1.
Nếu không có gì để xem và không có câu chuyện nào để lắng nghe, cuộc đời có thể trở nên tẻ nhạt. Khi còn bé, chúng tôi xua đuổi nỗi buồn chán bằng cách nghe đài hay nhìn ra cửa sổ sang các căn hộ láng giềng hay nhìn người qua lại trên con phố bên dưới. Ngày ấy, năm 1958, ở Thổ Nhĩ Kỳ vẫn chưa có ti vi. Nhưng chúng tôi không muốn thừa nhận chuyện đó. Chúng tôi trò chuyện về ti vi một cách lạc quan, cũng lạc quan như trò chuyện về các bộ phim phiêu lưu của Hollywood vốn mất bốn hay năm năm mới đến được các rạp chiếu phim ở Istanbul, nói rằng nó “chưa đến”.
Nhìn ra cửa sổ là một thú tiêu khiển quan trọng đến nỗi khi ti vi cuối cùng cũng đến với Thổ Nhĩ Kỳ, người ta cư xử trước ti vi hệt như cư xử trước cửa sổ của mình. Khi bố tôi, các bác và bà nội tôi xem ti vi, họ sẽ tranh luận mà không cần nhìn nhau, thỉnh thoảng dừng để thuật lại những gì họ vừa nhìn thấy, hệt như những khi nhìn ra ngoài cửa sổ.
“Nếu tuyết cứ rơi thế này, thế nào nó cũng bám lại,” cô tôi sẽ nói khi nhìn những bông tuyết lượn ngang.
“Chú bán helva quay lại góc đường Nişantaşı rồi kìa!” tôi sẽ thốt lên trong khi dán mắt vào cửa sổ bên kia, chỗ trông ra đại lộ có các tuyến xe điện.
Vào các Chủ nhật, chúng tôi cùng các bác, cô, chú và tất cả những người sống trong các căn hộ tầng dưới thường lên gác để ăn trưa với bà nội. Khi đứng bên cửa sổ, chờ thức ăn dọn ra, tôi hết sức hạnh phúc được ở đó cùng với mẹ, bố, các cô và các bác các chú đến nỗi mọi thứ trước mặt tôi dường như óng ánh dưới ánh sáng dìu dịu tỏa ra từ chùm đèn pha lê treo phía trên cái bàn ăn dài. Phòng khách của bà tôi cũng tối như các phòng khách tầng dưới, nhưng với tôi nó luôn luôn trông có vẻ tối hơn. Có thể bởi vì những lớp màn cửa nặng nề rũ xuống hai bên những cánh cửa ra ban công không bao giờ mở, gọi lên những cái bóng đáng sợ. Hoặc có thể đó là do những tấm bình phong gỗ khảm xà cừ, những chiếc bàn vĩ đại, những cái rương, chiếc đại dương cầm nhỏ, bên trên có những khung ảnh, hay vì sự bề bộn chung của căn phòng yếm khí lúc nào cũng bốc mùi bụi bặm.
Ăn xong, bác tôi hút thuốc trong một trong những căn phòng tối tăm liền kề. “Bác có vé đi xem đá bóng đấy, nhưng bác không đi,” ông nói. “Bố cháu sẽ dẫn cháu đi thay.”
“Bố, dẫn bọn con đi xem đá bóng nhé!” anh tôi hét lên từ phòng kia.
“Không khí ngoài trời cũng tốt cho con đấy,” từ phòng khách mẹ bảo.
“Vậy em đưa con đi đi,” bố nói với mẹ.
“Em bận sang nhà mẹ,” mẹ đáp.
“Tụi con không muốn sang ngoại đâu,” anh tôi nói.
“Chú có thể lấy xe của anh,” bác tôi nói.
“Đi đi, bố!” anh tôi nói.
Sau đó là một quãng dài im lặng, lạ lùng. Như thể là mọi người trong phòng đều nghĩ đôi điều về mẹ, và như thể cha có thể đọc được những suy nghĩ ấy.
“Vậy anh đưa em xe, phải không?” bố tôi hỏi bác.
Lát sau, khi chúng tôi đã xuống lầu, trong khi mẹ giúp chúng tôi tròng áo ấm và xỏ vớ len kẻ ô dày, bố vừa rảo lên rảo xuống hành lang vừa bập thuốc. Bác tôi đỗ chiếc Dodge đời 52 “lịch lãm, màu kem” trước Thánh đường Teşvikiye. Bố cho phép hai anh em tôi cùng ngồi ghế trước và khởi động được máy chỉ bằng một lần xoay chìa.
Ở sân vận động chúng tôi không phải xếp hàng. “Vé này là cho hai đứa nó,” bố bảo người gác cửa xoay. “Một đứa tám tuổi, một đứa mười tuổi.” Lúc đi qua, chúng tôi không dám nhìn vào mắt ông ấy. Trên các khán đài còn nhiều ghế trống, chúng tôi liền ngồi xuống.
Hai đội đã ra sân, mặt sân đầy bùn, tôi thích thú xem các cầu thủ mặc quần đùi trắng lấp lóa chạy lên chạy xuống để khỏi động. “Nhìn kìa, đó là Mehmet Nhí,” anh tôi nói, trỏ vào một cầu thủ. “Anh ấy vừa mới được đôn lên từ đội trẻ.”
“Biết rồi.”
Trận đấu bắt đầu, một lúc lâu chúng tôi không nói gì. Một chốc sau ý nghĩ của tôi vẩn vơ từ trận đấu sang những thứ khác. Tại sao các cầu thủ đều mặc đồ giống nhau mà tên lại khác nhau? Tôi tưởng tượng ra cảnh không có cầu thủ nào chạy lên chạy xuống nữa, mà chỉ còn những cái tên. Quần đùi của họ càng lúc càng bẩn. Một lúc sau, tôi ngắm một con tàu với cột khói thú vị chầm chậm đi ngang vịnh Bosphorus, ngay phía sau các hàng ghế. Hết hiệp một chưa đội nào ghi bàn, và cha tôi mua cho mỗi đứa một nón đậu chickpea và một cái pita pho mát.
“Bố ơi, con ăn không hết chỗ này,” tôi nói, xòe cho bố xem chỗ còn lại trên tay.
“Cứ để đằng kia,” bố nói. “Không ai thấy con đâu.”
Chúng tôi đứng dậy đi lòng vòng cho ấm người, ai cũng làm thế. Bắt chước bố, chúng tôi đang cho tay vào túi quần len và quay lưng lại sân để nhìn những người ngồi sau lưng chúng tôi, thì có ai đó trong đám đông gọi bố. Bố đưa tay lên tai, ra hiệu rằng ồn quá ông không nghe gì hết.
“Tôi không lại đó được,” ông nói, chỉ tay về hướng chúng tôi. “Tôi đi với con.”
Người đàn ông trong đám đông choàng một chiếc khăn màu tím. Ông luồn lách đi về phía hàng ghế chúng tôi, đẩy các ghế ra sau và huých kha khá người mới tới được chỗ chúng tôi.
“Lũ nhóc nhà anh đây à?” ông hỏi, sau khi ôm bố. “Chúng lớn quá. Thật không thể tin nổi.”
Bố không nói gì.
“Vậy mấy đứa nhóc này đẻ khi nào?” ông nói, nhìn chúng tôi vẻ ngưỡng mộ. “Anh cưới vợ ngay khi ra trường à?”
“Ừ,” bố nói, không nhìn vào mặt ông kia. Họ nói chuyện thêm một lát. Người đàn ông có khăn choàng cổ tím xoay sang hai anh em tôi và nhét vào tay mỗi đứa một gói hạt điều Mỹ đã bóc vỏ. Khi ông đi rồi, bố ngồi xuống ghế không nói năng gì một đỗi lâu.
Hai đội thay quần đùi mới vừa quay lại sân được một chút, thì bố bảo, “Thôi, đi về. Hai đứa lạnh rồi đó.”
