Orhan Pamuk sinh năm 1952 ở Istanbul, hiện nay ông vẫn sống ở đó. Gia đình ông tích lũy gia sản nhờ vào việc xây dựng đường ray xe lửa trong những ngày đầu của nước Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ và Pamuk theo học tại Trường Robert, nơi con cái của tầng lớp tinh hoa đặc quyền của thành phố tiếp nhận một nền giáo dục thế tục theo kiểu phương Tây. Những năm đầu đời ông tỏ ra ham mê nghệ thuật thị giác, nhưng sau khi ghi danh học ngành kiến trúc tại đại học ông quyết định theo đuổi nghề viết. Hiện ông là nhà văn được đọc nhiều nhất của Thổ Nhĩ Kỳ.
Tiểu thuyết đầu tay của ông, Cevdet Bey và các con trai, xuất bản năm 1982, sau đó là các cuốn Ngôi nhà im lặng (1983), Pháo đài trắng (1985/bản dịch tiếng Anh năm 1991), Cuốn sách đen (1990/1994), và Cuộc đời mới (1994/1997). Năm 2003 Pamuk nhận Giải thưởng Văn chương Dublin IMP AC Quốc tế cho cuốn Tên tôi là Đỏ (1998/2001), một truyện hình sự lấy bối cảnh Istanbul thế kỷ mười sáu do nhiều giọng kể. Cuốn tiểu thuyết này khai thác các chủ đề trung tâm của tiểu thuyết của ông: sự đa tạp của căn cước trong một quốc gia đứng giữa Đông và Tây, sự ganh đua giữa anh em trong nhà, sự tồn tại của những người thế vai, giá trị của vẻ đẹp và tính độc đáo, và sự lo lắng về ảnh hưởng văn hóa. Tuyết (2002/2004), cuốn sách tập trung phản ánh chủ nghĩa cực đoan tôn giáo và chính trị, là tiểu thuyết đầu tiên của ông đối diện với thái độ cực đoan chính trị ở Thổ Nhĩ Kỳ đương đại, và cuốn này khẳng định vị trí của ông ở nước ngoài mặc dù trên quê hương mình ông vừa được khen vừa bị chê. Cuốn sách mới nhất của Pamuk là Istanbul: Hồi ức và thành phố (2003/2005), một chân dung kép của ông - thời thơ ấu và thời thanh niên - và của nơi ông sinh trưởng.
Cuộc phỏng vấn Orhan Pamuk được tiến hành trong hai buổi gặp dài ở London và qua thư từ. Cuộc trò chuyện thứ nhất diễn ra tháng Năm năm 2004 vào thời điểm phát hành cuốn Tuyết tại Anh. Một căn phòng đặc biệt được đặt cho cuộc gặp - một không gian thường dành cho các công ty với tiếng máy lạnh ầm ì và đèn huỳnh quang. Pamuk đến, mặc áo khoác vải thô, bên trong là áo sơ mi lam nhạt và quần đen, ông bình luận, “Chúng ta có thề chết ở đây mà người ta không bao giờ tìm ra.” Chúng tôi rút vào một góc sang trọng, yên tĩnh ở sảnh khách sạn và trò chuyện suốt ba tiếng đồng hồ, chỉ nghỉ để uống cà phê và ăn bánh mì kẹp gà.
Tháng Tư năm 2005 Pamuk trở lại London nhân dịp phát hành cuốn Istanbul, và chúng tôi cũng lại ngồi ở góc khách sạn ấy trò chuyện hai tiếng đồng hồ nữa. Thoạt tiên ông có vẻ hơi căng thẳng, và chuyện này có nguyên do. Hai tháng trước, trong một lần trả lời phỏng vấn tờ báo Thụy Sĩ Der Tages-Anzeiger, ông nói về Thổ Nhĩ Kỳ, “Ba mươi nghìn người Kurd và một triệu người Armenia đã bị giết trên những mảnh đất này mà không ai ngoài tôi dám nói về chuyện đó.” Bình luận này châm ngòi cho một chiến dịch phản đối Pamuk không mệt mỏi trên báo chí quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ. Rốt cuộc, chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ vẫn khăng khăng bác bỏ vụ thảm sát người Armenina ở Thổ Nhĩ Kỳ năm 1915 và đã áp đặt những đạo luật hạn chế nghiêm trọng việc thảo luận về cuộc xung đột vẫn đang tiếp diễn với người Kurd. Pamuk từ chối bình luận về sự việc gây tranh cãi trước công chúng với hy vọng rằng vụ việc sẽ sớm lắng xuống. Tuy nhiên, vào tháng Tám, bình luận của Pamuk trên một tờ báo Thụy Sĩ dẫn đến việc ông bị cáo buộc theo điều 301/1 của Bộ luật hình sự Thổ Nhĩ Kỳ là đã “công khai phỉ báng” bản sắc Thổ Nhĩ Kỳ - một tội có thể bị phạt đến ba năm tù. Mặc dù báo chí quốc tế tức giận tường thuật vụ án của ông, cũng như các thành viên của Nghị viện châu Âu và hội PEN Quốc tế phản đối chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ ráo riết, khi số tạp chí này phát hành vào giữa tháng Mười một Pamuk vẫn phải chuẩn bị hầu tòa vào ngày 16 tháng Chạp năm 2005.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Ông cảm thấy thế nào về việc trả lời phỏng vấn?
ORHAN PAMUK
Đôi khi tôi cảm thấy bực bội bởi vì tôi đưa ra những câu trả lời ngốc nghếch cho những câu hỏi vô nghĩa nào đó. Điều này xảy ra cả trong tiếng Thổ lẫn tiếng Anh. Tôi nói một thứ tiếng Thổ tồi và phát ngôn những câu ngốc nghếch. Ở Thổ Nhĩ Kỳ tôi bị chỉ trích vì những bài phỏng vấn nhiều hơn vì những cuốn sách của mình. Các nhà bình luận và quản mục chính trị ở đó không đọc tiểu thuyết.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Nhìn chung sách của ông được phản hồi tích cực ở châu Âu và Mỹ. Sự tiếp nhận của giới phê bình ở Thổ Nhĩ Kỳ thì thế nào?
PAMUK
Bây giờ những năm tháng tốt đẹp đã qua rồi. Khi tôi xuất bản những cuốn sách đầu tiên, thế hệ tác giả trước đang dần biến mất đi, nên tôi được chào đón vì tôi là tác giả mới.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Khi nói “thế hệ trước”, ông nghĩ đến ai?
PAMUK
Các tác giả cảm thấy mình có trách nhiệm xã hội, các tác giả cảm thấy rằng văn chương phục vụ đạo đức và chính trị. Họ là các nhà hiện thực đơn thuần, không thể nghiệm. Cũng như các tác giả ở biết bao quốc gia nghèo, họ lãng phí tài năng cố gắng phục vụ quốc gia của mình. Tôi không muốn giống họ, vì ngay từ trẻ tôi đã ham thích Faulkner, Virginia Woolf, Proust - tôi chưa bao giờ muốn theo mẫu hình hiện thực xã hội của Steinbeck và Gorky. Văn chương ra đời trong những năm sáu mươi và bảy mươi đã trở nên lỗi thời, do đó tôi được chào đón như một tác giả thuộc thế hệ mới.
Sau quãng giữa những năm chín mươi, khi sách của tôi bắt đầu bán được với số lượng chưa ai ở Thổ Nhĩ Kỳ từng mơ tới, những năm trăng mật của tôi với báo chí và giới trí thức Thổ Nhĩ Kỳ kết thúc. Kể từ đó, sự tiếp nhận của giới phê bình chủ yếu là phản ứng trước danh tiếng và doanh số, hơn là trước nội dung sách của tôi. Giờ đây, thật không may, tôi bị tai tiếng vì những bình luận chính trị của mình - hầu hết bị một số nhà báo theo chủ nghĩa quốc gia Thổ tỉa ra từ các cuộc phỏng vấn quốc tế và bóp méo một cách vô liêm sỉ khiến tôi có vẻ cực đoan và điên rồ về chính trị hơn trên thực tế.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Vậy là có phản ứng thù nghịch đối với sự nổi tiếng của ông?
PAMUK
Tôi cho rằng chắc chắn đó là một cách trừng phạt đối với doanh số sách bán ra và những bình luận chính trị của tôi. Nhưng tôi không muốn tiếp tục nói chuyện này, bởi vì nghe có vẻ tự vệ quá. Tôi có thể làm sai lệch bức tranh tổng thể.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Ông viết ở đâu?
