André Gide

Những Màu Khác

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 106 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
André Gide

❊ ❊ ❊

Năm tôi lên tám, mẹ cho tôi một cuốn nhật ký có khóa và chìa.

Tôi rất quý cuốn sổ đó. Bản thân việc cuốn sổ thật xinh xắn này không phải là sản phẩm ngoại nhập mà được sản xuất tại Thổ Nhĩ Kỳ đã là điều thú vị. Cho đến lúc nhận được cuốn nhật ký màu xanh lá trang nhã, tôi chưa bao giờ nghĩ mình có thể có một cuốn sổ riêng tư để ghi lại những ý nghĩ riêng, hay là tôi có thể khóa nó rồi cất chìa trong túi, có lẽ là chiếc chìa khóa đầu tiên mà tôi có. Nó hàm ý rằng tôi có thể tạo ra, sở hữu, và kiểm soát một văn bản bí mật. Tức là một khoảng thật riêng tư: Điều này làm cho ý tưởng cầm bút viết quyến rũ hơn và nhờ đó thôi thúc tôi viết. Cho đến thời điểm ấy, chưa bao giờ tôi nghĩ rằng viết là việc ta làm trong riêng tư. Tôi nghĩ đại để người ta viết để đăng báo, in sách, xuất bản. Cứ như thể là cuốn sổ được khóa của tôi thì thầm, Hãy mở tôi ra và viết gì đó, nhưng đừng cho ai xem.

Trong thế giới đạo Hồi không có thói quen viết nhật ký, các nhà sử học thỉnh thoảng nhắc ta thế. Không ai khác chú ý mấy đến vấn đề này. Các nhà sử học hướng Âu nhìn nhận điều này như một thiếu sót, phản ánh một không gian riêng tư bị thu hẹp và cho thấy áp lực xã hội lấn át biểu hiện của cá nhân.

Nhưng căn cứ vào một vài văn bản đã được xuất bản và chú giải, có lẽ người ta đã viết nhật ký ở nhiều nơi trong thế giới đạo Hồi chưa bị ảnh hưởng của phương Tây chạm đến. Các tác giả của những nhật ký ấy hẳn đã dùng chúng như sổ ghi nhớ. Hẳn là họ đã không viết cho hậu thế, và do không có truyền thống chú giải và xuất bản nhật ký, hầu hết những nhật ký này về sau sẽ bị hủy, có chủ ý hoặc tình cờ. Thoạt nhìn, ý tưởng xuất bản hay thậm chí cho người khác xem một cuốn nhật ký sẽ dường như là nhạo báng sự riêng tư bao hàm trong bản thân định nghĩa về nhật ký. Cái ý tưởng viết nhật ký để xuất bản gọi cảm giác về một xảo thuật tự ý thức và sự riêng tư giả tạo. Mặt khác, ý tưởng ấy mở rộng khái niệm không gian riêng tư, và bằng cách làm như vậy nó mở rộng quyền lực của nhà văn và nhà xuất bản. André Gide là một trong những người đầu tiên khai thác các khả năng mà cách làm này mang lại.

Năm 1947, ngay sau Thế chiến thứ hai, Gide được trao giải Nobel Văn học. Quyết định này không gây ngạc nhiên, vì khi đó, Gide, bảy mươi tám tuổi, đang ở trên đỉnh cao danh vọng, được ca ngợi là nhà văn Pháp vĩ đại nhất còn sống vào cái thời nước Pháp còn được coi như là trung tâm văn chương thế giới. Ông không e ngại nói thẳng điều mình nghĩ, ông dự phần vào chính trị theo lối đầy kịch tính cũng như khi ông bỏ lửng nó; sự kiên quyết nồng nhiệt của ông về tầm quan trọng mang tính chất trung tâm của “sự thành thực của nhân loại” mang lại cho ông lắm kẻ thù và cũng nhiều người ngưỡng mộ.

Nhiều nhà trí thức Thổ Nhĩ Kỳ hâm mộ Gide, đặc biệt những ai nhìn về Paris với lòng ngưỡng vọng và ước ao. Danh tiếng nhất trong số này là Ahmet Hamdi Tanpmar, người đã viết một bài báo cho tờ báo cộng hòa và thân phương Tây Cumhuriyet khi Gide được trao tặng giải Nobel. Tôi biết nhiều người trong các bạn chưa bao giờ nghe đến tên Tanpmar, nên tôi muốn nói đôi lời về ông trước khi trích lại một đoạn trong bài báo của ông.