“Con có lạnh đâu,” anh tôi nói.
“Có, con lạnh rồi,” bố bảo. “Và Ali cũng lạnh. Đi thôi, về nào.” Lúc len lỏi qua những người khác trong hàng ghế của chúng tôi, huých vào các đầu gối và có lúc giẫm lên chân người khác, chúng tôi giẫm phải cái pita pho mát tôi bỏ dưới đất khi nãy. Khi đi xuống các bậc cấp, chúng tôi nghe trọng tài thổi còi ra hiệu cho hiệp hai bắt đầu.
“Bộ mày lạnh hả,” anh tôi hỏi. “Sao mày không nói là mày không lạnh?” Tôi im lặng. “Đồ ngu,” anh tôi nói.
“Về nhà tụi con có thể nghe tường thuật hiệp hai trên đài,” bố nói.
“Trận này không có trên đài,” anh tôi nói.
“Im đi,” bố nói. “Bố dẫn hai đứa qua Taksim trên đường về.”
Chúng tôi im lặng. Vừa lái qua khỏi quảng trường, bố dừng xe ngay trước khi chúng tôi đến tiệm cá cược - đúng như chúng tôi đoán. “Đừng mở cửa cho ai nhé,” bố nói. “Bố sẽ quay lại ngay.”
Bố ra khỏi xe. Nhưng trước khi bố có cơ hội khóa cửa xe từ bên ngoài, chúng tôi đã bấm nút và khóa xe từ bên trong. Nhưng bố không vào tiệm cá cược; ông chạy qua phía bên kia con đường rải sỏi. Ở đó có một cửa tiệm được trang trí bằng áp phích các con tàu, những máy bay bằng nhựa lớn, những phong cảnh tràn đầy ánh nắng, nó thậm chí còn mở cửa vào các Chủ nhật, và bố đi vô đó.
“Bố đi đâu nhỉ?”
“Lát nữa về nhà mình chơi ở trên gác hay dưới nhà?” anh tôi hỏi.
Khi bố quay lại, anh tôi đang nghịch chân ga. Chúng tôi chạy về Nişantaşı và đỗ xe trước thánh đường. “Sao bố không mua gì cho hai đứa nhỉ!” bố nói. “Nhưng đứng có đời cái xê ri Người Nổi Tiếng đó nữa nhé.”
“Ô, thôi mà, bố!” chúng tôi nài nỉ.
Vào cửa hàng của Alaaddin, bố mua cho hai anh em tôi mỗi đứa mười gói kẹo cao su trong xê ri Người Nổi Tiếng. Chúng tôi đi vào tòa nhà của mình; tới lúc vào thang máy tôi phấn khích đến nỗi tôi nghĩ có lẽ mình đã làm ướt quần. Trong nhà ấm áp còn mẹ thì chưa về. Chúng tôi xé bao kẹo cao su, ném giấy gói trên sàn. Kết quả:
Tôi được hai Đại nguyên soái Fevzi Çakmak, một Charlie Chaplin, một đô vật Hamit Kaplan, một Gandhi, một Mozart, và một De Gaulle; hai Atatürk, và một Greta Garbo - số 21 - mà anh tôi chưa có. Với số này giờ tôi đã có 173 hình Người Nổi Tiếng, nhưng tôi vẫn cần 27 nữa để hoàn tất xê ri. Anh tôi có bốn Đại nguyên soái Fevzi Çakmak, năm Atatürk, và một Edison. Chúng tôi tọng kẹo cao su vào mồm rồi bắt đầu đọc chữ viết mặt sau các quân bài.
ĐẠI NGUYÊN SOÁI FEVZI ÇAKMAK
Tướng trong Cuộc chiến giành độc lập
(1876-1950)
CÔNG TY KẸO CAO SU MAMBO SWEETS
Khách hàng may mắn nào sưu tập đủ 100 người nổi tiếng sẽ được tặng một quả bóng đá bằng da
Anh tôi đang cầm xấp 165 quân bài của mình. “Mày muốn chơi trò Trên hay Dưới không?”
“Không.”
“Mày đổi Greta Garbo của mày lấy 12 Fevzi Çakmak của tao không? anh hỏi. “Lúc đó mày sẽ có 184 quân.”
“Không.”
“Nhưng mày có tới hai Greta Garbo.”
Tôi không nói năng gì.
“Ngày mai ở trường tiêm phòng sẽ đau lắm đó,” anh nói. “Đừng mong tao ngó tới mày.”
“Có mong gì đâu.”
Chúng tôi ăn tối trong im lặng. Khi đài phát chương trình Thế giới thể thao, chúng tôi biết tin rằng trận đấu hòa 2-2, rồi mẹ vào phòng cho chúng tôi đi ngủ. Anh tôi sửa soạn cặp đi học, còn tôi chạy vào phòng khách. Bố đang đứng ở cửa sổ, đăm đăm nhìn xuống đường.
“Bố ơi, mai con không muốn đi học đâu.”
“Sao con lại nói vậy?”
“Ngày mai người ta tiêm phòng cho tụi con. Mà con bị sốt rồi, và rất là khó thở. Hỏi mẹ xem.”
Bố nhìn tôi, không nói gì. Tôi phóng lại ngăn kéo lấy tờ giấy và cây bút.
“Mẹ có biết việc này không?” ông hỏi, đặt tờ giấy xuống trên tập sách của Kierkegaard mà lúc nào ông cũng đang đọc nhưng chưa bao giờ đọc xong. “Con vẫn đi học, nhưng con sẽ không phải tiêm phòng,” ông nói. “Bố viết như thế đấy.”
Ông ký tên. Tôi thổi mực rồi gấp tờ giấy lại nhét vào túi. Chạy về phòng ngủ, tôi luồn nó vào cặp, rồi trèo lên giường và bắt đầu nhún.
“Yên nào,” mẹ nói. “Tới giờ ngủ rồi.”
2.
Tôi đang ở trường, vừa mới ăn trưa xong. Cả lớp xếp thành hàng đôi, và chúng tôi đang quay lại cái căn tín bốc mùi đó để tiêm phòng. Một số đứa đang khóc; một số hồi hộp chờ đợi. Khi mùi i-ốt bốc lên cầu thang, tim tôi bắt đầu nhộn nhạo. Tôi bước ra khỏi hàng đi lại chỗ các giáo viên đang đứng ở đầu cầu thang. Cả lớp ầm ĩ đi ngang chúng tôi.
“Hả,” cô giáo nói. “Cái đó là cái gì?”
Tôi lấy mẩu giấy bố đã ký ra đưa cho cô giáo. Cô cau mày đọc. “Em biết đấy, bố em không phải là bác sĩ,” cô nói. Cô dừng lại để nghĩ. “Lên lầu. Chờ ở Phòng Hai-A.”
Có chừng sáu, bảy đứa trong phòng 2-A cũng có lý do như tôi. Một đứa đang hãi hùng nhìn chằm chằm ra cửa sổ. Những tiếng kêu la kinh hoàng vọng suốt hành lang; một thằng bé béo tròn đeo kính vừa cắn hạt bí ngô lốp cốp vừa đọc một cuốn truyện tranh Kinova. Cánh cửa bật mở và Ngài Hiệu phó Seyfi gầy đét bước vào.
“Có lẽ một số trong các trò ốm thật, và nếu đúng vậy, nhà trường sẽ không bắt các trò xuống dưới,” ông nói. “Nhưng tôi phải nói điều này với trò nào nói dối để khỏi tiêm phòng. Mai kia các trò sẽ lớn lên, phục vụ tổ quốc, và thậm chí còn chết vì tổ quốc. Hôm nay chỉ có mỗi một mũi tiêm phòng mà các trò cũng chạy trốn - nhưng nếu khi lớn lên các trò cũng thử làm trò thế này, và nếu các trò không có lý do thực sự, các trò sẽ bị buộc tội phản quốc. Xấu hổ thay cho các trò!”