PAMUK
Tôi luôn nghĩ rằng nơi bạn ngủ hay nơi bạn chia sẻ với bạn đời của bạn nên tách biệt khỏi nơi bạn viết. Cách nào đó, những nghi thức và tiểu tiết trong gia đình đôi khi giết mất trí tưởng tượng. Chúng giết chết con quỷ trong tôi. Những việc lặp đi lặp lại buồn tẻ hằng ngày trong gia đình khiến cho cái vọng tưởng về cái thế giới khác, mà trí tưởng tượng cần để vận hành, nó nhạt dần đi. Cho nên đã bao năm nay tôi luôn có một văn phòng hay một chỗ nho nhỏ bên ngoài nhà để ngồi đó làm việc. Tôi luôn có những căn hộ khác nhau.
Nhưng có lần tôi đã trải qua nửa học kỳ ở Mỹ trong thời gian vợ cũ của tôi học lấy bằng Tiến sĩ ở Đại học Columbia. Chúng tôi sống trong một căn hộ dành cho sinh viên có gia đình và vì chật chội nên tôi phải ngủ và viết cùng một nơi. Nhìn đâu cũng toàn những thứ nhắc mình nhớ tới đời sống gia đình. Điều này làm tôi bực dọc. Sáng sáng, tôi chào tạm biệt vợ như một người chuẩn bị đi làm. Tôi ra khỏi nhà, đi bộ qua vài dãy nhà, rồi quay lại như một người tới văn phòng.
Cách đây mười năm tôi tìm được một căn hộ trông ra vịnh Bosphorus với phố cổ trong tầm nhìn. Có lẽ nó có một trong những góc nhìn đẹp nhất Istanbul. Nó cách nơi tôi ở hai mươi lăm phút đi bộ. Ở đó đầy sách và bàn tôi ngồi nhìn ra quang cảnh đó. Trung bình hằng ngày tôi ở đó chừng mười tiếng.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Mười tiếng một ngày?
PAMUK
Đúng, tôi là người làm việc chăm chỉ. Tôi thích vậy. Có người nói tôi tham vọng, có lẽ trong đó cũng có vài phần sự thật. Nhưng tôi yêu những gì tôi làm. Tôi thích ngồi vào bàn như đứa trẻ chơi với đồ chơi của nó. Thực chất, đó là công việc, nhưng nó vui và cũng là trò chơi.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Orhan, người cùng tên với ông và là người dẫn chuyện trong Tuyết, tự mô tả mình như một thư ký hằng ngày cứ đúng giờ là ngồi vào bàn. Ông có kỷ luật tương tự cho việc viết không?
PAMUK
Tôi từng nhấn mạnh tính chất bàn giấy của tiểu thuyết gia so với tính chất công việc của thi sĩ, những người từng có một lịch sử huy hoàng ở Thổ Nhĩ Kỳ. Làm thi sĩ là một việc tiếng tăm và được trọng vọng. Hầu hết các hoàng đế Ottoman và các chính khách là nhà thơ. Nhưng không phải theo cách chúng ta hiểu về các nhà thơ bây giờ. Suốt hàng trăm năm, đó là cách xác lập bạn là một nhà trí thức. Hầu hết những người này tập hợp thơ của họ trong những tập bản thảo gọi là divan. Thực ra, thơ cung đình Ottoman được gọi là thơ divan. Phân nửa số chính trị gia của Ottoman viết thơ divan. Đấy là một cách viết tinh tế và đời hỏi học vấn cao, với nhiều quy tắc và nghi thức. Rất quy ước và rất lặp đi lặp lại. Sau khi các tư tưởng phương Tây đến Thổ Nhĩ Kỳ, di sản này được kết hợp với tư tưởng lãng mạn và hiện đại coi thi sĩ là con người cháy mình cho chân lý. Nó tăng thêm phần uy tín cho nhà thơ. Trong khi đó, một tiểu thuyết gia về căn bản là người vượt qua khoảng cách thông qua sự kiên nhẫn, một cách chậm chạp, như lũ kiến. Tiểu thuyết gia gây ấn tượng với chúng ta không phải bằng tầm nhìn quỷ quái và lãng mạn, mà bằng sự kiên nhẫn.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Ông đã bao giờ làm thơ chưa?
PAMUK
Tôi thường được hỏi câu này. Tôi có làm thơ lúc mười tám tuổi và đã đăng vài bài ở Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng rồi tôi bỏ thơ. Nguyên nhân là tôi nhận thấy thi sĩ là người được Thượng đế mượn lời. Bạn phải được thơ chiếm hữu. Tôi có thử làm thơ, nhưng sau một thời gian tôi nhận thấy Thượng đế không đoái hoài đến tôi. Tôi rầu rĩ về chuyện này và rồi tôi cố tưởng tượng - nếu Thượng đế mượn tôi để nói, ngài sẽ nói gì? Tôi bắt đầu viết một cách tỉ mẩn, từ tốn, cố sức hình dung. Đó là viết văn xuôi, hư cấu. Vậy tôi làm việc như một viên ký lục. Một số nhà văn khác coi cách nói này hơi có chút phỉ báng. Nhưng tôi chấp nhận điều đó, tôi làm việc như một viên ký lục.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Ông có nghĩ rằng theo thời gian công việc viết văn trở nên dễ dàng hơn đối với ông không?
PAMUK
Không may là không. Đôi khi tôi cảm thấy nhân vật của mình nên đi vào một căn phòng, nhưng mãi mà tôi vẫn không biết làm thế nào để khiến anh ta đi vào đó. Có thể tôi có thêm sự tự tin, song đôi khi điều ấy cũng không hữu ích bởi vì khi đó thì bạn không thử nghiệm, bạn chỉ viết cái trào ra đầu ngọn bút của bạn mà thôi. Tôi đã viết văn được ba mươi năm rồi, nên tôi nghĩ mình có tiến bộ chút ít. Vậy mà đôi khi tôi vẫn lâm vào tắc tị đúng cái nơi tôi nghĩ mình không thể tắc tị được. Một nhân vật không chịu bước vào phòng, và tôi thì không biết phải làm gì. vẫn thế! Sau ba mươi năm.
Việc chia cuốn sách thành các chương rất quan trọng với cách suy nghĩ của tôi. Khi viết một cuốn tiểu thuyết, nếu biết trước toàn bộ câu chuyện - mà hầu như lúc nào tôi cũng biết - tôi sẽ chia thành các chương và nghĩ ra các chi tiết cho những gì tôi muốn xảy ra trong từng chương. Tôi không nhất thiết bắt đầu với chương đầu tiên và viết tất cả các chương khác theo thứ tự. Khi bị bí, vốn không phải điều gì ghê gớm đối với tôi, tôi tiếp tục với bất cứ chuyện gì khiến tôi hứng thú. Tôi có thể viết từ chương một đến chương năm, rồi nếu không thấy khoái tôi liền nhảy cóc đến chương mười lăm và tiếp tục từ đó.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Ý ông nói rằng ông phác họa toàn bộ cuốn sách trước khi viết?
PAMUK
Mọi thứ. Ví dụ, cuốn Tên tôi là Đỏ có nhiều nhân vật, và tôi dành cho mỗi nhân vật một số chương nhất định. Khi viết, đôi lúc tôi muốn tiếp tục “là” một trong các nhân vật. Nên khi hoàn thành một trong các chương về Shekure, có lẽ chương bảy, tôi nhảy sang chương mười một, tức lại là một chương về cô. Tôi thích là Shekure. Nhảy từ một nhân vật hoặc tính cách này sang nhân vật hay tính cách khác có thể gây trầm uất.
Nhưng tôi luôn viết chương cuối sau cùng. Nhất định là thế. Tôi thích trêu chọc mình, tự hỏi cái kết phải như thế nào. Tôi chỉ có thể thực hiện đoạn kết một lần. Gần tới đoạn kết, trước khi hoàn tất, tôi dừng và viết lại hầu hết các chương trước đó.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Ông có bao giờ có một độc giả trong khi ông làm việc không?
PAMUK
Tôi luôn đọc tác phẩm cho người cùng tôi chia sẻ cuộc đời. Tôi luôn luôn biết ơn nếu người đó nói, Cho em xem thêm đi, hoặc, Cho em xem hôm nay anh làm được gì nào. Việc đó không chỉ gây một chút áp lực cần thiết, mà còn như là có cha hay mẹ vỗ lưng nói, Giỏi lắm. Thi thoảng, người đó nói, Xin lỗi, nhưng em không thích chỗ này. Đó là điều tốt. Tôi thích cái nghi thức ấy.