Tanpinar là một nhà thơ, nhà viết tiểu luận, và tiểu thuyết gia kém Gide ba mươi tuổi; ngày nay tác phẩm của ông được xem là kinh điển của văn học hiện đại Thổ Nhĩ Kỳ. Cả những người cánh tả, hiện đại chủ nghĩa và Tây phương hóa cũng như những người bảo thủ, truyền thống và quốc gia chủ nghĩa đều tôn trọng ông; tất cả đều coi ông thuộc về phe mình. Thơ Tanpinar chịu ảnh hưởng của Valéry, tiểu thuyết chịu ảnh hưởng của Dostoyevsky, còn tiểu luận của ông ảnh hưởng bởi logic và tính thiếu kiềm chế của Gide. Nhưng điều khiến độc giả Thổ Nhĩ Kỳ, đặc biệt là giới trí thức, yêu quý ông - điều khiến tác phẩm của ông được coi là thiết yếu dưới mắt họ - không phải vì ông lấy cảm hứng từ văn chương Pháp mà vì ông gắn bó nhiệt thành với văn hóa Ottoman, và trên cả là thi ca và âm nhạc của nền vân hóa này. Ông lưu tâm đến cái phẩm cách thanh bình của văn hóa tiền hiện đại cũng như chủ nghĩa hiện đại châu Âu, và điều này gây nên một sự căng thẳng cực kỳ thú vị mà Tanpinar mang vác với mặc cảm tội lỗi. về phương diện này ông nhắc ta nhớ về một nhà văn bên ngoài châu Âu khác, Junichiro Tanizaki, người cũng biết đến sự căng thẳng giữa truyền thống đất nước ông và phương Tây, một nguồn gốc của sự cay đắng. Nhưng không giống Tanizaki, Tanpmar không hề lấy hứng thú từ bạo lực hay khổ đau mà sự căng thẳng này sinh ra, mà chuộng hơn việc khai thác nỗi buồn và sầu thảm của một dân tộc bị giằng xé giữa hai thế giới.

Bây giờ tôi sẽ trích từ bài báo của Tanpinar, đăng cách đây năm mươi năm trên tờ Cumhuriyet:

Trong số các tin tức từ nước ngoài ta nghe được từ khi chiến tranh kết thúc, ít có tin nào làm tôi vui mừng hơn tin André Gide được trao giải Nobel. Cử chỉ vinh dự này, sự tôn vinh hoàn toàn xứng đáng này, đã dẹp yên nỗi lo sợ của chúng ta: vì nó đã chứng tỏ rằng châu Âu vẫn còn đứng vững.

Dù đã bị tàn phá bởi những cơn bão thảm họa, dù quê hương đã bị phá hủy, dù những dân tộc cùng khổ vẫn ngóng trông nền hòa bình mà cho đến giờ vẫn còn lẩn tránh họ, dù tám thủ đô của nó vẫn đang vật vã dưới ách thống trị, và Ý và Pháp hãy còn đang xung đột nội bộ, châu Âu vẫn đứng vững.

Bởi vì André Gide là một trong số hiếm hoi người mà chỉ mỗi cái tên cũng có thể gọi tới cả một nền văn minh ở mức độ tinh túy nhất.

Trong những năm tháng chiến tranh có hai người thường xuyên đến thăm tôi trong ý nghĩ. Tại cái châu Âu thất trận và ảo não đó, trong cái bóng tối vô vọng đang hoài thai một tương lai không ai có thể dự báo ấy, họ là hai ngôi sao cứu rỗi của tôi. Người thứ nhất là Gide - tôi không hề biết [trong chiến tranh] ông ở đâu - [và] người thứ hai, Valéry, tôi nghe nói sống ở Paris không rượu vang, không thuốc lá, thậm chí không cả bánh mì.

Tanpmar tiếp tục bằng cách so sánh vần của Valéry và Gide, kết luận rằng “hai người bạn này thôi cũng đủ giúp châu Âu sống tiếp được trong hình thức tinh khiết nhất và nghĩa rộng nhất của nó. Bằng cách sáng tạo lại những câu chuyện cũ, tái lập giá trị của chúng, họ đã cứu một nền văn hóa vốn là tinh hoa của tính nhân văn khỏi họng kẻ xâm lăng… Họ mang đến hình thức nhân văn cho nền văn hóa này.”