Một quãng im lặng kéo dài. Tôi nhìn ảnh Atatürk, mắt rơm róm.
Lát sau, chúng tôi lặng lẽ chuồn về lớp học. Những đứa đã tiêm phòng bắt đầu về lại lớp: Vài đứa tay áo xắn lên, vài đứa mắt còn ướt, vài đứa mặt dài ngoẵng ra.
“Em nào nhà gần có thể về,” cô giáo nói. “Em nào không có ai đón phải chờ chuông cuối giờ mới được về. Không được đấm vào cánh tay của nhau. Ngày mai được nghỉ.”
Cả lũ bắt đầu la hét. Vài đứa vừa ôm cánh tay vừa đi ra khỏi tòa nhà; một số đứa khác dừng lại chìa tay cho bác bảo vệ Hilmi Efendi xem vết i-ốt.
Khi ra tới đường rồi, tôi hất túi xách qua vai rồi cắm cổ chạy. Một chiếc xe ngựa chắn đường ngay trước cửa hàng thịt Karabet, nên tôi len lỏi giữa đám xe hơi để về tòa nhà của mình bên kia đường. Tôi chạy ngang qua cửa hàng vải của Hayri và tiệm hoa của Salih. Bác bảo vệ của chúng tôi, Hazim Efendi, cho tôi vào.
“Sao giờ này mày lại ở đây một mình?” ông hỏi.
“Hôm nay trường cháu tiêm phòng. Họ cho bọn cháu về sớm.”
“Thằng anh mày đâu? Mày về một mình à?”
“Cháu băng qua đường xe điện một mình đấy. Ngày mai cháu được nghỉ.”
“Mẹ mày ra ngoài rồi,” ông nói. “Lên nhà bà mày đi.”
“Cháu ốm,” tôi nói. “Cháu muốn về nhà mình cơ. Mở cửa cho cháu.”
Ông lấy trên tường xuống một chiếc chìa khóa rồi chúng tôi vào thang máy. Khi đến tầng nhà tôi, cả buồng thang máy đã ngập khói thuốc lá của ông làm tôi cay cả mắt. Ông mở cửa nhà tôi. “Đừng có nghịch ổ điện nhé,” ông vừa nói vừa kéo cửa đóng lại.
Không có ai ở nhà nhưng tôi vẫn hét váng, “Có ai ở đây không, có ai ở nhà không? Không có ai ở nhà sao?” Tôi quẳng túi xách xuống, mở ngăn kéo của anh tôi, và bắt đầu ngắm nghía bộ sưu tập vé xem phim mà anh chưa bao giờ cho tôi xem. Rồi tôi say sưa ngắm tất cả những bức ảnh các trận đá bóng mà anh cắt từ báo ra dán vào một cuốn sách. Nghe tiếng chân tôi biết đó không phải là mẹ mà là bố đang đi vào. Tôi thận trọng đặt những chiếc vé và cuốn sách sưu tập của anh tôi về chỗ cũ để anh ấy không biết tôi đã xem.
Bố đang ở trong phòng ngủ; bố mở tủ quần áo và nhìn vào trong.
“Con về nhà rồi à?”
“Không, con đang ở Paris,” tôi nói, theo kiểu mọi người nói ở trường.
“Hôm nay con không đi học sao?”
“Hôm nay người ta tiêm phòng cho bọn con.”
“Anh con không có đây à?” bố hỏi. “Thồi được,về phòng đi và cho bố xem con có thể giữ yên lặng đến mức nào.”
Tôi làm theo lời bố. Tôi tì trán vào cửa sổ nhìn ra ngoài. Nghe tiếng từ lối đi ngoài sảnh vọng vào tôi biết bố đang lấy một trong mấy chiếc va li ra khỏi cái tủ đằng kia. Bố quay vào phòng lấy áo khoác và quần ra khỏi tủ quần áo; tôi biết do tiếng móc áo va lách cách. Bố bắt đầu mở đóng các ngăn kéo nơi bố để áo sơ mi, tất và quần lót. Tôi nghe tiếng bố xếp chúng vào va li. Bố vào nhà tắm rồi trở ra. Bố kéo dây khóa va li rồi khóa lại. Bố vào phòng với tôi.
“Con làm gì trong đây nãy giờ?”
“Con nhìn ra ngoài cửa sổ.”
“Lại đây, bố con mình cùng nhìn ra ngoài cửa sổ nào.”
Bố ôm tôi vào lòng, và chúng tôi cùng nhìn ra ngoài cửa sổ một lúc lâu. Những ngọn cây bách cao đứng giữa chúng tôi và tòa nhà đối diện bắt đầu đong đưa trong gió. Tôi thích cách bố tỏa mùi.
“Bố sắp đi xa,” bố nói. Bố hôn tôi. “Đừng nói với mẹ. Bố sẽ bảo mẹ sau.”
“Bố có đi bằng máy bay không?”
“Có,” bố nói, “đến Paris. Cũng đừng nói điều này với ai nhé.” Bố móc trong túi một đồng hai lira rưỡi to đùng đưa cho tôi, rồi hôn tôi lần nữa. “Và đừng nói là con gặp bố ở đây.”
Tôi nhét tiền ngay vào túi. Khi bố nhấc tôi xuống và xách va li lên, tôi nói, “Bố ơi, đừng đi.” Bố hôn tôi một lần nữa, rồi đi.
Tôi nhìn theo bố từ cửa sổ. Bố đi thẳng đến tiệm Alaaddin, rồi đón một chiếc taxi chạy ngang. Trước khi ngồi vào xe, bố nhìn lên căn hộ chúng tôi một lần nữa và vẫy tay. Tôi vẫy lại, rồi bố đi mất.
Tôi nhìn đại lộ vắng vẻ một lúc lâu thật lâu. Một chiếc xe điện đi qua, và rồi chiếc xe ngựa của người bán nước. Tôi nhấn chuông gọi Hazim Efendi.
“Mày nhấn chuông à?” ông nói khi tới cửa. “Đừng có nghịch chuông.”
“Cầm đồng hai lira rưỡi này,” tôi nói, “sang tiệm của Alaaddin mua cho cho cháu mười thanh kẹo cao su trong xê ri Người Nổi Tiếng. Đừng quên mang năm mươi kuruş tiền thối về đấy.”
“Bố mày cho mày chỗ tiền này à?” ông hỏi. “Hy vọng là mẹ mày sẽ không nổi quạu.”
Tôi không nói gì, và ông đi. Tôi đứng ở cửa sổ nhìn theo ông đi vào tiệm của Alaaddin. Một lúc sau ông quay ra. Trên đường về ông gặp bảo vệ của Khu căn hộ Marmara bên kia đường, và họ dừng lại để tán chuyện.
Về tới nhà, ông đưa tôi tiền thối. Ngay lập tức tôi xé vỏ kẹo cao su: thêm ba Fevzi Çakmak, một Atatürk, và Leonardo da Vinci, Süleyman Huy hoàng, Churchill và tướng Franco mỗi cái một, và thêm một số 21, quân Greta Garbo mà anh tôi vẫn chưa có. Vậy bây giờ tôi có cả thảy 183 quân. Nhưng để có trọn bộ 100, tôi vẫn cần thêm 26.
Khi đang chiêm ngưỡng số 91 đầu tiên của tôi, vẽ chiếc máy bay mà Lindbergh đã dùng để vượt Đại Tây Dương, thì tôi nghe tiếng chìa khóa ở cửa. Mẹ! Tôi vội vã vơ đám giấy gói kẹo vứt trên sàn nhà bỏ vào thùng rác.
“Hôm nay học sinh được tiêm phòng, nên con về nhà sớm,” tôi nói. “Thương hàn, sốt phát ban, uốn ván.”
“Anh con đâu?”