Tôi luôn luôn nghĩ tới Thomas Mann, một trong những hình mẫu chính của tôi. Ông thường tụ họp cả gia đình, gồm vợ và sáu người con. Ông thường đọc cho cả gia đình nghe. Tôi thích thế. Cảnh người cha kể chuyện.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Khi còn trẻ ông muốn trở thành họa sĩ. Từ khi nào thì tình yêu hội họa nhường chỗ cho tình yêu viết?
PAMUK
Hồi hăm hai tuổi. Từ năm lên bảy tôi đã muốn thành họa sĩ, và gia đình tôi tán thành. Mọi người đều nghĩ rằng tôi sẽ là một họa sĩ nổi tiếng. Nhưng rồi điều gì đó diễn ra trong đầu tôi - tôi nhận ra rằng một cái vít bị lỏng - nên tôi thôi vẽ và ngay lập tức bắt tay viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Một cái vít bị lỏng?
PAMUK
Tôi không thể nói lý do nào khiến tôi làm việc này. Tôi mới xuất bản một cuốn sách tên là Istanbul. Phân nửa cuốn sách là tự truyện đến giờ khắc đó còn nửa kia là một tiểu luận về Istanbul, hay chính xác hơn, là cái nhìn của một đứa trẻ con về Istanbul. Đó là kết hợp của suy ngẫm về hình ảnh, phong cánh và sự sôi nổi của một thành phố, với cách cảm nhận của một đứa trẻ về thành phố đó, và tự truyện của đứa trẻ đó. Câu cuối của cuốn sách như thế này, “‘Tôi không muốn là một họa sĩ. tôi nói. ‘Tôi muốn trở thành nhà văn.”’ Và không có lời giải thích nào. Mặc dù đọc cả cuốn sách có thể rõ ràng hơn.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Gia đình ông có vui về quyết định này?
PAMUK
Mẹ tôi thất vọng. Cha tôi phần nào hiểu hơn vì thời trẻ ông từng muốn trở thành nhà thơ và từng dịch Valéry sang tiếng Thổ, nhưng ông từ bỏ khi bị chế nhạo bởi cái tầng lớp thượng lưu mà ông là thành viên.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Gia đình ông chấp nhận ông làm họa sĩ, nhưng không chấp nhận ông làm tiểu thuyết gia?
PAMUK
Đúng vậy, vì họ không nghĩ tôi sẽ trở thành một họa sĩ toàn thời gian. Truyền thống gia đình là theo ngành kỹ sư cầu đường. Ông tôi là kỹ sư xây dựng từng kiếm được rất nhiều tiền nhờ lắp đặt đường ray xe lửa. Các chú bác tôi và cha tôi làm tiêu tán số tiền đó, nhưng họ đều đi học cùng một trường đào tạo kỹ sư, Đại học Kỹ thuật Istanbul. Mọi người mong đợi tôi cũng đi học ở đó và tôi nói, Được rồi, con sẽ đi học trường đó. Nhưng vì tôi là nghệ sĩ trong gia đình, mọi người tin rằng tôi phải trở thành kiến trúc sư. Dường như đó là giải pháp thỏa mãn mọi người. Nên tôi theo học ở trường đại học ấy, nhưng khi đang học kiến trúc tôi đột ngột bỏ vẽ dở chừng và bắt tay viết tiểu thuyết.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Có phải ông đã có tiểu thuyết đầu tiên trong đầu khi quyết định bỏ học? Đó có phải là lý do?
PAMUK
Theo như tôi còn nhớ thì tôi muốn trở thành tiểu thuyết gia trước khi biết mình sẽ viết gì. Thực ra, khi bắt đầu viết tôi có hai hay ba khởi đầu hụt. Tôi vẫn còn giữ mấy cuốn sổ tay. Nhưng sau khoảng sáu tháng thì tôi bắt đầu một dự án tiểu thuyết quan trọng mà sau này được in dưới nhan đề Cevdet Bey và các con trai.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Cuốn đó chưa được dịch ra tiếng Anh.
PAMUK
Đại để đó là một saga gia đình, như Forsyte Saga hay Gia đình Buddenbrook của Thomas Mann. Không bao lâu sau khi hoàn thành cuốn này tôi bắt đầu hối tiếc vì đã viết ra một thứ thật lạc hậu, một tiểu thuyết rất chi thế kỷ mười chín. Tôi hối tiếc đã viết nó, vì ở độ tuổi hai lăm, hai sáu tôi bắt đầu tự áp đặt ý tưởng rằng tôi phải là một tác giả hiện đại. Đến lúc cuốn tiểu thuyết rốt cuộc cũng được xuất bản, khi tôi ba mươi, văn của tôi đã đậm tính thể nghiệm hơn nhiều.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Khi ông nói ông muốn trở nên hiện đại, thể nghiệm hơn, trong đầu ông có hình mẫu nào?
PAMUK
Vào thời điểm ấy, các nhà văn vĩ đại với tôi không còn là Tolstoy, Dostoyevsky, Stendhal, hay Thomas Mann. Những người hùng của tôi là Virginia Woolf và Faulkner. Giờ tôi thêm Proust và Nabokov vào danh sách đó.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Dòng đầu tiên của cuốn Cuộc đời mới là: “Một ngày nọ tôi đọc một cuốn sách và toàn bộ cuộc đời tôi bị thay đổi.” Có cuốn sách nào ảnh hưởng tới ông như thế không?
PAMUK
Âm thanh và cuồng nộ rất quan trọng với tôi khi tôi hai mốt, hai mươi hai tuổi. Tôi mua một bản in của nhà Penguin. Nó rất khó hiểu, nhất là với vốn tiếng Anh nghèo nàn của tôi. Nhưng có một bản dịch tiếng Thổ tuyệt vời, nên tôi đặt bản tiếng Thổ và bản tiếng Anh cùng nhau trên bàn và đọc nửa đoạn của bản này rồi quay sang bản kia. Cuốn sách đó để lại trong tôi một dấu ấn. Dấu tích còn lại là cái giọng điệu mà tôi đã khai triển. Tôi sớm bắt đầu viết ở ngôi thứ nhất số ít. Tôi thường thấy dễ chịu khi đóng vai người khác hơn là viết bằng ngôi thứ ba.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Ông nói là mất hàng năm trời ông mới in được cuốn tiểu thuyết đầu tiên?
PAMUK
Hồi hai mươi tuổi tôi không có tình bạn văn chương nào; tôi không thuộc về bất cứ nhóm văn nào ở Istanbul. Cách duy nhất để in cuốn sách đầu tiên là tham dự một cuộc thi văn học dành cho những bản thảo chưa xuất bản ở Thổ Nhĩ Kỳ. Tôi làm vậy và đoạt giải, rồi được một nhà xuất bản lớn, tiếng tăm in sách. Hồi ấy, kinh tế Thổ Nhĩ Kỳ đang trong tình trạng tồi tệ. Họ nói, Vâng, chúng tôi sẽ ký hợp đồng với anh, nhưng họ trì hoãn việc phát hành cuốn tiểu thuyết.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Tiểu thuyết thứ hai của ông có ra đời dễ dàng… nhanh hơn không?
PAMUK
Cuốn sách thứ hai là một cuốn sách chính trị. Nhưng không phải tuyên truyền. Tôi đã bắt đầu viết nó trong khi chờ in cuốn thứ nhất. Tôi dành cho cuốn này khoảng hai năm rưỡi. Rồi đột nhiên, một đêm nọ xảy ra đảo chính quân sự. Đó là năm 1980. Ngày hôm sau nhà xuất bản tương lai của cuốn sách đầu, cuốn Cevdet Bey, nói họ không in cuốn đó, mặc dù chúng tôi đã ký hợp đồng. Tôi nhận ra rằng ngay cả khi có hoàn thành cuốn sách thứ hai - cuốn sách chính trị - ngay hôm ấy, thì trong năm hay sáu năm kế tiếp tôi cũng không in nó được vì quân đội sẽ không cho phép. Nên tôi nghĩ thế này: Vào lúc hai mươi hai tuổi mình nói muốn trở thành tiểu thuyết gia và đã viết suốt bảy năm trời, hy vọng sẽ in được gì đó ở Thổ Nhĩ Kỳ… nhưng rồi chẳng có gì cả. Giờ mình đã gần ba mươi song mình không có khả năng in bất cứ thứ gì. Tôi vẫn còn hai trăm năm mươi trang của cuốn tiểu thuyết chính trị chưa hoàn tất ấy trong ngăn kéo.