Khi đọc bài này lần đầu cách đây nhiều năm, tôi nhớ mình thấy nó mang tính “Âu châu” một cách mẫu mực, nếu không nói là gượng gạo. Sở dĩ tôi cho là gượng gạo thậm chí vô cảm là vì ông đã chú ý nhiều đến vậy cái việc một nhà văn thiếu rượu và thuốc lá trong khi hàng triệu người đã chết và hàng triệu người khác mất gia đình, nhà cửa, tổ quốc. Điều mà tôi ngưỡng mộ như là thuộc tính châu Âu không phải là việc Gide đại diện cho châu Âu mà là việc ta có thể nhận ra một nhà văn trội lên trong đám đông - việc Tanpinar có thể nhìn thấy Gide như “hình thức nhân văn” của cả một nền văn hóa và việc ông có thể băn khoăn, lo lắng về chuyện Gide đã làm gì trong chiến tranh.

Nhật ký được ca ngợi nồng nhiệt của Gide, nơi ông đã rót tất cả ý nghĩ của mình với sự phóng túng của một nhà tiểu luận, cho phép ta dễ dàng bước vào thế giới cô đơn của ông, dự phần vào những âu lo, băn khoăn và những ý nghĩ tản mạn của ông. Những ghi chép thuật lại những ý nghĩ riêng tư và cá nhân nhất này được Gide trao cho nhà xuất bản của ông, và chúng được xuất bản trong khi ồng còn sống; tuy đây có thể không phải là nhật ký nổi tiếng nhất của thời hiện đại, song nó được đánh giá cao nhất. Các tập đầu tiên có những lời bình luận tức tối và nhạo báng về Thổ Nhĩ Kỳ, nơi ông ghé thăm năm 1914, sau cuộc chiến Balkan.

Đầu tiên Gide mô tả cuộc gặp một thành viên của Người Thổ Trẻ[1] trên chuyến tàu đến Istanbul. Người này, con trai của một pasha, đã học nghệ thuật ở Lausanne được sáu tháng và bây giờ đang quay trở lại Istanbul với cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Nana của Zola kẹp dưới cánh tay; thấy anh ta hời hợt và đầy vẻ giả bộ, Gide biến anh ta thành một hình tượng để chế nhạo.

Khi đến Istanbul ông nhanh chóng phản ứng mạnh mẽ với thành phố, thấy nó đáng ghét như Venice. Mọi thứ đều được mang đến đây từ nơi khác, hoặc bằng tiền hoặc bằng vũ lực. Điều duy nhất về Istanbul làm ông hạnh phúc là rời khỏi nó.

“Từ mảnh đất này chẳng có gì mọc lên,” ông viết trong nhật ký, “chẳng có gì bản địa ẩn dưới đám bọt dày đặc tạo ra từ những cọ xát, va chạm giữa nhiều sắc dân, lịch sử, niềm tin và văn minh đến thê’.”

Rồi ông đổi đề tài. “Trang phục Thổ Nhĩ Kỳ là loại trang phục xấu nhất mà bạn có thể tưởng tượng ra, và nói thật là giống dân này xứng đáng với trang phục đó.”

Ông tiếp tục tuyên bố thẳng thừng một ý tưởng mà các du khách khác trước ông đều có, mặc dù hầu hết đã lựa chọn không nói với ai: “Tôi không thể nào trao trái tim tôi cho ngay cả phong cảnh đẹp đẽ nhất thế giới nếu tôi không thể yêu những con người sống ở đó.”

Lòng khao khát được trung thực với những ý kiến thẳng thắn nhất lớn đến nỗi ông phủ nhận quốc gia mà ông ghé thăm: “Giá trị học tập thực thụ mà tôi có được từ chuyến đi này tương ứng với sự kinh tởm mà tôi dành cho quốc gia này,” ông viết. “Tôi vui mừng vì không thích nó nhiều hơn.”