“Lớp anh ấy chưa được tiêm,” tôi nói. “Trường cho bọn con về nhà. Con băng qua đường một mình đấy.”
“Tay con có đau không?”
Tôi không nói gì. Một lát sau, anh tôi về. Cánh tay anh đang đau. Anh nằm lên giường, nghiêng trên cánh tay kia, trông đau khổ rồi ngủ thiếp đi. Lúc anh thức dậy bên ngoài đã rất tối. “Mẹ ơi, đau quá,” anh nói.
“Lát nữa có thể con còn sốt,” mẹ nói, trong lúc đang là quần áo bên phòng bên kia. “Ali, còn tay con có đau không? Nằm xuống, đừng ngọ nguậy.”
Chúng tôi lên giường nằm im không ngọ nguậy. Ngủ được một lúc anh tôi dậy và bắt đầu đọc báo thể thao, rồi anh bảo tôi rằng tại vì tôi mà hôm qua chúng tôi đi về sớm, và bởi vì chúng tôi đi về sớm mà đội chúng tôi bỏ lỡ bốn bàn thắng.
“Kể cả mình không về sớm, có thể chúng ta cũng chẳng ghi được mấy bàn ấy,” tôi nói.
“Cái gì?”
Ngủ vờ vật thêm một lúc, anh tôi đề nghị đổi sáu Fevzi Çakmak, bốn Atatürk và ba quân bài khác mà tôi đã có để đổi một Greta Garbo, nhưng tôi không chịu.
“Chơi trò Trên hay Dưới không?” anh hỏi tôi.
“Chơi thì chơi.”
Bạn kẹp cả xấp bài giữa hai lòng bàn tay. Bạn hỏi, “Trên hay Dưới?” Nếu anh ấy nói Dưới, bạn nhìn hình phía dưới, giả sử số 68, Rita Hayworth. Giả sử quân ở trên lúc đó là số 18, nhà thơ Dante. Nếu như vậy thì Dưới thắng và bạn phải đưa cho anh ấy cái hình mà bạn ít thích nhất, cái mà bạn có nhiều nhất. Các tấm hình của Đại nguyên soái Fevzi Çakmak đổi qua đổi lại giữa hai chúng tôi cho đến tận tối và tới giờ ăn cơm.
“Một đứa lên lầu xem thử,” mẹ nói. “Có khi là bố đã về.”
Cả hai chúng tôi lên lầu. Bác tôi ngồi đó, hút thuốc, cùng với bà nội; bố tôi không có ở đó. Chúng tôi nghe tin tức trên đài, chúng tôi đọc báo thể thao. Khi bà nội ngồi vào bàn ăn, chúng tôi đi xuống lầu.
“Hai con làm gì lâu thế?” mẹ nói. “Hai con không ăn gì trên đó đấy chứ? Hay mẹ cho hai đứa ăn xúp đậu lăng bây giờ ? Các con cố thể ăn từ từ đến lúc bố về.”
“Không có bánh mì nướng hả mẹ?” anh tôi hỏi.
Mẹ nhìn hai đứa tôi ăn im lặng ăn xúp. Nhìn cử động của đầu mẹ và cách ánh mắt mẹ không lảng khỏi chúng tôi, tôi biết mẹ đang ngóng nghe tiếng thang máy. Khi chúng tôi ăn xúp xong, mẹ hỏi, “Hai đứa ăn nữa không?” Mẹ liếc vào nồi. “Hay mẹ cũng ăn kẻo xúp nguội nhỉ?” mẹ nói. Nhưng thay vào đó mẹ lại bên cửa sổ nhìn xuống Quảng trường Nişantaşı; mẹ đứng đó nhìn một hồi lâu. Rồi mẹ quay lại, về bàn ngồi, bắt đầu ăn xúp. Hai anh em tôi đang bàn luận về trận đấu hôm qua.
“Im nào! Hình như là tiếng thang máy?”
Chúng tôi chợt im lặng và chăm chú lắng nghe. Không phải là thang máy. Một chiếc xe điện làm phá tan sự im lặng, làm rung rinh bàn, những chiếc ly, bình nước và nước bên trong. Lúc đang ăn cam, chúng tôi rõ ràng nghe thấy tiếng thang máy. Mỗi lúc nó mỗi gần hơn, nhưng không ngừng ở tầng chúng tôi; nó đi thẳng lên tầng nhà bà nội. “Nó đi thẳng lên trên,” mẹ nói.
Sau khi chúng tôi ăn xong, mẹ nói, “Mang đĩa của các con ra bếp. Để yên đĩa của bố trên bàn.” Chúng tôi dọn bàn. Cái đĩa sạch của bố nằm chỏng chơ trên cái bàn trống một lúc lâu.
Mẹ lại bên cái cửa sổ trông xuống đồn cảnh sát; mẹ đứng đó nhìn một hồi lâu. Rồi đột ngột mẹ quyết định. Gom dao, nĩa và cái đĩa không của bố, mẹ mang cả vào bếp. “Mẹ đi lên nhà bà đây,” mẹ nói. “Đừng có đánh nhau trong lúc mẹ đi đấy.”
Hai anh em tôi trở lại với trò Trên hay Dưới.
“Trên,” tôi nói, lần đầu tiên.
Anh tôi lật quân bài ở trên: số 34, Koca Yusuf, đô vật nổi tiếng thế giới. Anh rút một quân từ dưới xấp bài: số 50, Atatürk. “Mày thua. Đưa tao một lá.”
Chúng tôi chơi một đỗi lâu mà anh ấy cứ thắng liên tục. Chẳng mấy chốc anh đã được mười chín trong số hai mươi Fevzi Çakmak của tôi và hai Atatürk.
“Em không chơi nữa đâu,” tôi nói, cáu kỉnh. “Em lên lầu. Với mẹ.”
“Mẹ sẽ nổi quạu đó.”
“Nhát gan! Anh sợ ở nhà một mình à?”
Cửa nhà bà để mở như thường lệ. Bữa tối đã xong. Bekir, bác đầu bếp, đang rửa bát; bác tôi và bà nội đang ngồi đối diện nhau. Mẹ đang ở bên cửa sổ nhìn xuống Quảng trường Nişantaşı.
“Lại đây,” mẹ nói, vẫn nhìn ra cửa sổ. Tôi nhích thẳng vào khoảng trống có vẻ như để dành chỉ cho tôi. Tựa vào người mẹ, tôi cũng nhìn xuống Quảng trường Nişantaşı. Mẹ đặt tay lên đầu và khẽ nghịch tóc tôi.
“Chiều nay bố con về nhà sớm, mẹ nghe nói vậy. Con đã gặp bố.”
“Vâng.”
“Bố lấy va li rồi đi. Hazim Efendi thấy bố.”
“Vâng.”
“Bố có nói với con là bố đi đâu không, con trai?”
“Không ạ,” tôi nói. “Bố cho con hai lira rưỡi.”
Dưới đường, mọi thứ - những cửa tiệm tối dọc theo đại lộ, ánh đèn xe hơi, khoảng không nhỏ xíu ở giữa chỗ cảnh sát giao thông đứng, đá rải đường ẩm ướt, những chữ cái trên các bảng quảng cáo treo trên thân cây - mọi thứ đều cô đơn và buồn bã. Trời đổ mưa, và mẹ chầm chậm lướt những ngón tay qua tóc tôi.
Lúc đó tôi chợt nhận ra cái đài ở giữa ghế của bà nội và ghế của bác tôi - cái đài lúc nào cũng mở - đang nín lặng. Tôi bỗng rùng mình.
“Đừng đúng như thế, con gái,” khi ấy bà nội nói.
Anh tôi cũng lên lầu.
“Hai đứa đi vô bếp,” bác tôi nói. “Bekir!” ông gọi. “Làm cho tụi nhỏ một quả bóng; tụi nó có thể chơi đá bóng trong hành lang.”