Ngay sau cuộc đảo chính, vì không muốn bị trầm uất, tôi bắt tay vào cuốn sách thứ ba - cuốn mà ông vừa nhắc tới ấy, Ngôi nhà im lặng. Khi cuốn sách đầu tiên rốt cuộc cũng được in vào năm 1982 thì tôi đang viết chính cuốn này. Cevdet được đón nhận tích cực, nghĩa là tôi có thể in cuốn sách tôi đang viết lúc đó. Như vậy cuốn sách thứ ba tôi viết là cuốn thứ hai được in.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Điều gì khiến tiểu thuyết của ông không thể xuất bản được dưới chế độ quân sự?
PAMUK
Các nhân vật là những người Mác-xít trẻ tuổi tầng lớp trên. Cha mẹ họ đi nghỉ ở những khu nghỉ mát mùa hè, và họ có những căn nhà giàu có to rộng và họ thích thú làm người Mác-xít. Họ sẽ đánh nhau, ganh tị với nhau và âm mưu làm nổ tung thủ tướng.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Các nhóm cách mạng mạ vàng?
PAMUK
Những người trẻ tuổi tầng lớp trên với thói quen của người giàu, tỏ ra siêu cực đoan. Nhưng tôi không phán xét điều đó về mặt đạo đức. Đúng hơn thì tôi lãng mạn hóa tuổi trẻ của tôi theo một cách nào đó. Nội cái ý tưởng ném bom thủ tướng hẳn cũng đủ để cuốn sách bị cấm rồi.
Nên tôi không viết hết cuốn sách. Anh thay đổi trong khi viết sách. Anh không thể giữ nguyên cùng một tính cách nữa. Anh không thể tiếp tục như trước. Mỗi cuốn sách của tác giả đại diện cho một giai đoạn trong quá trình phát triển của tác giả đó. Các tiểu thuyết của một người có thể coi như những cột mốc trong sự phát triển tinh thần người ấy. Nên anh không thể quay trở lại. Một khi tính đàn hồi của văn chương đã chết, anh không thể dịch chuyển nó nữa.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Khi thử nghiệm với các ý tưởng, ông chọn được hình thức cho tiểu thuyết của mình như thế nào? Ông có khởi đầu với một hình ảnh, hay một câu đầu tiên?
PAMUK
Không có công thức bất di bất dịch nào. Nhưng tôi tự xác định không viết hai tiểu thuyết theo cùng một cách. Tôi cố thay đổi mọi thứ. Đây là lý do khiến nhiều độc giả bảo, tôi thích cuốn này của ông, thật là xấu hổ khi ông không viết các cuốn khác như vậy, hay, tôi chưa bao giờ khoái tiểu thuyết của ông cho đến khi ông viết cuốn đó - đối với Cuốn sách đen, tôi nghe chuyện này thường nhất. Thực ra tôi ghét nghe điều này. Thử nghiệm hình thức và phong cách, ngôn ngữ, trạng thái và người kể chuyện, và suy nghĩ về mỗi cuốn sách theo một cách khác nhau, đó là niềm vui mà cũng là thách thức.
Chủ đề cuốn sách có thể đến với tôi từ nhiều nguồn. Với Tên tôi là Đỏ, tôi muốn viết về tham vọng trở thành họa sĩ của tôi. Tôi có một khởi đầu hụt; tôi bèn bắt tay viết một cuốn chuyên khảo tập trung vào một họa sĩ. Rồi tôi biến họa sĩ này thành nhiều họa sĩ cùng làm việc với nhau trong một xưởng vẽ. Điểm nhìn thay đổi, bởi vì bây giờ các họa sĩ khác cũng lên tiếng. Thoạt tiên tôi nghĩ sẽ viết về một họa sĩ đương đại, nhưng rồi tôi nghĩ anh chàng họa sĩ Thổ này có thể là thiếu sáng tạo quá, ảnh hưởng phương Tây nhiều quá, nên tôi đi ngược thời gian để viết về các nhà tiểu họa. Tôi đã tìm ra chủ đề như thế đó.
Có những chủ đề cũng cần những đổi mới về hình thức hay chiến lược kể chuyện nhất định. Đôi khi, ví dụ, anh vừa thấy gì đó, đọc gì đó, hay xem một bộ phim, hay đọc một bài báo, và rồi anh nghĩ, mình sẽ để củ khoai tây, con chó, hay cái cây cất tiếng nói. Một khi đã nảy ra ý tưởng, anh bắt đầu nghĩ về tính khúc chiết và tính liên tục trong cuốn tiểu thuyết. Và anh cảm thấy, Tuyệt, trước giờ chưa ai làm chuyện này.
Cuối cùng, tôi nghĩ về mọi thứ hàng năm trời. Tôi có thể có những ý tưởng và tôi đem kể cho bạn bè thân thiết nghe. Tôi có nhiều sổ tay ghi chép những tiểu thuyết tôi có thể viết. Đôi khi tôi không viết chúng ra, nhưng nếu tôi mở một cuốn sổ tay và bắt đầu ghi chép, thì cứ như thể tôi sẽ viết cuốn tiểu thuyết đó vậy. Nên khi viết xong một cuốn tiểu thuyết tâm trí tôi có thể đặt vào một trong những dự án này; và hai tháng sau khi hoàn thành một cuốn tôi có thể bắt đầu cuốn mới.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Nhiều tiểu thuyết gia không bao giờ bàn luận về một cuốn sách đang viết. Ông có giữ bí mật như thế không?
PAMUK
Tôi không bao giờ bàn luận về truyện đang viết. Vào những dịp trang trọng, khi ai đó hỏi tôi đang viết gì, tôi có sẵn một câu trả lời: Một cuốn tiểu thuyết diễn ra ở Thổ Nhĩ Kỳ đương đại. Tôi chỉ chia sẻ với rất ít người và chỉ khi tôi biết họ không làm tôi tổn thương. Điều tôi thường làm là nói về các kỹ xảo - chẳng hạn, tôi sẽ khiến một đám mây nói được. Tôi thích xem mọi người phản ứng thế nào. Đó là một trò trẻ con. Khi viết Istanbul tôi hay làm như thế. Đầu óc tôi cũng giống như đầu óc một đứa trẻ nghịch ngợm, cố tỏ cho bố mình xem mình lanh lợi thế nào.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Từ kỹ xảo có hàm ý tiêu cực.
PAMUK
Bạn khởi đầu bằng một kỹ xảo, nhưng nếu bạn tin vào tính nghiêm túc văn chương và đạo đức của nó, thì cuối cùng nó sẽ trở thành một sáng tạo văn chương nghiêm túc. Nó trở thành một phát biểu mang tính văn chương.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Các nhà phê bình thường đánh giá tiểu thuyết của ông có tính chất hậu hiện đại. Tuy nhiên với tôi, có vẻ nhưng ông lấy các xảo thuật kể chuyện chủ yếu từ các nguồn truyền thống. Ví dụ, ông trích dẫn từ Nghìn lẻ một đêm và các văn bản cổ điển khác thuộc truyền thống phương Đông.
PAMUK
Điều này khởi đầu với Cuốn sách đen, cho dù trước đó tôi đã đọc Borges và Calvino. Tôi cùng vợ đến Mỹ năm 1985, và ở đó lần đầu tiên tôi chạm trán sự nổi trội và phong phú bao la của văn hóa Mỹ. Là một người Thổ từ Trung Đông tới, đang cố gắng xác lập mình với tư cách một tác giả, tôi cảm thấy bị choáng ngợp. Nên tôi thoái lui, trở về với “cội rễ” của tôi. Tôi nhận ra rằng thế hệ của tôi phải sáng tạo ra một loại văn chương dân tộc mang tính hiện đại.
Borges và Calvino đã giải phóng tôi. Cái hàm nghĩa của văn chương đạo Hồi truyền thống quá mức phản động, quá chính trị, và bị những kẻ bảo thủ sử dụng theo những cách cổ lỗ sĩ và điên rồ, đến nỗi tôi nghĩ rằng không bao giờ mình có thể sử dụng chất liệu đó làm gì được. Nhưng sang đến Mỹ, tôi nhận ra rằng tôi có thể trở về chất liệu đó với cách tư duy theo kiểu Calvino hay Borges. Tôi phải bắt đầu bằng cách xác định một sự phân biệt rõ ràng giữa những hàm nghĩa văn chương và hàm nghĩa tôn giáo của văn học đạo Hồi, để có thể dễ dàng vận dụng một cách thích hợp kho tàng trò chơi, kỹ xảo và ngụ ngôn của nó. Thổ Nhĩ Kỳ có một truyền thống tinh tế về loại văn chương trang trí hết sức tao nhã. Nhưng hồi đó các nhà văn sính trách nhiệm xã hội đã làm rỗng đi mất phần sáng tạo của văn chương chúng tôi.
