêm, còn một số nữa ngày càng xa lánh bạn bè người Thổ kể cả khi họ nuôi dưỡng lòng bất mãn sâu sắc đối với người Đức. Khi tôi cân nhắc các lựa chọn (hay đúng hơn là các tuyên thệ) mà những người này đã chọn, những gì ẩn bên dưới họ đã quá rõ ràng: những lo sợ về sỉ nhục, những khao khát chưa thành, nỗi đau và sự cô lập.

Nhưng điều làm tôi ngạc nhiên hơn cả - điều khiến tôi cảm thấy như đang xem cùng một cảnh bí ẩn diễn đi diễn lại và bất kể những người ngồi ở bàn tôi tìm thấy được họ nằm ở đâu trên thước đo của tôi - là sự dứt khoát tuyệt đối và cực đoan mà mỗi người dùng để bảo vệ sự đúng đắn của cấp độ của họ và bác bỏ mọi cấp độ khác. Cho nên, với một người được 5 điểm trên thước đo này, tin rằng con đường duy nhất của anh ta là vừa là người Đức vừa là người Thổ là chưa đủ; anh ta còn nói tiếp rằng những người số 4 là đầu óc hẹp hòi lạc hậu còn tất cả người số 7 và số 8 là chối bỏ căn cước thực của họ. Đến cuối buổi thì tuyên truyền rằng mức độ Đức và Thổ tương đối của họ là cách sống tốt nhất hãy còn chưa đủ; bằng giọng nảy lửa họ còn tuyên bố họ là một tín vật quá đỗi linh thiêng nên không thể bị chất vấn.

Điều này nhắc tôi nhớ về câu mở đầu nổi tiếng cuốn Anna Karenina của Tolstoy, rằng mọi gia đình hạnh phúc đều giống nhau nhưng các gia đình bất hạnh thì bất hạnh theo cách riêng của họ. Điều y như thế áp dụng đối với chủ nghĩa dân tộc và ám ảnh về căn cước: Những người dân tộc chủ nghĩa hạnh phúc biểu hiện tình yêu đối với những lá cờ hay ăn mừng chiến thắng trong những trận bóng đá và thi tài quốc tế thì giống nhau trên khắp thế giới. Chỉ khi sự khác biệt về dân tộc không phải là lý do để ăn mừng thì sự khác biệt kinh khủng mới xuất hiện. Hộ chiếu chúng ta cũng vậy, đôi khi chúng cho ta niềm vui và đôi khi nỗi buồn: về những cách thức khốn khổ chúng khiến ta tự vấn căn cước của mình, thì không có cách nào giống cách nào.

Sự thể chính là vì, trong sân chơi trường học ở Geneva năm 1959, chúng tôi đứng nắm tay nhau và ngắm nhìn từ xa một cách đầy ganh tị trong khi những đứa trẻ khác vui đùa cười nói, mà hai anh em tôi bị gửi trả về Thổ Nhĩ Kỳ cùng với hộ chiếu của chúng tôi. Trong những năm tiếp theo, hàng trăm ngàn trẻ em khác định cư ở Đức, có hoặc không có hộ chiếu, với định mệnh là chìm vào nỗi tuyệt vọng thẳm sâu hơn. Mươi, mười lăm năm sau lần đầu tiên tôi gặp họ, cùng những con người này bây giờ sẽ cố làm voi đi nỗi đau khổ của họ bằng những tấm hộ chiếu Đức mà họ gần như chắc chắn được cấp. Có lẽ cũng tốt khi biết rằng một tấm hộ chiếu - một tài liệu ghi nhận những người khác có thành kiến về ta và đánh giá ta thế nào - có thể làm vơi đi nỗi buồn của ta, dù chỉ một chút. Nhưng hộ chiếu của chúng ta, vốn đều giống nhau, không nên bao giờ làm ta mù quáng trước sự thật là mỗi cá nhân đều có rắc rối riêng với căn cước, những khao khát riêng và những nỗi buồn riêng của mình.

❀ ❀ ❀

[1] Tức đếm ngược cách ba số ví dụ 100, 97, 94, 91… Đây được coi là một kỹ thuật để trị chứng mất ngủ, đồng thời cũng là một trò chơi trẻ con.

ors: Essays and A Story ebook©MotSAch Nhã Nam & NXB Văn Học tve-4u©vctvegroup | 07-04-2021
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.