Trong bếp, Bekir đã rửa bát xong. “Ra đằng kia ngồi,” bác nói. Bác đi ra ban công vây bằng kính mà bà tôi đã biến thành một nhà kính trồng rau, mang vào một chồng báo rồi bắt đầu vò thành quả bóng. Khi nó to bằng nắm tay, bác hỏi, “Thế này được chưa?”
“Bọc thêm vài tờ xung quanh ạ,” anh tôi nói.
Trong khi Bekir bọc thêm vài tờ giấy báo quanh quả bóng, tôi nhìn qua lối cửa dõi xem mẹ, bà nội và bác tôi phía bên kia. Bekir dùng một sợi dây lấy ra từ một ngăn kéo để quấn quả bóng giấy tròn hết mức có thể. Để làm mềm những cạnh sắc, ông lấy một cái giẻ ẩm lau nhẹ rồi nén nó lại lần nữa. Anh tôi không thể cưỡng lại việc sờ nó.
“Ui. Cứng như đá ấy.”
“Đặt ngón tay cháu vào đây cho bác.“Anh tôi thận trọng đặt ngón tay ở chỗ nút thắt cuối cùng phải được buộc lại. Bekir gút lại, thế là quả bóng đã xong. Bác tung nó lên và chúng tôi bắt đầu đá nó loanh quanh.
“Chơi ở hành lang ấy,” Bekir nói. “Chơi ở đây thế nào các cháu cũng làm vỡ thứ gì đó.”
Chúng tôi chơi trò này hết sức hăng hái một lúc lâu. Tôi giả vờ là Letter của đội FenerbahÇe, xoay trở vặn người y như anh. Mỗi khi bật tường, tôi chạy đâm sầm vào cánh tay đau của anh tôi. Anh tôi cũng đâm vào tôi, nhưng không đau. Cả hai chúng tôi vã mồ hôi, quả bóng rã ra thành từng mảnh, và tôi thắng 5-3 khi tôi nhắm cánh tay đau của anh đá thật mạnh. Anh nằm vật ra sàn gào lên.
“Chừng nào tay tao bớt đau tao sẽ giết mày!” anh nằm đó nó.
Anh cáu kỉnh vì thua tôi. Tôi ra khỏi hành lang đi vào phòng khách; bà tôi, bác tôi và mẹ đều đã đi vào phòng làm việc. Bà tôi đang quay điện thoại.
“Chào con gái,” bà nói, cùng một giọng như khi bà gọi mẹ bằng cùng cụm từ đó. “Đây có phải là Sân bay Yeşilköy? Nghe này, con gái, bác muốn hỏi về một hành khách bay đi châu Âu hôm nay.” Bà nói tên bố tôi và xoắn dây điện thoại quanh ngón tay trong lúc chờ. “Lấy cho mẹ mấy điếu thuốc,” bà nói với bác tôi. Khi bác tôi ra khỏi phòng, bà bỏ ống nghe ra khỏi tai.
“Con gái, nói cho mẹ biết đi,” bà nói với mẹ. “Con biết mà. Có con đàn bà nào khác không?”
Tôi không nghe được câu trả lời của mẹ. Bà tôi nhìn mẹ như thể mẹ chưa nói lời nào. Rồi người bên kia đầu dây nói gì đó và bà nổi giận. “Họ sẽ không nói cho chúng ta,” bà nói, lúc đó bác tôi đã quay lại cùng thuốc lá và gạt tàn.
Mẹ thấy bác đang nhìn tôi, lúc đó mẹ mới để ý là tôi ở đó. Nắm cánh tay tôi, mẹ kéo tôi ra lại hành lang. Khi mẹ chạm vào lưng và gáy tôi, mẹ thấy tôi đổ mồ hôi nhiều chừng nào, nhưng mẹ không nổi cáu.
“Mẹ ơi, tay con đau,” anh tôi nói.
“Hai đứa xuống dưới nhà đi, mẹ sẽ cho hai con đi ngủ.”
Dưới lầu ở tầng của chúng tôi, ba chúng tôi im lặng một lúc lâu. Trước khi đi ngủ tôi mặc bộ pyjama rón rén vào nhà bếp lấy một ly nước, rồi đi vào phòng khách. Mẹ đang ngồi hút thuốc trước cửa sổ, và thoạt đầu mẹ không nghe tiếng tôi.
“Đi chân không con sẽ nhiễm lạnh mất,” mẹ nói. “Anh con lên giường chưa?”
“Anh ấy ngủ rồi. Mẹ, con sắp nói với mẹ một điều.” Tôi đợi mẹ dịch ra chừa chỗ cho tôi bên cửa sổ. Khi mẹ mở ra khoảng không gian ngọt ngào đó, tôi len vào. “Bố đi Paris,” tôi nói. “Và mẹ có biết là bố mang cái va li nào không?”
Mẹ không nói gì. Trong tĩnh lặng của đêm, chúng tôi ngắm con phố ướt mưa một lúc lâu.
3.
Nhà bà ngoại tôi nằm cạnh Thánh đường Şişli và ở cuối đường xe điện. Bây giờ quảng trường đầy các trạm xe buýt nhỏ và xe buýt nội thành, những tòa nhà cao tầng xấu xí và các cửa hàng bách hóa phủ đầy biển hiệu, và các văn phòng nơi nhân viên ùa ra vỉa hè vào giờ ăn trưa trông như bầy kiến, nhưng ngày ấy nó đang ở trên rìa của một thành phố châu Âu. Đi bộ từ nhà chúng tôi đến quảng trường rải đá rộng rãi ấy mất mười lăm phút, và khi nắm tay mẹ đi dưới những tán cây đoan và cây dâu tằm, chúng tôi cảm thấy như mình đến vùng nông thôn.
Bà ngoại tôi sống trong một căn nhà bốn tầng bằng đá và bê tông trông như một hộp diêm nằm nghiêng; phía Tây nhà hướng về Istanbul còn đằng sau nhà là đám cây dâu tằm trên các ngọn đồi. Sau khi chồng mất và ba con gái lấy chồng, bà quyết định sống trong một căn phòng của căn nhà, ngổn ngang những là tủ quần áo, bàn, khay, đàn dương cầm và các đồ đạc khác. Dì tôi thường nấu ăn cho bà và tự mang sang hay sắp đồ ăn vào cà mèn kim loại rồi sai tài xế của mình mang sang cho bà. Bà ngoại không chỉ không ra khỏi phòng xuống hai tầng lầu tới nhà bếp để nấu ăn; bà thậm chí còn không sang các phòng khác trong nhà, bị phủ một lớp bụi dày và mạng nhện óng ánh. Cũng như mẹ của mình, người đã trải qua những năm cuối đời trong một dinh thự to bằng gỗ, bà ngoại tôi đã đầu hàng trước một căn bệnh cô độc bí ẩn, thậm chí bà còn không cho phép người chăm sóc hay quét dọn hằng ngày.
Khi chúng tôi đến thăm bà, mẹ tôi bay bấm chuông thật lâu và đập đập trên cánh cửa sắt, cho đến khi cuối cùng bà mở cánh cửa chớp bằng sắt hoen gỉ trên cửa sổ tầng hai trông ra thánh đường và nheo mắt nhìn xuống chúng tôi, và bởi vì bà không tin vào mắt mình - bà không còn nhìn được xa lắm - nên bà yêu cầu chúng tôi vẫy bà.
“Bước ra khỏi lối ra vào cho bà ngoại thấy, các con,” mẹ nói. Bước ra giữa vỉa hè cùng với chúng tôi, mẹ vẫy và gọi, “Mẹ oi, con và các cháu đây; chúng con đây mà, mẹ nghe được không?”