Có nhiều phúng dụ lặp đi lặp lại trong nhiều truyền thống kể chuyện truyền khẩu - của Trung Hoa, Ấn Độ, Ba Tư. Tôi quyết định sử dụng chúng và đặt chúng vào bối cảnh Istanbul đương đại. Đó là một thử nghiệm - đặt mọi thứ cùng nhau, như một bức cắt dán theo phong cách Dada; Cuốn sách đen có phẩm chất này. Đôi khi tất cả các nguồn ấy được trộn lẫn với nhau và thế là cái gì đó mới mẻ liền xuất hiện. Nên tôi đặt tất cả những câu chuyện đã được viết lại này vào Istanbul, thêm vào một cốt truyện trinh thám, và Cuốn sách đen ra đời. Nhưng ngọn ngành của nó là sức mạnh toàn diện của văn hóa Mỹ và khao khát của tôi trở thành một nhà văn thể nghiệm nghiêm túc. Tôi không thể viết bình luận xã hội về những vấn đề của Thổ Nhĩ Kỳ - chúng làm tôi e ngại. Nên tôi phải thử làm điều gì khác.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Đã bao giờ ông có húng thú bình luận xã hội thông qua văn chương?
PAMUK
Không. Tôi đã phản ứng lại thế hệ các tiểu thuyết gia lớn tuổi hơn, đặc biệt trong những năm 1980. Tôi nói điều này với tất cả lòng kính trọng, nhưng đề tài của họ quá hạn hẹp và địa phương tính.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Ta hãy quay về giai đoạn trước Cuốn sách đen. Cảm hứng nào khiến ông viết Pháo đài trắng? Đó là cuốn sách đầu tiên mà ông sử dụng chủ đề sẽ còn trở lại trong suốt các tiểu thuyết khác sau này của ông - chủ đề thế vai. Theo ông, tại sao cái ý tưởng trở thành ai đó khác tái đi tái lại thường xuyên đến vậy trong tiểu thuyết của ông?
PAMUK
Đây là một chuyện rất riêng tư. Tôi có một ông anh rất ganh đua chỉ lớn hơn tôi mười tám tháng. Trong chừng mực nào đó, anh ấy là cha tôi - có thể nói là cha theo kiểu Freud. Chính anh ấy trở thành cái tôi thay thế của tôi, sự đại diện của quyền uy. Mặt khác, giữa chúng tôi cũng có một tình đồng chí huynh đệ và ganh đua. Một mối quan hệ rất phức tạp. Tôi viết rất nhiều về điều này trong Istanbul. Tôi từng là một cậu bé Thổ Nhĩ Kỳ điển hình, chơi đá bóng giỏi và hào hứng với mọi trò chơi và cuộc thi tài. Ở trường anh tôi học rất giỏi, giỏi hơn tôi. Tôi cảm thấy ganh với anh ấy, và anh ấy cũng ganh với tôi. Anh ấy là người biết điều và có trách nhiệm, người lớn nói chuyện với anh ấy. Tôi thì chú ý vào các trò chơi, còn anh ấy chú ý đến luật chơi. Chúng tôi lúc nào cũng đua tranh với nhau. Và tôi mong được là anh ấy, đại loại vậy. Điều này thiết lập một hình mẫu. Ganh tị, tị nạnh - đây là những chủ đề đầy cảm xúc đối với tôi. Tôi luôn lo lắng về việc thế mạnh của anh hoặc thành công của anh có thể ảnh hưởng đến tôi nhiều như thế nào. Điều này là một phần cốt yếu của tinh thần tôi. Tôi biết điều đó, nên tôi giữ khoảng cách với những cảm giác ấy. Tôi biết những cảm giác đó không tốt, nên tôi dùng sự cương quyết của một con người văn minh để đấu tranh với chúng. Tôi không nói rằng tôi là nạn nhân của sự ganh tị. Nhưng đây là dải ngân hà của các hạch thần kinh mà lúc nào tôi cũng cố sức xử lý. Và dĩ nhiên, rốt cuộc, nó trở thành chủ đề mọi câu chuyện của tôi. Chẳng hạn trong Pháo đài trắng, cái mối quan hệ hầu như ác-thống dâm giữa hai nhân vật chính được dựa vào mối quan hệ giữa tôi và anh trai tôi.
Mặt khác, cái chủ đề thế vai này được phản ánh trong sự mong manh mà Thổ Nhĩ Kỳ cảm nhận khi đối mặt với văn hóa phương Tây. Sau khi viết Pháo đài trắng, tôi nhận ra rằng sự ganh tị này - mối lo về việc bị ảnh hưởng bởi ai đó - cũng là tình trạng của Thổ Nhĩ Kỳ khi nhìn về phương Tây. Anh biết đấy, khao khát Tây phương hóa và rồi bị cáo buộc rằng không còn giữ được tính chính thực. Cố gắng nắm bắt tinh thần châu Âu và rồi cảm thấy tội lỗi về nỗ lực bắt chước ấy. Những thăng trầm của trạng thái này gợi nhớ mối quan hệ giữa những người anh em ganh đua nhau.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Ông có tin rằng sự va chạm thường trực giữa những động lực phương Đông và phương Tây của Thổ Nhĩ Kỳ sẽ có bao giờ được giải quyết một cách êm thấm?
PAMUK
Tôi là người lạc quan. Thổ Nhĩ Kỳ không cần phải lo lắng về việc có hai tinh thần, thuộc về hai nền văn hóa, có hai tâm hồn. Chứng tâm thần phân liệt khiến bạn thông minh. Bạn có thể đánh mất mối tương quan với thực tại - tôi là nhà văn nên không nghĩ đó là điều gì tồi tệ nhưng bạn không phải lo lắng về tình trạng phân liệt tâm thần của bạn. Nếu bạn quá lo về việc một phần của bạn giết chết phần kia, thì bạn chỉ còn lại một tình thần thôi. Cái đó còn tệ hơn bị bệnh nữa. Đấy là quan điểm của tôi. Tôi cố truyền bá quan điểm này trong nền chính trị Thổ Nhĩ Kỳ, trong các chính trị gia Thổ, những người đời hỏi đất nước phải có một tâm hồn nhất quán - nghĩa là phải thuộc về hoặc về phương Tây hoặc về phương Đông hoặc là theo chủ nghĩa quốc gia. Tôi phê phán quan điểm nhất nguyên đó.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Thế chuyện này được tiếp nhận như thế nào ở Thổ Nhĩ Kỳ?
PAMUK
Ý tưởng về một Thổ Nhĩ Kỳ dân chủ, tự do càng được xác lập thì suy nghĩ của tôi càng được chấp nhận. Thổ Nhĩ Kỳ chỉ có thể gia nhập Liên minh châu Âu với cách nhìn này. Đó là một cách chiến đấu chống lại chủ nghĩa quốc gia, chiến đấu với thứ tu từ học Chúng ta chống lại Chúng nó.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Vậy mà trong Istanbul, trong cái cách ông lãng mạn hóa thành phố, dường như ông than khóc cho sự mất đi của Đế chế Ottoman.
PAMUK
Tôi không than khóc cho Đế chế Ottoman. Tôi là một người Tây phương hóa. Tôi vui mừng khi thấy quá trình Tây phương hóa diễn ra. Tôi chỉ phê phán cái kiểu hạn hẹp mà giới tinh hoa nắm quyền cả các quan chức và giới nhà giàu mới - hiểu về Tây phương hóa. Họ thiếu sự tự tin cần thiết để kiến tạo một nền văn hóa dân tộc phong phú với những biểu tượng và nghi thức của riêng nó. Họ không nỗ lực tạo ra một văn hóa Istanbul như là một kết hợp hữu cơ của Đông và Tây; họ chỉ sắp những sự vật Đông và Tây vào cùng với nhau. Dĩ nhiên từng có một văn hóa Ottoman bản địa mạnh mẽ, nhưng văn hóa này đang phai nhạt dần. Điều họ cần phải làm, và có lẽ chẳng thể làm đủ, là sáng tạo ra một văn hóa bản địa mạnh mẽ và là một sự kết hợp - chứ không phải mô phỏng - quá khứ phương Đông và hiện tại phương Tây. Tôi cố gắng làm điều như vậy trong sách của tôi. Có thể các thế hệ mới sẽ thực hiện điều đó, và việc gia nhập Liên minh châu Âu sẽ không hủy hoại bản sắc Thổ Nhĩ Kỳ mà làm cho nó bừng nở và cho chúng tôi thêm tự do và tự tin để sáng tạo ra một văn hóa Thổ Nhĩ Kỳ mới. Mù quáng bắt chước phương Tây hoặc mù quáng bắt chước cái văn hóa Ottoman đã già nua chết ngắc không phải là giải pháp. Bạn phải làm gì đó với những thứ này và không cần phải lo lắng quá nhiều về việc mình thuộc về bên nào.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Tuy vậy trong cuốn Istanbul dường có ông vẻ đồng cảm với cái nhìn nước ngoài, phương Tây về chính thành phố của ông?