Viện Hàn lâm Thụy Điển ca ngợi những trang viết của Gide là “một hình thức của tình yêu sự thật say đắm mà kể từ Montaigne và Rousseau đã trở nên thiết yếu trong văn chương Pháp.” Đam mê của ông đối với việc ghi lại thật đúng những suy nghĩ và ấn tượng của mình khiến Gide nói những điều mà không ai khác có can đảm lên tiếng. Đây là điều ông nói về châu Âu sau khi từ Thổ Nhĩ Kỳ về:

Suốt một thời gian dài tôi cứ nghĩ có tồn tại hơn một nền văn minh, hơn một nền văn hóa có thể đúng đắn chiếm lấy tình yêu của chúng ta và xứng đáng với sự nhiệt thành của chúng ta… Giờ tôi biết rằng văn minh phương Tây (tôi định nói Pháp) của chúng ta không chỉ là nền văn minh đẹp nhất; mà tôi còn tin - tôi biết - đó là nền văn minh duy nhất.

Những lời lẽ của Gide có thể dễ dàng khiến ông giật được một giải thưởng về sự thiếu tế nhị ở một đại học Mỹ, một minh chứng rằng tình yêu sự thật nồng nàn không phải lúc nào cũng dẫn đến hành xử chính trị đúng đắn.

Nhưng mục tiêu của tôi ở đây không phải là day đi day lại về sự thành thực gây sửng sốt của Gide hay chê trách sự phân biệt chủng tộc thô thiển của ông. Tôi yêu Gide - tác phẩm, cuộc đời và các giá trị của ông - cũng nhiều như Tanpinar. Sách của ông rất được yêu mến ở Thổ Nhĩ Kỳ khi tôi còn trẻ. Cha tôi có tất cả sách của ông trong thư viện, và Gide quan trọng với tôi cũng như đối với các thế hệ trước.

Tôi biết tôi có thể nắm bắt châu Âu tốt nhất như một khái niệm nếu tiếp cận nó với hai ý nghĩ trái ngược nhau trong đầu: đầu tiên, sự ghét bỏ mà Gide dành cho các nền văn minh khác - cho cả nền văn minh của tôi - và, thứ hai, sự ngưỡng mộ to lớn mà Tanpinar dành cho Gide và thông qua ông cho toàn châu Âu. Tôi chỉ có thể bày tỏ châu Âu với tôi có nghĩa là gì nếu có thể trộn lẫn khinh bỉ với ngưỡng mộ, ghét với yêu, kinh tởm với hấp dẫn.

Mặc dù Tanpinar kết bài báo bằng cách khen ngợi “tư tưởng tinh khiết” của Gide và “ý niệm về công bằng” của ông, trước đó ông có ngầm ý cho thấy ông cũng biết mấy dòng gây bất bình đó của cuốn Nhật ký. Nhưng bằng sự khiêm tốn có thể biện giải được, ông không đi vào chi tiết. Việc Yahia Kemal, thầy và người đỡ đầu của Tanpinar và một trong những nhà thơ vĩ đại nhất Thổ Nhĩ Kỳ thế kỷ 20, cũng có đọc tường thuật về chuyến thăm Thổ Nhĩ Kỳ của Gide được thể hiện rõ trong một lá thư ông viết cho AS. Hisar, xuất bản sau khi ông mất; trong thư này ông mô tả những ghi chép của Gide là “một cuốn nhật ký du lịch được soạn ra để công kích tính cách Thổ Nhĩ Kỳ với những lời xỉ vả độc địa nhất”. Ông tiếp tục bằng cách phàn nàn rằng “trong số các bài người ta từng viết để bôi nhọ chúng ta, đây là bài cay độc nhất. Đọc bài này khiến lòng tôi tan nát”. Cả một thế hệ đọc những trang viết này của Gide, lẳng lặng bỏ qua sự xúc phạm như thể đó là lời nói hớ, thỉnh thoảng khẽ nhắc lại nhưng hầu hết hành xử như thể những lời đó chưa được nói ra hay còn đang bị khóa kín trong một cuốn nhật ký. Khi những bài tuyển của Gide trong cuốn Nhật ký được dịch ra tiếng Thổ và được Bộ Giáo dục xuất bản, những bình luận của ông về Thổ Nhĩ Kỳ được lặng lẽ đục bỏ.

Trong những bài báo khác Tanpinar nói về ảnh hưởng không lẫn vào đâu được đối với thơ ca Thổ Nhĩ Kỳ của cuốn Les nourritures terrestres (Dưỡng chất trần gian) của Gide. Chính Gide là người khởi đầu trào lưu viết nhật ký trong các nhà văn Thổ và xuất bản khi còn sống. Nurullah Ataẹ, nhà phê bình có ảnh hưởng nhất của nước Thổ Nhĩ Kỳ Cộng hòa thời kỳ đầu, là người đầu tiên thực hiện một cuốn tương tự cuốn Nhật ký của Gide - gần đả kích hơn là bộc bạch - và hình thức này cũng được các nhà phê bình trong thế hệ kế tiếp bắt chước.