Từ nụ cười ấm áp của ngoại chúng tôi biết bà đã nhận ra mình. Bà liền lui khỏi cửa sổ, vào phòng, lấy cái chìa khóa lớn giấu dưới gối, gói vào giấy báo ném xuống. Hai anh em tôi sẽ xô đẩy nhau, tranh nhau bắt chìa.
Cánh tay anh tôi còn đau khiến anh chậm chạp hơn, nên tôi bắt được chìa khóa và đưa cho mẹ. Cố một chút, mẹ xoay xở mở được cánh cửa sắt to đùng. Cả ba chúng tôi cùng đẩy nên cánh cửa từ từ chịu thua, và từ trong bóng tối bốc lên cái mùi mà tôi sẽ không bao giờ gặp lại: một không khí ruỗng mục, nấm mốc, bụi bặm, cũ kỹ và lưu cữu. Trên giá áo khoác ngay bên cạnh cửa - để khiến cho đám trộm cắp thường xuyên xuất hiện nghĩ rằng có đàn ông trong nhà - bà tôi để ở đấy chiếc mũ phớt và áo khoác cổ lông của ông ngoại, và trong góc có đôi bốt luôn luôn làm tôi sợ.
Một lát sau, đi hết hai đợt cầu thang gỗ, xa xa, đứng trong một vùng ánh sáng trắng, chúng tôi thấy bà ngoại. Trông bà giống như một bóng ma, đứng tuyệt đối bất động trong bóng râm cùng cây gậy, chỉ được chiếu sáng nhờ ánh sáng lọt qua những cánh cửa phong cách Art Deco phủ đầy sương giá.
Mẹ bước lên các bậc thang cót két mà không nói gì với bà ngoại. (Có đôi lúc mẹ nói, “Mẹ khỏe không, mẹ yêu quý?” hay “Mẹ yêu quý, con nhớ mẹ; bên ngoài rất lạnh, thưa mẹ!”) Lên tới bậc thang trên cùng, tôi hôn tay bà ngoại, cố không nhìn vào mặt bà, hay cái mụt ruồi to trên cổ tay. Nhưng cái răng độc nhất trong miệng bà, cái cằm dài và những sợi lông trên mặt bà vẫn làm chúng tôi sợ hãi, nên khi ở trong phòng rồi chúng tôi vẫn nép vào bên cạnh mẹ. Bà quay lại giường, bà ở đó cả ngày lúc nào cũng vận cái váy ngủ dài và áo khoác len, và bà mỉm cười với chúng tôi, nhìn chúng tôi ngầm bảo, Được rồi, bây giờ thì giải khuây cho bà đi.
“Cái lò sưởi của mẹ hoạt động không tốt lắm, mẹ à,” mẹ tôi nói. Mẹ lấy cái que cời khưi than.
Bà ngoại đợi một lúc, rồi nói, “Mặc cái lò sưởi đi. Cho mẹ hay vài tin tức nào. Chuyện gì đang xảy ra trên thế giới?”
“Không có gì cả,” mẹ tôi nói, ngồi bên cạnh chúng tôi.
Sau một quãng ngắn im lặng, bà hỏi, “Con không gặp ai à?”
“Mẹ biết chuyện đó rồi mà, mẹ.”
“Chúa ơi, con không có tin gì sao?”
vẫn là im lặng.
“Bà ơi, ở trường chúng cháu có tiêm phòng,” tôi nói.
“Vậy sao?” bà tôi nói, đôi mắt lam to nhướng lên như thể ngạc nhiên. “Có đau không?”
“Tay cháu vẫn còn đau,” anh tôi nói.
“Ôi trời,” bà nói và mỉm cười.
Rồi một khoảng dài im lặng nữa. Hai anh em tôi đứng lên nhìn ra cửa sổ về phía những ngọn đồi đằng xa, những cây dâu tằm, và cái chuồng gà cũ trống không ở vườn sau.
“Con không có chuyện gì kể với mẹ cả sao?” bà ngoại nài nỉ. “Con lên lầu gặp mẹ chồng con. Rồi không gặp ai nữa sao?”
“Chiều hôm qua Dilruba Hanım tới,” mẹ nói. “Họ chơi bài bezique với bà nội của các cháu.”
Với giọng hân hoan, bà tôi sẽ nói điều mà chúng tôi đã đoán trước: “Đó là quý bà ở dinh!”
Chúng tôi biết bà không nói về một trong những dinh thự màu kem mà chúng tôi đọc được rất nhiều trong các truyện cổ tích và báo chí của những năm đó mà về Dinh DolmabahÇe; chỉ mãi sau này tôi mới nhận ra bà tôi coi thường Dilruba Hanım - người xuất thân từ hậu cung của vị hoàng đế cuối cùng - bởi vì bà là một phi tần trước khi lấy một doanh nhân, và bà cũng coi thường bà nội tôi vì đã kết bạn với người phụ nữ này. Rồi họ chuyển sang một chủ đề khác mà lần nào mẹ tôi đến thăm họ cũng bàn luận: Mỗi tuần một lần, bà tôi sẽ đến Beyoğlu ăn trưa một mình tại một tiệm ăn nổi tiếng và đắt tiền tên là Aptullah Efendi, và sau đó bà sẽ phàn nàn lâu thật là lâu về mọi thứ bà đã ăn. Bà mở ra chủ đề thứ ba bằng cách hỏi chúng tôi câu này: “Các cháu này, bà nội có bắt các cháu ăn rau mùi tây không?”
Chúng tôi đồng thanh trả lời, nói điều mà mẹ đã dặn chúng tôi nói. “Thưa bà, không ạ.”
Lúc nào cũng thế, bà ngoại kể cho chúng tôi nghe bà thấy mèo đái lên mùi tây trong vườn như thế nào, và rất có khả năng là chính rau mùi ấy rốt cuộc sẽ hầu như không được rửa chui vào đồ ăn của một tên ngốc nào đấy, và bà vẫn còn tranh cãi về điều này với những người bán rau ở Şişli và Nişantaşi ra sao.
“Mẹ ơi,” mẹ tôi nói, “bọn trẻ chán rồi; chúng muốn xem các phòng khác. Con sẽ mở căn phòng bên cạnh đây.”
Bà ngoại tôi khóa mọi căn phòng trong nhà từ bên ngoài, để lỡ có trộm vào nhà qua cửa sổ thì cũng không vào được phòng nào khác. Mẹ tôi mở toang căn phòng lớn lạnh trông ra đại lộ có đường xe điện, và mẹ đứng đó với chúng tôi một lúc, nhìn những chiếc ghế bành và đi văng dưới lớp vải che bụi, những chiếc đèn, khay và ghế bụi bặm, hoen gỉ, những chồng báo cũ; nhìn cái yên rách và tay lái cong của một chiếc xe đạp con gái cọc cạch để tựa trong góc. Nhưng mẹ không lấy thứ nào trong thùng ra để cho chúng tôi xem, như mẹ vẫn làm trong những ngày vui vẻ hơn. (“Mẹ của các con từng mang những đôi xăng đan này khi còn nhỏ này; các con nhìn xem đồng phục của dì này; các con có muốn xem con heo đất của mẹ các con hồi bé không?”)
“Nếu tụi con lạnh thì vào nói cho mẹ biết nhé,” mẹ nói rồi đi ra.
Hai anh em tôi chạy đến bên cửa sổ nhìn thánh đường và xe điện trên quảng trường. Rồi chúng tôi đọc về các trận đá bóng cũ trên báo. “Chán quá,” tôi nói. “Anh có muốn chơi trò Trên hay Dưới không?”
“Nhà đô vật thua trận vẫn muốn tiếp tục đấu,” anh tôi nói, không ngẩng đầu lên khỏi tờ báo. “Tao đang đọc báo.”
Sáng hôm đó chúng tôi đã chơi lần nữa, và anh tôi lại thắng.
“Đi mà”
“Tao có một điều kiện: Nếu tao thắng, mày phải đưa tao hai hình, còn nếu mày thắng, tao chỉ đưa mày một.”