PAMUK
Nhưng tôi cũng giải thích vì sao một trí thức Thổ Tây hóa có thể đồng cảm với cái nhìn phương Tây - sự hình thành của Istanbul là quá trình đồng cảm với phương Tây. Luôn luôn có sự phân đôi này, và bạn cũng có thể dễ dàng đồng cảm với sự thịnh nộ phương Đông. Tất cả mọi người đều có lúc là người phương Tây và có lúc là người phương Đông - thực ra là một kết hợp thường hằng của hai thứ. Tôi thích ý tưởng của Edward Said về Đông phương luận, nhưng vì Thổ Nhĩ Kỳ chưa bao giờ là thuộc địa nên việc lãng mạn hóa Thổ Nhĩ Kỳ chưa bao giờ là một vấn đề đối với người Thổ. Người phương Tây đã không hạ nhục người Thổ như đã từng hạ nhục người Ả rập hay người Ấn Độ. Istanbul bị xâm lược chỉ hai năm và thuyền kẻ thù vừa đến đã đi, thành thử điều này không để lại một vết sẹo sâu trong tinh thần quốc gia. Cái để lại một vết sẹo sâu là sự mất đi của đế quốc Ottoman, nên tôi không có sự lo lắng đó, cái cảm giác người phương Tây coi thường tôi. Tuy vậy, sau khi nước Cộng hòa được thành lập, vẫn có một cảm giác lép vế bởi vì người Thổ muốn Tây hóa nhưng không thể tiến đủ xa, điều này để lại một mặc cảm thua kém về văn hóa mà chúng tôi phải đề cập và tồi thỉnh thoảng có thể đã đề cập.
Mặt khác, những vết sẹo không sâu như các quốc gia khác từng bị chiếm đóng làm thuộc địa cả hai trăm năm. Người Thổ chưa bao giờ bị đàn áp bởi các thế lực phương Tây. Sự đàn áp mà người Thổ phải chịu là tự gây ra; chúng tôi đã xóa đi lịch sử của chính mình bởi vì nó thực tế. Trong sự đàn áp đó có một cảm quan về tính chất mong manh dễ vỡ. Nhưng cái sự phương Tây hóa tự áp đặt ấy cũng mang lại sự cách biệt. Người Ấn nhìn những kẻ thống trị họ mặt đối mặt. Người Thổ bị tách biệt một cách kỳ lạ khỏi thế giới phương Tây mà họ noi theo. Trong những năm 1950 và thậm chí 1960, khi một người nước ngoài tới và ở khách sạn Istanbul Hilton, mọi tờ báo đều đưa tin ngay.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Ông có tin là có một bộ chính điển hoặc rằng một bộ chính điển thậm chí nên tồn tại? Chúng ta có nghe nói về một bộ chính điển phương Tây, nhưng còn chính điển phi phương Tây thì sao?
PAMUK
Vâng, có một bộ chính điển khác. Nó cần được tìm hiểu, phát triển, chia sẻ, phê bình và rồi được chấp nhận. Hiện giờ cái gọi là chính điển phương Đông đang trong cảnh điêu tàn. Những văn bản huy hoàng vẫn còn đấy nhưng không ai có ý thức tập hợp chúng lại. Từ những tác phẩm cổ điển Ba Tư cho đến các văn bản Ấn Độ, Trung Hoa và Nhật Bản, những tác phẩm này cần được thẩm định nghiêm túc. Còn như bây giờ, chính điển phụ thuộc vào bàn tay của các học giả phương Tây. Đó là trung tâm của phân phối và giao tiếp.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Tiểu thuyết là một hình thức văn hóa rất phương Tây. Nó có vị trí nào trong truyền thống phương Đông không?
PAMUK
Tiểu thuyết hiện đại, tách rời khỏi hình thức anh hùng ca, về căn bản là một thứ phi phương Đông. Bởi vì tiểu thuyết gia là người không thuộc về một cộng đồng, không chia sẻ những bản năng cơ bản của cộng đồng, suy nghĩ và phán xét bằng một văn hóa khác với văn hóa mà anh ta đang trải nghiệm. Một khi ý thức của anh ta khác ý thức của cộng đồng mà anh ta là thành viên, anh ta là kẻ đứng ngoài, một kẻ cô độc. Và sự phong phú trong văn bản của anh ta xuất phát từ góc nhìn tọc mạch của kẻ đứng ngoài đó.
Một khi đã hình thành thói quen nhìn thế giới như thế và viết về nó theo cách này, bạn có khao khát tách biệt khỏi cộng đồng. Đây là mô thức tôi nghĩ tới trong Tuyết.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Tuyết là tiểu thuyết nhiều tính chất chính trị nhất của ông từng xuất bản. Ông đã làm thế nào để thai nghén nó?
PAMUK
Khi tôi bắt đầu nổi tiếng ở Thổ Nhĩ Kỳ hồi giữa những năm 1990, vào một thời điểm mà cuộc chiến tranh chống du kích người Kurd đang diễn ra quyết liệt, những tác giả cánh tả cựu trào và những người tự do tân hiện đại muốn tôi giúp họ, ký thỉnh nguyện thư - họ bắt đầu đề nghị tôi làm những việc chính trị không liên quan đến những cuốn sách của tôi.
Chẳng mấy chốc cơ sở ấy phản công bằng một chiến dịch ám sát nhân vật. Họ bắt đầu gọi tôi bằng đủ thứ tên. Tôi rất giận. Sau một hồi tôi tự hỏi, Nếu viết một tiểu thuyết chính trị trong đó mình khai phá những nan đề về tinh thần của chính mình - xuất phát từ một gia đình trung lưu lớp trên và cảm thấy có trách nhiệm với những ai không có một sự đại diện chính trị nào thì sao nhỉ? Tôi tin vào nghệ thuật tiểu thuyết. Làm thế nào mà việc đó khiến bạn trở thành một người đứng ngoài, quả là lạ lùng. Lúc đó tôi tự nhủ, tôi sẽ viết một tiểu thuyết chính trị. Tôi bắt tay vào viết cuốn đó ngay khi hoàn thành Tên tôi là Đỏ.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Tại sao ông đặt bối cảnh câu chuyện ở thị trấn nhỏ Kars nhỏ bé?
PAMUK
Ai cũng biết đó là một trong những thị trấn lạnh nhất Thổ Nhĩ Kỳ. Và một trong những nơi nghèo nhất. Đầu những năm tám mươi, một tờ báo lớn dành cả trang nhất viết về cái nghèo của Kars. Có người đã tính rằng với khoảng một triệu đô la bạn có thể mua cả thị trấn. Khí hậu chính trị khó khăn khi tôi muốn đến đó. Khu vực lân cận của thị trấn chủ yếu là người Kurd ở, nhưng trung tâm thị trấn thì trộn lẫn người Kurd, người Azerbaijan, người Thổ và đủ loại người khác. Cũng từng có người Nga và người Đức. Có những khác biệt về tôn giáo, người dòng Shia và người dòng Sunni. Cuộc chiến mà chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ tiến hành chống lại du kích người Kurd khốc liệt đến nỗi không thể đến đó với tư cách du khách. Tôi biết mình không thể đơn giản đến đó với tư cách tiểu thuyết gia, nên tôi xin tổng biên tập một tờ báo mà tôi có quan hệ cho tôi giấy thông hành báo chí để đến vùng này. Ông ấy rất có ảnh hưởng nên đã đích thân gọi điện thoại cho ngài thị trưởng và cảnh sát trưởng báo là tôi sẽ tới.
Ngay khi tới nơi tôi đến thăm ngài thị trưởng và bắt tay với cảnh sát trưởng để họ khỏi tóm cổ tôi ngoài đường. Thực ra, một số cảnh sát không biết tôi có bắt tôi và mang tôi đi, có lẽ còn định tra tấn. Ngay lập tức tôi phun ra những cái tên - tôi quen ông thị trưởng, tôi biết ông trưởng… tôi là một nhân vật đáng ngờ. Bởi vì mặc dù về mặt lý thuyết Thổ Nhĩ Kỳ là một quốc gia tự do, song mãi đến năm 1999 người ta vẫn còn thái độ nghi ngờ với người nước ngoài. Hy vọng ngày nay chuyện đã dễ dàng hơn.