Tôi bắt đầu băn khoăn không biết khi, đi sâu vào chi tiết như thế này mình có đi lạc khỏi vấn đề thực sự hay không. Có cần xem tường trình của Gide về hành trình của ông đến Istanbul và Thổ Nhĩ Kỳ sau chiến tranh Balkan, và việc ông không ưa người Thổ, như là mâu thuẫn với sự ngưỡng mộ mà Tanpinar và cả một thế hệ nhà văn Thổ dành cho ông? Chúng ta ngưỡng mộ nhà văn vì câu chữ của họ, giá trị của họ, và quyền năng văn chương của họ, không phải vì họ tán thành chúng ta, đất nước ta, hay văn hóa mà trong đó ta sống. Trong Nhật ký một nhà văn, đăng nhiều kỳ trên báo, Dostoyevsky tả những gì ông thấy trong chuyến đi đầu tiên đến Pháp; ông tả khá dài dòng về thái độ đạo đức giả của người Pháp, cho rằng những giá trị tinh tế của họ đã bị tiền bạc hủy hoại. Nhưng dù đã đọc những lời này, Gide vẫn không thôi ngưỡng mộ Dostoyevsky hay viết một cuốn sách xuất sắc về Dostoyevsky. Bằng cách khước từ việc rút vào chủ nghĩa yêu nước hẹp hòi, Tanpinar (cũng là người ngưỡng mộ con người ghét Pháp Dostoyevsky) thể hiện cái mà tôi gọi là thái độ châu Âu.

Năm 1862, khi Dostoyevsky giận dữ tuyên bố rằng tinh thần bác ái đã từ bỏ nước Pháp, ông đã khái quát hóa “bản chất Pháp và… bản chất phương Tây nói chung”. Khi ông đánh đồng Pháp và phương Tây, Dostoyevsky không khác gì Gide. Quan điểm của Tanpinar cũng tương tự, mặc dù ông không chia sẻ sự giận dữ to lớn của Dostoyevsky đối với nước Pháp và phương Tây; thay vào đó, ông vẫn duy trì một sự ngưỡng mộ giằng xé và trong chừng mực nào đó đầy tội lỗi. Bây giờ tôi sẵn sàng trả lời câu hỏi nêu ở trên: Có thể không phải là mâu thuẫn khi ngưỡng mộ một nhà văn chê bai nền văn hóa, văn minh và quốc gia bạn sống, nhưng hai trạng thái tinh thần - khinh thường và ngưỡng mộ - liên kết chặt chẽ với nhau. Nhìn từ quan điểm của tôi, châu Âu là một ý niệm dựa trên cả hai thái độ ấy. Hình ảnh của tôi về châu Âu hay phương Tây không phải là một ý niệm sáng rỡ, khai sáng, kỳ vĩ. Hình ảnh của tôi về phương Tây là sự căng thẳng, bạo lực sinh ra từ tình yêu và thù hận, mong mỏi và nhục nhã.

Tôi không biết liệu Gide có phải đi đến Istanbul và Anatolia thì mới có thể ngây thơ tuyên bố rằng nước Pháp của ông, nền văn minh phương Tây của ông là “đẹp nhất trên đời”. Nhưng tôi không nghi ngờ gì thành phố Istanbul mà Gide đã đến thăm trong mắt ông là một nền văn minh hoàn toàn khác so với nền văn minh của ông. Trong hai thế kỷ qua những trí thức Thổ Nhĩ Kỳ và Ottoman Tây phương hóa, cũng như Gide, đã bị thuyết phục rằng Istanbul và Anatolia là những nơi chốn không có liên lạc gì với phương Tây. Nhưng trong khi Gide cảm thấy bực bội và khinh miệt, họ cảm thấy ngưỡng vọng và ước ao và điều này đẩy họ vào một cuộc khủng hoảng về bản ngã. Cũng như Tanpinar, khi quá đồng cảm với Gide, họ bị buộc phải bỏ qua những nhận xét miệt thị của Gide trong im lặng; vì họ đứng trên rìa châu Âu, giằng xé giữa Đông và Tây, họ buộc phải đặt niềm tin nơi châu Âu thậm chí nhiều hơn André Gide. Có lẽ điều này lý giải tại sao những nhận xét nhạo báng của Gide không ngăn cản ông áp đặt ảnh hưởng mạnh mẽ lên văn chương Thổ Nhĩ Kỳ.