“Không, một thôi.”
“Vậy thì tao không chơi,” anh tôi nói. “Mày thấy đó, tao đang đọc báo.”
Anh cầm tờ báo như một thám tử người Anh trong một bộ phim trắng đen mà chúng tôi xem gần đây ở Rạp Thiên thần. Sau khi nhìn ra cửa sổ thêm một chút, tôi đồng ý với điều kiện anh tôi đặt ra. Chúng tôi lấy những lá bài Người Nổi Tiếng ra và bắt đầu chơi. Đầu tiên tôi thắng, nhưng sau đó tôi thua thêm 17 lá nữa.
“Chơi kiểu này em lúc nào cũng thua,” tôi nói. “Nếu không quay lại luật cũ thì em không chơi nữa.”
“Được thôi,” anh tôi nói, vẫn bắt chước viên thám tử đó. “Dù sao thì tao cũng muốn đọc mấy tờ báo kia.”
Tôi nhìn ra cửa sổ một lúc. Tôi cẩn thận đếm hình của mình: tôi còn 121 lá. Ngày hôm trước lúc bố đi, tôi có 183! Nhưng tôi không muốn nghi về chuyện đó. Tôi đã đồng ý điều kiện của anh tôi.
Lúc đầu tôi thắng, nhưng rồi anh ấy bắt đầu thắng lại. Che giấu niềm vui của mình, anh tôi không mỉm cười khi lấy bài của tôi thêm vào xấp của mình.
“Nếu mày muốn, ta có thể chơi theo luật khác,” một lát sau anh nói. “Ai thắng sẽ lấy một lá. Nếu tao thắng, tao có thể chọn lấy lá nào của mày. Vì một số lá tao chưa có cái nào, mà mày thì không bao giờ cho tao mấy lá đó.”
Nghĩ rằng mình sẽ thắng, tôi đồng ý. Tôi không biết nó xảy ra thế nào. Ba lần liên tiếp tôi mất lá bài có giá trị cao về tay anh, và trước khi kịp nhận ra, tôi đã mất cả hai quân Greta Garbo (số 21) và quân Vua Faruk (78) duy nhất. Tôi muốn lấy lại tất cả chúng ngay lập tức, nên trò chơi trở nên ăn thua lớn hơn: Thế là nhiều lá bài khác tôi có mà anh tôi thì không - Einstein (63), Rumi (3), Sarkis Nazaryan, sáng lập viên Công ty Kẹo cao su - Trái cây đóng hộp Mambo (100), và Cleopatra (51) - sang tay anh chỉ sau hai vòng chơi.
Tôi thậm chí không nuốt được. Vì sợ rằng mình có thể bật khóc, tôi chạy lại cửa sổ nhìn ra: Mới năm phút trước mọi thứ còn dường đẹp làm sao - xe điện tiến vào trạm, những tòa nhà chung cư hiện lên ở đằng xa qua những cành cây trụi lá, con chó nằm trên mặt đường trải đá, lười nhác gãi gãi mình! Phải chi thời gian đã ngừng lại. Phải chi chúng tôi có thể đi ngược năm ô như khi chơi trò cờ cá ngựa. Tôi không bao giờ chơi trò Trên hay Dưới với anh tôi lần nữa.
“Mình chơi nữa nhé?” tôi nói, không nhấc trán khỏi kính cửa sổ.
“Tao không chơi đâu,” anh tôi nói. “Mày chỉ có khóc thôi.”
“Cevat, em hứa. Em không khóc,” tôi vừa nài nỉ vừa đi về phía anh. “Nhưng mình phải chơi theo cách ban đầu, theo luật cũ.”
“Tao định đọc báo.”
“Được rồi,” tôi nói. Tôi xáo xấp bài mỏng hơn bao giờ hết của tôi. “Theo luật cũ. Trên hay Dưới?”
“Không khóc nghe chưa,” anh nói. “Được rồi, ở trên.”
Tôi thắng và anh đưa tôi một trong những quân Đại nguyên soái Fevzi Çakmak. Tôi không chịu lấy. “Anh cho em xin lại số 78, Vua Faruk?”
“Không,” anh nói. “Ta không có thỏa thuận đó.”
Chúng tôi chơi hai vòng nữa, và tôi thua. Giá như tôi đừng chơi vòng thứ ba đó: Khi tôi đưa anh quân số 49, Napoléon, tay tôi run run.
“Tao không chơi nữa,” anh tôi nói.
Tôi nài nỉ. Chúng tôi chơi thêm hai vòng, và thay vì đưa anh ấy những hình anh đời, tôi ném tất cả quân bài vào đầu anh và vào không khí: những quân bài mà tôi sưu tầm hai tháng rưỡi nay, nghĩ về từng quân một hằng ngày, cất giấu và cẩn thận, hồi hộp tích lũy chúng - số 28, Mae West, và 82, Jules Verne; số 7 Mehmet Nhà Chinh phục, và 70 Nữ hoàng Elizabeth; 41 nhà báo quản mục Celal Salik, và 42, Voltaire - chúng bị ném bay trên không và văng tung tóe khắp sàn nhà.
Phải chi tôi ở một nơi hoàn toàn khác, trong một cuộc đời hoàn toàn khác. Trước khi quay lại phòng của bà ngoại, tôi nhẹ nhàng bò xuống những bậc thang cọc cạch, nghĩ về một người họ hàng xa mua bảo hiểm xong rồi tự tử. Bà nội đã bảo tôi rằng những người tự tử không lên được thiên đường mà phải ở một nơi tối tăm bên dưới mặt đất. Khi đã xuống khá nhiều bậc thang, tôi dừng lại đứng trong bóng tối. Tôi quay lại đi lên cầu thang và đứng trên bậc thang cuối cùng, bên cạnh phòng của bà ngoại.
“Mẹ không giàu có như mẹ chồng con đâu,” tôi nghe bà ngoại nói. “Con hãy chăm sóc con của con và chờ đợi.”
“Nhưng con van mẹ đấy, mẹ yêu quý. Con muốn quay trở lại đây cùng các con,” mẹ tôi nói.
“Con không thể sống ở đây với hai đứa nhỏ được, tụi nó không thể sống với bao nhiêu bụi bặm, ma quỷ và lũ trộm này,” bà ngoại nói.
“Mẹ yêu quý,” mẹ nói, “mẹ không nhớ chúng ta đã sống ở đây vui vẻ thế nào sao, chỉ mẹ và con, sau khi các chị đã lấy chồng và bố mất?”
“Melbrure yêu quý, cả ngày con chỉ làm mỗi việc là lật lại những số báo Illustrations cũ của bố con.”
“Nếu con đốt lò sưởi lớn dưới nhà, trong hai ngày là căn nhà sẽ ấm cúng và ấm áp”
“Mẹ đã bảo con đừng có cưới nó, phải không?” bà ngoại nói.
“Nếu con mang người giúp việc đến, ta chỉ mất hai ngày để dọn sạch chỗ bụi bặm này,” mẹ nói.
“Mẹ sẽ không cho bất cứ đứa giúp việc trộm cắp nào bước chân vào nhà này,” bà nói. “Dù sao thì để quét hết chỗ mạng nhện và bụi này cũng phải mất đến sáu tháng. Tới lúc đó thì thằng chồng bội bạc của con cũng đã về nhà lại rồi.”
“Đây có phải là lời cuối của mẹ không, mẹ yêu quý?” mẹ hỏi.
“Mebrure, con gái yêu của mẹ, nếu con đến đây cùng hai đứa trẻ thì bốn chúng ta sống bằng cái gì?”
“Mẹ yêu quý, đã bao nhiêu lần con bảo mẹ - thỉnh cầu mẹ - bán các lô đất ở Bebek đi trước khi người ta trưng thu?”
“Mẹ sẽ không đến văn phòng công chứng để cho mấy gã dơ bẩn ấy chữ ký và hình đâu.”