Hầu hết nhân vật và địa điểm trong cuốn sách được dựa trên người và địa điểm thật. Ví dụ, tờ báo địa phương bán được 252 ấn bản là thật. Tôi mang đến Kars một máy ảnh và một máy quay phim. Tôi quay phim mọi thứ rồi trở về Istanbul cho bạn bè xem. Mọi người đều nghĩ tôi hơi khùng. Có những sự việc khác thực sự xảy ra. Như cuộc trò chuyện tôi mô tả với tổng biên tập tờ báo nhỏ, người thuật lại với Ka những gì anh làm ngày hôm trước, Ka hỏi làm thế nào ông ta biết, và ông ta tiết lộ rằng ông nghe trộm những cuộc điện đàm của cảnh sát mà cảnh sát thì lúc nào cũng theo dõi Ka. Điều đó có thật. Và họ cũng theo dõi tôi.
Người dẫn chương trình truyền hình địa phương đưa tôi lên ti vi và nói, Tác giả nổi tiếng của chúng ta đang viết một bài báo cho tờ báo của cả nước - đó là một việc rất quan trọng. Cuộc bầu cử thành phố sắp diễn ra, nên người dân ở Kars mở cửa cho tôi. Tất cả họ đều muốn nói gì đó với tờ báo của cả nước, để chính quyền biết họ nghèo như thế nào. Họ không biết rằng tôi sắp đưa họ vào tiểu thuyết. Họ nghĩ tôi sẽ đưa họ vào một bài báo. Tôi phải thú nhận, tôi thật vô liêm sỉ và tàn nhẫn. Mặc dù tôi thực sự cũng nghĩ đến việc viết một bài báo về việc ấy.
Bốn năm trôi qua như thế. Tôi đi đi về về. Có một quán cà phê nhỏ thỉnh thoảng tôi ngồi viết và ghi chép. Một nhiếp ảnh gia bạn tôi - thỉnh thoảng tôi mời anh ấy đến Kars cùng tôi vì Kars là một nơi thật đẹp khi trời tuyết - nghe lỏm được một cuộc trò chuyện trong quán cà phê nhỏ ấy. Mọi người nói với nhau khi tôi đang ghi ghi chép chép, rằng, Anh ta viết cái loại báo gì vậy? Đã ba năm, đủ thời gian để viết một cuốn tiểu thuyết rồi đấy. Họ đã bắt thóp được tôi.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Phản ứng với cuốn sách thế nào?
PAMUK
Ở Thổ Nhĩ Kỳ, cả phe bảo thủ - hay Hồi giáo chính trị - lẫn phe thế tục đều bực mình. Không đến mức cấm cuốn sách hay công kích tôi. Nhưng họ bực mình và viết về điều đó trên các nhật báo toàn quốc. Những người thế tục bực vì tôi viết rằng cái giá để làm người thế tục cấp tiến ở Thổ Nhĩ Kỳ là bạn quên mất mình cũng phải là một người dân chủ. Sức mạnh của những người thế tục ở Thổ Nhĩ Kỳ xuất phát từ quân đội. Điều này hủy hoại dân chủ và lòng khoan dung của Thổ Nhĩ Kỳ. Một khi quân đội dính líu đến văn hóa chính trị nhiều như thế, người dân đánh mất sự tự tin và dựa vào quân đội để giải quyết mọi vấn đề của họ. Người ta thường nói, Đất nước và nền kinh tế là một đống hỗn độn, phải gọi quân đội đến để dọn dẹp thôi. Nhưng cũng chính trong khi dọn dẹp, họ hủy hoại luôn lòng khoan dung. Nhiều người tình nghi bị tra tấn, một trăm ngàn người bị bỏ tù. Điều này dọn đường cho những vụ đảo chính quân sự mới. Cứ khoảng mười năm lại có một vụ mới. Nên tôi hết sức phê phán phe thế tục về chuyện này. Họ cũng không thích khi tôi khắc họa những người theo đạo Hồi như những con người.
Những người Hồi giáo chính trị bực bội bởi vì tôi viết về một người theo đạo Hồi hưởng thụ tình dục trước hôn nhân. Kiểu đơn giản hóa quá mức như vậy. Người đạo Hồi luôn luôn ngờ vực tôi vì tôi không xuất thân từ nền văn hóa của họ, và vì tôi có ngôn ngữ, thái độ và cả cử chỉ của một người Tây hóa và có nhiều đặc quyền hơn. Họ cũng bực về chuyện ai là kẻ có tư cách đại diện cho họ, họ hỏi, Làm thế nào anh ta có thể viết về chúng ta được? Anh ta không hiểu. Tôi cũng đề cập điều này ở nhiều chỗ trong cuốn tiểu thuyết.
Nhưng tôi không muốn phóng đại. Tôi đã sống sót. Họ đều đọc cuốn sách. Họ có thể giận, nhưng việc họ chấp nhận tôi và cuốn sách của tôi như hiện trạng là dấu hiệu của những thái độ tự do đang lớn lên. Phản ứng của người dân ở Kars cũng chia đôi. Một số nói, Vâng, chuyện đúng là như vậy. Một số khác, thường là người Thổ theo chủ nghĩa quốc gia, lo lắng những chỗ tôi đề cập người Armenia. Ví dụ, vị dẫn chương trình ti vi nọ nhét cuốn sách của tôi vào một cái túi màu đen mang tính biểu tượng rồi gửi bưu điện đến cho tôi và nói trong một buổi họp báo rằng tôi tuyên truyền cho Armenia - mà điều này dĩ nhiên là lố bịch. Chúng tôi có một nền văn hóa quốc gia chủ nghĩa, hẹp hòi như thế đấy.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Cuốn sách đã bao giờ trở thành một vụ nổi cộm theo kiểu Rushdie?
PAMUK
Không, hoàn toàn không.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Đó là một cuốn sách cực kỳ ảm đạm, bi quan. Người duy nhất trong cả tiểu thuyết có thể lắng nghe mọi phe - Ka - thì rốt cuộc bị mọi người ghét bỏ.
PAMUK
Có thể tôi đã ly kỳ hóa vị trí của tôi với tư cách tiểu thuyết gia ở Thổ Nhĩ Kỳ. Mặc dù biết mình bị ghét bỏ, anh ta thích thú việc có thể duy trì đối thoại với mọi người. Anh ta cũng có bản năng sống còn mạnh mẽ. Ka bị ghét vì mọi người coi anh là gián điệp phương Tây, cũng là điều mà nhiều lần người ta nói về tôi.
Về chuyện ảm đạm, tôi đồng ý. Nhưng hài hước là lối thoát. Khi mọi người nói nó ảm đạm, tôi hỏi họ, không phải là nó buồn cười sao? Tôi nghĩ có khá nhiều chất hài hước trong đó. ít ra đó là ý định của tôi.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Lòng tận tụy của ông với văn chương đã khiến ông gặp rắc rối. Rất có thể nó sẽ còn khiến ông gặp nhiều rắc rối hơn nữa. Nghĩa là cắt đứt những liên hệ tình cảm. Đó là một cái giá cao phải trả.
PAMUK
Đúng vậy, nhưng đó là một điều tuyệt diệu. Khi đi du lịch, không ngồi một mình tại bàn của mình, chỉ một chốc là tôi buồn chán. Tôi hạnh phúc khi một mình trong phòng và sáng tạo. Không chỉ là cam kết đối với môn nghệ thuật này hay công việc này, dĩ nhiên tôi tận tụy với nó, mà còn là cam kết ở một mình trong một căn phòng. Tôi tiếp tục tiến hành nghi thức này, tin tưởng rằng cái tôi đang làm đây sẽ một ngày nào đó được xuất bản, hợp thức hóa những mơ mộng của tôi. Tôi cần có những giờ cô đơn bên bàn viết với thứ giấy tốt và cây bút máy như một số người cần viên thuốc cho sức khỏe của họ. Tôi cam kết với những nghi thức này.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Vậy, ông viết văn cho ai?