Theo quan điểm của tôi, phương Tây không phải là một khái niệm để khai phá, phân tích hoặc phóng đại thông qua một nghiên cứu về lịch sử và những lý tưởng lớn tạo ra lịch sử; nó luôn luôn là một công cụ. Chỉ khi chúng ta sử dụng nó như một công cụ ta mới có thể tham gia “quá trình văn minh hóa”. Chúng ta khao khát điều không tồn tại trong lịch sử và văn hóa của riêng chúng ta vì ta thấy nó ở châu Âu, và chúng ta hợp thức hóa nhu cầu của chúng ta bằng uy tín của châu Âu. Trong đất nước chúng ta, khái niệm châu Âu biện minh cho việc sử dụng vũ lực, thay đổi chính trị căn bản, sự tuân thủ truyền thống một cách tàn bạo. Từ cải thiện quyền của phụ nữ đến vi phạm quyền con người, từ dân chủ đến độc tài quân sự, rất nhiều thứ được biện minh bằng một ý tưởng của phương Tây vốn nhấn mạnh khái niệm này về châu Âu và phản ánh một thứ chủ nghĩa duy lợi thực chứng. Cả đời tôi, tôi đã nghe mọi thói quen hằng ngày của chúng ta, từ cách ngồi vào bàn ăn đến đạo đức tính dục, thảy đều bị phê bình và đã thay đổi bởi vì “ở châu Âu người ta làm như thế”. Đó là điều mà tôi nghe đi nghe lại: trên radio, trên ti vi, từ mẹ tôi. Đó không phải là một lập luận dựa vào lý tính và thực ra là tránh né lý tính.

Sự phấn chấn của Tanpinar khi nghe tin Gide được trao giải Nobel có thể được hiểu rõ hơn nếu ta nhớ rằng người trí thức Tây hóa phụ thuộc vào một hình ảnh lý tưởng về phương Tây hơn là bản thân phương Tây. Ngay cả nếu anh ta là người tiếc nuối sự mất mát của văn hóa truyền thống, âm nhạc và thi ca xưa, và “sự nhạy cảm của các thế hệ trước”, một trí thức Tây hóa như Tanpinar chỉ có thể tự phê bình văn hóa của mình và chỉ có thể dịch chuyển từ chủ nghĩa quốc gia bảo thủ sang tính hiện đại sáng tạo trong chừng mực mà anh ta có thể bám vào một hình ảnh kiểu như trong chuyện thần tiên về một châu Âu hay phương Tây lý tưởng. Ít nhất, sự gần gũi này cho phép anh ta mở ra một khoảng không gian quan trọng và đầy cảm hứng giữa hai thứ ấy.

Mặt khác, ôm ấp một hình ảnh thần tiên về phương Tây thậm chí có thể dẫn một nhà văn sâu sắc và phức tạp như Tanpinar đến chỗ chia sẻ cái lý tưởng ngây thơ và dung tục của Gide, như đã thể hiện trong câu “văn minh phương Tây là văn minh đẹp nhất”. Đây là một giấc mơ châu Âu dựa dẫm vào một giấc mơ khác mâu thuẫn và thù nghịch. Có thể các trí thức Thổ Nhĩ Kỳ và Ottoman Tây hóa đã không công khai phản đối những nhận xét thô thiển và khinh thường của Gide bởi vì mặc cảm tội lỗi thầm kín của họ, có lẽ thậm chí bản thân họ không nhận thấy: Có thể họ thầm đồng ý với ông. Nhưng họ giấu những ý tưởng này trong các nhật ký có khóa của riêng họ.

Nhiều Người Thổ Trẻ Tây hóa chia sẻ các nhận định của Gide. Họ thì thầm trong bí mật hoặc la toáng lên, tùy hoàn cảnh. Ở đây chúng ta bắt đầu thấy cái nơi mà ý tưởng của châu Âu trở nên hòa quyện với chủ nghĩa quốc gia rồi sẽ nuôi dưỡng và định hình nó. Các quan điểm của Gide và những người phương Tây khác viết về người Thổ, người theo đạo Hồi, phương Đông và phương Tây được không chỉ những Người Thổ Trẻ cuối cùng ứng dụng mà còn được đưa vào trong khái niệm nền tảng của Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ.