“Mẹ yêu quý, đừng nói như vậy: Chị con và con đã mang một công chứng viên đến tận nhà,” mẹ nói, cao giọng.
“Mẹ không bao giờ tin tay công chứng viên ấy,” bà ngoại nói. “Nhìn mặt hắn con có thể thấy ngay hắn là hạng lường gạt. Có khi hắn thậm chí chẳng phải là công chứng viên. Và đừng có hét vào mẹ như thế.”
“Thôi được, mẹ yêu quý, con sẽ không hét,” mẹ nói. Mẹ gọi vào phòng chúng tôi. “Các con đâu, nhanh lên, thu dọn đồ đạc; mình đi về.”
“Từ từ!” bà ngoại nói. “Chúng ta còn chưa nói được hai chữ.”
“Mẹ không muốn chúng con mà, mẹ yêu quý,” mẹ tôi thì thào.
“Lấy cái này, hãy cho bọn trẻ ăn ít thạch rắc đường.”
“Chúng không được ăn vặt trước giờ ăn trưa,” mẹ tôi nói, và khi ra khỏi phòng mẹ lướt qua đằng sau tôi để vào phòng đối diện. “Ai ném những tấm hình này khắp sàn nhà? Nhặt lên ngay lập tức. Còn con thì giúp em,” mẹ nói với anh tôi.
Trong khi chúng tôi im lặng nhặt những tấm hình, mẹ tôi nhấc nắp mấy cái rương cũ và nhìn những chiếc váy thời thơ ấu của mình, trang phục múa ba lê, những cái hộp. Bụi dưới bộ khung đen của chiếc máy may đạp chân lấp đầy lỗ mũi tôi, khiến tôi chảy nước mắt, làm nghẹt mũi.
Trong khi chúng tôi rửa tay trong cái bồn bé tí, bà ngoại nài nỉ giọng khẽ khàng. “Mebrure yêu dấu, con mang cái ấm trà này đi; con quý nó lắm, con có quyền mang nó đi,” bà nói. “Ông của mẹ mang nó đến cho mẹ của mẹ khi ông là thống đốc Damascus. Nó có nguồn gốc từ tận Trung Hoa. Con hãy lấy nó.”
“Mẹ yêu, từ giờ phút này con không muốn bất cứ thứ gì của mẹ,” mẹ nói. “Và mẹ hãy cất nó vào tủ ly đi không thì mẹ làm vỡ đấy. Nào, các con, hôn tay bà ngoại đi.”
“Mebrure bé nhỏ của mẹ, con gái yêu của mẹ, đừng giận mẹ tội nghiệp của con,” bà tôi nói trong khi để chúng tôi hôn tay. “Đừng để mẹ ở đây mà không có khách viếng thăm, không có ai cả.”
Chúng tôi phóng xuống cầu thang, và khi ba chúng tôi đẩy cánh cửa sắt nặng nề mở ra, ánh sáng mặt trời rực rỡ chào đón trong khi chúng tôi hít thở không khí thanh sạch.
“Đóng chặt cửa vào nhé!” bà tôi gọi. “Mebrure, tuần này con sẽ lại đến thăm mẹ chứ, phải không?”
Chúng tôi cùng mẹ nắm tay nhau đi, không ai nói gì. Trong im lặng chúng tôi lắng nghe các hành khách khác ho húng hắng và đợi xe điện chạy. Khi chúng tôi cuối cùng thực sự bắt đầu chuyển động, hai anh em tôi chuyển tới hàng kế tiếp, nói chúng tôi muốn xem người soát vé, và bắt đầu chơi trò Trên hay Dưới. Đầu tiên tôi thua vài lá, rồi thắng lại vài lá. Tôi đề nghị nâng mức ăn thua lên, anh tôi vui vẻ đồng ý, và tôi nhanh chóng bắt đầu lại thua. Đến trạm Osmanbey, anh tôi nói, “Để đổi tất cả ảnh mày còn lại, đây là số Mười lăm mà mày rất muốn.”
Tôi chơi và thua. Không để anh nhìn thấy, tôi rút hai lá khỏi xấp bài trước khi đưa nó cho anh tôi. Tôi ra hàng sau ngồi với mẹ. Tôi không khóc. Tôi buồn bã nhìn ra cửa sổ trong lúc xe điện rên rỉ và từ từ tăng tốc, và tôi dõi theo chúng lướt qua chúng tôi, tất cả những con người và nơi chốn ấy đã mãi mãi biến mất: những tiệm may nhỏ, những tiệm bánh, những quán ăn có mái che, rạp Tan nơi chúng tôi xem những phim về Rome cổ, bọn trẻ con đứng dọc tường cạnh mặt tiền đường bán truyện tranh cũ, người thợ cắt tóc có những cây kéo sắt làm tôi rất sợ, và người điên trong khu phố nửa thân lõa lồ, luôn luôn đứng ngay cửa tiệm cắt tóc.
Chúng tôi xuống xe ở Harbiye. Khi đi bộ về nhà, sự im lặng đầy thỏa mãn của anh tôi khiến tôi nổi điên. Tôi lấy lá bài Lindbergh mà tôi giấu trong túi ra.
Đây là lần đầu anh tôi nhìn thấy nó. “Chín mươi mốt: Lindbergh!” anh trầm trồ đọc. “Cùng chiếc máy bay mà ông đã bay qua Đại Tây Dương! Sao mày có cái này?”
“Hôm qua em không tiêm phòng,” tôi nói. “Em về nhà sớm, và em gặp bố trước khi bố đi. Bố mua cho em.”
“Vậy thì một nửa là của tao,” anh nói. “Thực ra, khi chơi ván cuối, theo thỏa thuận mày phải đưa tao tất cả những tấm hình mày còn lại.” Anh cố giằng tấm hình trong tay tôi, nhưng không được. Anh nắm lấy cổ tay tôi, mà vặn mạnh đến nỗi tôi phải đá vào chân anh. Chúng tôi ngã đè lên nhau.
“Thôi ngay!” mẹ tôi nói. “Thôi ngay! Chúng ta đang ở giữa đường!”
Chúng tôi dừng lại. Một người đàn ông vận áo vest và một phụ nữ đội mũ đi ngang qua chúng tôi. Tôi thấy xấu hổ vì đã đánh nhau ngoài đường. Anh tôi bước được hai bước lại ngã nhào xuống đất. “Đau quá,” anh tôi nói, ôm chân.
“Đứng dậy,” mẹ nói khẽ. “Nào, đứng dậy nào. Mọi người đang nhìn kìa.”
Anh tôi đứng dậy đi thất thểu trên đường như một người lính bị thương trong phim. Tôi sợ anh bị đau thật, nhưng tôi vẫn vui mừng khi thấy anh như thế. Sau khi chúng tôi im lặng đi được một lúc, anh nói, “Về tới nhà mày sẽ biết tay. Mẹ, hôm qua Ali không tiêm phòng.”
“Con có tiêm, mẹ!”
“Im đi!” mẹ gắt.
Bây giờ chúng tôi đã về tới đối diện nhà mình. Chúng tôi đợi chuyến xe điện đến từ MaÇka đi qua trước khi băng sang đường. Sau đó một xe tải chạy đến, một chiếc xe buýt Beşiktaş lạch xạch xả ra những đám khói lớn, và hướng ngược lại, là một chiếc De Soto màu tím nhạt. Khi đó tôi thấy bác tôi đang từ cửa sổ nhìn xuống đường. Ông không thấy tôi; ông đang đăm đăm nhìn những chiếc xe chạy ngang qua. Tôi ngắm ông một lúc lâu.
Con đường đã vắng xe từ lâu. Tôi quay sang mẹ, băn khoăn sao mẹ chưa nắm tay đưa chúng tôi băng qua phía bên kia, và thấy mẹ đang lặng lẽ khóc.