PAMUK
Càng sống, bạn càng thường xuyên tự vấn mình điều đó. Tôi đã viết bảy tiểu thuyết. Tôi mong sẽ viết được bảy tiểu thuyết nữa trước khi chết. Nhưng này, đời ngắn tày gang. Sao không hưởng thụ cuộc sống thêm một chút? Đôi khi tôi thực sự phải tự ép mình. Tại sao tôi làm việc này? Ý nghĩa của tất cả việc này là gì? Đầu tiên, như tôi đã nói, ngồi một mình trong phòng là một bản năng. Thứ đến, trong tôi hầu như có một khía cạnh ganh đua trẻ con muốn thử viết một cuốn sách hay ho nữa. Càng ngày tôi càng bớt tin vào sự vĩnh hằng của các tác giả. Chúng ta rất ít đọc những cuốn sách viết cách đây hai trăm năm. Mọi thứ thay đổi quá nhanh nên những cuốn sách hôm nay có thể một trăm năm nữa sẽ chìm vào quên lãng. Rất ít cuốn sẽ còn được đọc. Hai trăm năm nữa, có lẽ chỉ năm cuốn sách viết hôm nay là còn sống. Liệu tôi có chắc rằng tôi đang viết một trong năm cuốn ấy không? Nhưng liệu đó có phải là ý nghĩa của viết? Tại sao tôi phải lo lắng về việc hai trăm năm nữa vẫn còn được đọc? Sao tôi không lo về việc sống nhiều hơn? Tôi có cần niềm an ủi rằng tôi sẽ được đọc trong tương lai? Tôi nghĩ về tất cả những điều này và tiếp tục viết. Tôi không biết tại sao. Nhưng tôi không bao giờ bỏ cuộc. Niềm tin rằng sách của bạn sẽ có tác dụng trong tương lai là niềm an ủi duy nhất mà bạn có để vui sống cuộc đời này.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Ông là tác giả bán chạy ở Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng số sách của ông bán được ở nước ngoài vượt trội số bán trong nước. Ông đã được dịch ra bốn mươi thứ tiếng. Bây giờ khi viết ông có nghĩ về số lượng độc giả rộng lớn hơn trên toàn cầu không? Có phải bây giờ ông viết cho một đối tượng độc giả khác không?
PAMUK
Tôi biết rằng độc giả của tôi không chỉ còn là độc giả trong nước nữa. Nhưng ngay khi bắt đầu cầm bút, có lẽ tôi đã vươn tới một nhóm độc giả rộng hơn. Cha tôi hay nói sau lưng vài tác giả Thổ Nhĩ Kỳ bạn ông rằng họ “chỉ hướng tới độc giả trong nước”.
Có một vấn đề trong việc nhận thức được độc giả là ai, cho dù đó là độc giả trong nước hay quốc tế. Bây giờ tôi không thể lẩn tránh vấn đề đó. Hai cuốn sách vừa rồi của tôi có trung bình hơn nửa triệu độc giả khắp thế giới. Tôi không thể phủ nhận rằng tôi nhận thức được sự tồn tại của họ. Mặt khác, tôi không bao giờ cảm thấy tôi làm các thứ để thỏa mãn họ. Tôi cũng tin rằng độc giả sẽ cảm nhận được điều đó nếu tôi làm như vậy. Ngay từ thuở ban đầu, tôi đã xác lập thói quen chạy trốn bất cứ khi nào tôi cảm nhận được mong đợi từ độc giả. Ngay cả việc đặt câu cũng vậy - tôi chuẩn bị một điều gì đó cho người đọc và rồi tôi làm họ bất ngờ. Có lẽ đó là lý do tôi ưa thích những câu dài.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Với hầu hết độc giả không phải người Thổ, tính độc đáo của văn ông phần nhiều là nhờ bối cảnh Thổ Nhĩ Kỳ. Nhưng làm thế nào ông khiến tác phẩm của ông khác biệt trong ngữ cảnh Thổ Nhĩ Kỳ?
PAMUK
Có vấn đề về cái mà Harold Bloom gọi là “lo lắng về ảnh hưởng”. Như mọi tác giả, tôi trải qua điều này khi còn trẻ. Khi mới chớm ba mươi tuổi tôi cứ nghĩ rằng có thể mình chịu ảnh hưởng Tolstoy hay Thomas Mann quá nhiều - tôi nhắm đến kiểu văn nhẹ nhàng, quý tộc đó trong tiểu thuyết đầu tay. Nhưng sau cùng tôi chợt nhận ra rằng cho dù tôi có thể đã không sáng tạo về mặt kỹ thuật viết, song cái sự thể rằng tôi hoạt động ở phần này của thế giới, quá cách xa châu Âu - hay ít nhất vào thời đó có vẻ như thế - và cố gắng thu hút một đối tượng độc giả khác như thế trong một khí hậu văn hóa và lịch sử khác biệt như thế, nó sẽ mang lại cho tôi tính độc đáo, kể cả khi có được điều đó không lấy gì vẻ vang lắm. Nhưng đó cũng là công việc vất vả, bởi vì những kỹ thuật như thế không dễ dàng phiên dịch hay du hành.
Công thức cho tính độc đáo rất đơn giản - cứ đặt chung hai thứ trước đây chưa từng kết hợp với nhau. Hãy xem Istanbul, một tiểu luận về thành phố và về việc một số tác giả nước ngoài - Flaubert, Nerval, Gautier - nhìn thành phố như thế nào, và quan điểm của họ ảnh hưởng đến một nhóm nhà văn Thổ nhất định ra sao. Kết họp với tiểu luận về sự sáng tạo ra phong cảnh lãng mạn của Istanbul là một tự truyện. Trước đây chưa ai làm việc này. Nếu chịu chấp nhận rủi ro thì bạn sẽ làm ra cái gì đó mới mẻ. Với Istanbul tôi cố tạo ra một cuốn sách độc đáo. Tôi không biết liệu nó có thành công. Cuốn sách đen cũng thế - kết hợp một thế giới hoài nhớ kiểu Proust với những dụ ngôn, câu chuyện và thủ thuật của đạo Hồi, và rồi đặt chúng cả vào Istanbul xong thì chờ xem chuyện gì xảy ra.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Istanbul chuyển tải cảm giác rằng ông từng luôn luôn là một nhân vật rất cô đơn. Dĩ nhiên ông đơn độc với tư cách nhà văn tại Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại ngày nay. Ông trưởng thành và tiếp tục sống trong thế giới mà ông tách ra.
PAMUK
Mặc dù lớn lên trong một gia đình đông đúc và được dạy phải yêu quý cộng đồng, sau này tôi phát thói ưa xa lánh mọi người. Có một khía cạnh tự hủy hoại trong tôi, và trong những con thịnh nộ hay thời khắc giận dữ tôi làm những điều khiến tôi cắt lìa mình khỏi sự đồng hành hòa nhã của cộng đồng. Từ khi còn trẻ tôi đã nhận ra rằng cộng đồng giết chết trí tưởng tượng của tôi. Tôi cần có nỗi đau của cô đơn để khiến trí tưởng tượng của tôi làm việc. Và rồi tôi hạnh phúc. Nhưng là một người Thổ, sau một thời gian tôi cần có sự dịu dàng an ủi của cộng đồng, cái mà tôi có thể đã hủy hoại mất rồi. Istanbul hủy hoại mối quan hệ của tôi với mẹ tôi - chúng tôi không còn gặp nhau nữa. Và dĩ nhiên tôi hầu như không gặp anh tôi. Mối quan hệ của tôi với công chúng Thổ Nhĩ Kỳ, do những bình luận gần đây của tôi, cũng khó khăn.
NGƯỜI PHỎNG VẤN
Vậy ông cảm thấy bản thân ông có bao nhiêu chất Thổ?
PAMUK
Trước hết, tôi sinh ra là người Thổ. Tôi hạnh phúc về điều này. Trên trường quốc tế, tôi được xem là Thổ hơn mức thực ra tôi tự thấy. Tôi được biết đến như một tác giả Thổ. Khi Proust viết về tình yêu, ông được xem như một người nói về tình yêu phổ quát. Đặc biệt lúc mới khởi đầu, khi tôi viết về tình yêu, người ta sẽ nói rằng tôi viết về tình yêu Thổ Nhĩ Kỳ. Khi tác phẩm của tôi bắt đầu được dịch, người Thổ tự hào về nó. Họ cho rằng tôi là người của họ. Với họ giờ tôi có vẻ nhiều chất Thổ hơn. Còn khi bạn được quốc tế biết đến, tính Thổ của bạn được ghi nhận về mặt quốc tế, rồi tính Thổ của bạn được ghi nhận bởi chính người Thổ, họ giành giật lại bạn. Cảm quan của bạn về căn tính dân tộc trở thành cái để người khác vầy vọc. Nó bị những người khác áp đặt. Giờ đây họ lo lắng về sự đại diện quốc tế cho Thổ Nhĩ Kỳ hơn là về nghệ thuật của tôi. Điều này ngày càng gây ra nhiều vấn đề ở nước tôi. Thông qua những gì họ đọc trên báo chí phổ thông, nhiều người chẳng biết tới sách của tôi bắt đầu lo lắng về những gì tôi nói về Thổ Nhĩ Kỳ với thế giới bên ngoài. Văn chương được tạo ra từ thiện và ác, quỷ dữ và thiên thần, và càng lúc họ chỉ còn lo lắng về những con quỷ dữ của tôi.