Atatürk, người sáng lập Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ và cha đẻ của quốc gia, đã kiến thiết một chương trình cải cách đầy tham vọng đến dị thường trong những năm đầu của nền Cộng hòa, từ 1923 đến giữa những năm 1930. Sau khi đổi từ mẫu tự Hồi sang mẫu tự Latinh, và từ lịch đạo Hồi sang dương lịch, rồi tuyên bố Chủ nhật chứ không phải thứ Sáu là ngày nghỉ hằng tuần, ông đưa ra các cải cách khác, chẳng hạn như cải thiện về quyền của phụ nữ, những cải cách này để lại dấu ấn còn sâu sắc hơn trong xã hội. Cuộc tranh luận giữa một bên là những người Tây phương hóa và những người Hiện đại ủng hộ cải cách còn bên kia là những người bảo thủ và quốc gia chủ nghĩa tấn công cải cách vẫn tạo thành nền tảng cho hầu hết thảo luận về ý thức hệ ở Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay.

Một trong những cải cách đầu tiên của Atatürk là áp dụng bắt buộc âu phục vào năm 1925, hai năm sau khi thành lập nền Cộng hòa. Mặc dù quy định này buộc mọi người ăn mặc như người châu Âu, song đồng thời nó cũng kế tục quy định ăn mặc theo kiểu Ottoman truyền thống vốn yêu cầu người ta ăn mặc theo tôn giáo.

Năm 1925, chính xác một năm sau khi những nhận xét của Gide về người Thổ được ấn hành, Atatürk đã bày tỏ quan điểm tương tự khi ông thông báo cuộc cách mạng quần áo trong chuyến du hành đến Anatolia:

Ví dụ, tôi thấy một người [chỉ bằng tay] trong đám đông trước mặt tôi đội một cái mũ fez[2] trên đầu, một khăn rìu xanh lá quấn quanh mũ fez, một áo mintan[3] và bên ngoài là một cái áo khoác như áo của tôi. Phần dưới tôi không nhìn thấy. Vậy thì đó là cái trang phục gì vậy? Liệu một con người văn minh có chịu để thế giới đem mình ra làm trò cười bằng cách ăn mặc quái dị như vậy không?

Đặt những nhận xét này bên cạnh nhận xét của Gide là để xem liệu Atatürk có chia sẻ ý kiến coi thường của Gide về trang phục dân tộc của người Thổ chăng. Chúng ta không biết được liệu Atatürk có đọc nhận xét của Gide, dù ta biết rằng Yahya Kemal, một thành viên trong bộ sậu của ông, đã đọc và bày tỏ sự phẫn nộ mạnh mẽ trong một lá thư. Tuy nhiên, điều quan trọng ở đây là Atatürk, cũng như Gide, có quan điểm rằng ăn mặc là thước đo của văn minh:

Khi các công dân Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ tuyên bố rằng họ đã được khai hóa, họ buộc phải chứng tỏ rằng họ cũng văn minh như thế trong đời sống gia đình và trong phong cách sống của họ. Một trang phục mà, xin bạn thứ lỗi cho tôi nói, nửa Ống sáo, nửa thùng đạn súng trường thì chẳng ra trang phục quốc gia mà cũng chẳng phải trang phục quốc tế.

Quan điểm của Atatürk về đời sống riêng tư có thể phản ánh quan điểm của Gide hoặc không. Dù gì thì rõ rằng Atatürk đánh đồng châu Âu với văn minh; kéo theo quan điểm cho rằng cái gì không phải châu Âu thì man rợ nhục nhã. Sự nhục nhã này ràng buộc chặt chẽ với chủ nghĩa quốc gia. Phương Tây hóa và chủ nghĩa quốc gia phát sinh từ cùng nguồn, nhưng (như ta thấy ở Tanpinar) có tội lỗi và hổ thẹn trộn lẫn trong đó. Ở nơi này của thế giới, ý niệm về châu Âu xuất phát ra từ những tình cảm như nhau này theo một cách thức sâu sắc nhưng cũng rất “riêng tư”.

Cả Gide lẫn Atatürk đều thấy trang phục xấu xí của người Thổ trong những năm đầu thế kỷ 20 đặt người Thổ bên ngoài văn minh châu Âu. Gide tóm tắt mối quan hệ giữa một quốc gia và trang phục của nó bằng mấy chữ “và giống người đó, nói thật là, xứng đáng với nó”.

Nhưng Atatürk tin rằng trang phục Thổ Nhĩ Kỳ đại diện sai lệch cho quốc gia. Trong cùng chuyến đi vòng quanh nước đó, vào thời điểm ông khỏi xướng cuộc cải cách quần áo, ông tuyên bố:

Trưng bày một viên ngọc quý cho thế giới khi nó đã vấy bùn thì có ý nghĩa gì không? Liệu có hợp lý khi thông báo cho họ rằng có một hạt ngọc trai giấu dưới bùn mà họ không biết? Dĩ nhiên điều thiết yếu là phải dỡ bỏ lớp bùn để viên ngọc lộ ra… Một phong cách ăn mặc văn minh và mang tính quốc tế đối với chúng ta là phong cách giống như châu ngọc, một trang phục xứng đáng với quốc gia chúng ta.

Bằng cách nói rằng trang phục truyền thống là bùn che phủ nhân dân Thổ Nhĩ Kỳ, Atatürk tìm ra cách đương đầu với nỗi hổ thẹn mà tất cả người Thổ Tây hóa chịu đựng. Theo một nghĩa nào đó, đó là một cách đánh vào trung tâm của sự hổ thẹn.

Atatürk vạch một đường ranh giữa trang phục mà ông bác bỏ (cùng Gide và những người Tây hóa khác) và những người mặc nó. Ông nhìn nhận cách ăn mặc không như một phần văn hóa định hình quốc gia mà như một vết bẩn như bùn trên giống dân này. Như vậy, để mang nhân dân Thổ gần lại với ý tưởng của ông về châu Âu, ông đã đảm nhiệm một công việc khó khăn khi buộc họ vứt bỏ trang phục truyền thống. Thậm chí bảy mươi năm sau cuộc cách mạng ăn mặc của Atatürk, cảnh sát Thổ hãy còn truy đuổi những người đi lại trong những khu bảo thủ của Istanbul mặc trang phục truyền thống, trong khi các nhà báo và máy quay hình cho ti vi ghi nhận lại.

Vậy giờ ta hãy nói một cách cởi mở về sự hổ thẹn, cái từng là nền tảng cho ý tưởng về châu Âu từ Gide đến Tanpinar, từ sự lăng mạ của Yahya Kemal đến những biện pháp nhẹ nhàng của Atatürk.

Người Tây hóa hổ thẹn đầu tiên và trên hết vì mình không phải là người châu Âu. Đôi khi (không phải luôn luôn) anh ta hổ thẹn vì những gì anh ta làm để trở thành người châu Âu. Anh ta hổ thẹn vì anh ta đánh mất bản lai diện mục của mình trong khi vùng vẫy để trở thành người châu Âu. Anh ta hổ thẹn về chuyện mình là ai và không là ai. Anh ta hổ thẹn về chính nỗi hổ thẹn; đôi khi anh ta kháng cự lại nó và đôi khi anh ta nhẫn nhục chấp nhận nó. Anh ta hổ thẹn và giận dữ khi sự hổ thẹn của anh ta bị phơi bày.

Hiếm khi nào mà những rối răm và nhục nhã như thế bị phơi bày ở “không gian công cộng”. Khi bộ Nhật ký của Gide xuất bản ở Thổ Nhĩ Kỳ, những đoạn nói xấu Thổ Nhĩ Kỳ bị cắt bỏ và những thảo luận về Gide được tiến hành khẻ khàng. Chúng ta ngưởng mộ Gide vì công bố nhật ký riêng tư của ông, nhưng rồi ta dùng nó để biện minh cho những quy định của Nhà nước về cái phải là mối quan tâm riêng tư nhất, cách chúng ta ăn mặc.

❀ ❀ ❀

[1] Người Thổ Trẻ: Liên minh các nhóm ủng hộ cải cách và hiện đại hóa dưới thời Ottoman.

[2] Mũ tròn đỏ, đầu bằng.

[3] Áo không cổ

ors: Essays and A Story ebook©MotSAch Nhã Nam & NXB Văn Học tve-4u©vctvegroup | 07-04-2021
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.