Những vụ giết người không rõ kẻ thủ ác và tiểu thuyết trinh thám

Những Màu Khác

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 137 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Những Vụ Giết Người Không Rõ Kẻ Thủ Ác Và Tiểu Thuyết Trinh Thám

❊ ❊ ❊

Nhà báo giữ mục Çetin Altan và Şeyhülislam Ebussuud Efendi

Một phần lớn của Cuốn sách đen bao gồm các bài báo giả như là được đăng trên tờ Milliyet, một trong những tờ báo quan trọng nhất của Thổ Nhĩ Kỳ. Trong cuốn tiểu thuyết chúng được trình bày như những bài báo do một nhân vật nhà báo viết. Chúng xuất hiện cách quãng đều đặn, làm gián đoạn mạch tự sự của cuốn tiểu thuyết, và bởi vì chúng quyết định hình thức của Cuốn sách đen, chúng gây ra cho tôi vô khối khó khăn. Vì tôi khá thích thú khi viết bằng giọng của một nhà báo giữ mục, cố cân bằng giữa sự uyên bác giả tạo với giọng giễu cợt tinh tế, các bài báo ngày một dài hơn, chi phối cuốn sách theo một cách làm phá vỡ sự cân bằng và cấu trúc của toàn cuốn sách. Kể cả ngày nay, khi độc giả bảo tôi, “Tôi đọc Cuốn sách đen rồi, các bài báo thật tuyệt,” thì tôi vừa vui lại vừa băn khoăn.

Những người đọc cuốn sách qua bản dịch thường nói như thế nhất. Độc giả phương Tây bị mê hoặc bởi sự lạ lùng và cách kể chuyện trôi chảy của các nhà báo giữ mục mà tôi nhại, các nhà báo này thuộc về một truyền thống vượt khỏi Thổ Nhĩ Kỳ và bao gồm nhiều quốc gia khác chia sẻ những mâu thuẫn văn hóa tương tự. Họ là một giống loài hấp hối, nhưng ta vẫn có thể tìm thấy bóng dáng của họ nơi các nhà báo giữ mục ngày nay ở Thổ Nhĩ Kỳ.

Ở Thổ Nhĩ Kỳ một nhà báo giữ mục thực thụ sẽ viết bốn hay năm lần một tuần. Anh ta sẽ lấy đề tài từ mọi khía cạnh của đời sống, địa lý và lịch sử. Anh ta sẽ ứng dụng mọi hình thức và chiến lược kể chuyện, dựa vào những tin tức thường ngày vụn vặt nhất hay triết học, hồi ức hay quan sát xã hội học. Mọi thứ, từ hội đồng thành phố - chẳng hạn hình dáng của những chiếc đèn đường mới - đến các câu hỏi về nền văn minh - như vị trí của Thổ Nhĩ Kỳ ở giữa Đông và Tây - đều nằm trong tầm ngắm của nhà báo giữ mục. (Anh ta rất dễ thu hút sự chú ý của độc giả bằng cách liên hệ giữa ví dụ như hình dáng của đèn đường với vấn đề Đông Tây.) Những người thành công nhất là những người tranh luận hăng nhất và nhanh nhạy nhất; họ tạo dựng tên tuổi nhờ tính chiến đấu, lòng can đảm và ngôn ngữ thẳng thừng. Khá nhiều người trong số họ phải chịu cảnh tù tội hay hầu tòa vì những gì họ viết. Độc giả ngưỡng mộ và tin tưởng họ, không phải vì họ có khả năng làm sáng tỏ hay giải thích mà vì lòng can đảm và sự thẳng thắn của họ. Họ là ngôi sao vì họ giả là chuyên gia về mọi lĩnh vực, bởi vì dường như họ có câu trả lời cho mọi câu hỏi, bởi vì họ thảo luận các hận thù chính trị mà ai cũng có ý kiến về chúng. Vào những thời điểm khi đất nước bị phân cực chính trị, họ là các nhân chứng tìm thấy lối vào mọi thành phần của xã hội: vào nhà của những người có quyền lực; vào trong các quán cà phê, văn phòng nhà nước, và đời sống hằng ngày. Bởi vì họ được độc giả thương yêu và tin tưởng, ngày hôm nay bàn về tình yêu và ngày kế tiếp trình bày quan điểm về Clinton và giáo hoàng, viết về một thị trưởng tham những dễ dàng như viết về sai lầm của Freud, họ trở thành “Giáo sư Tất Tần Tật”. Cách đây mươi, mười lăm năm - trước khi truyền hình thay đổi thói quen đọc báo của cả nước - độc giả Thổ Nhĩ Kỳ xem các chuyên mục trên báo là hình thức văn chương cao nhất. Ngày đó, mỗi khi tôi đi xe buýt quanh Anatolia, ai biết được tôi là nhà văn đều hỏi tôi làm cho báo nào.

Khi tạo ra nhân vật Celâl Salik, nhà báo giữ mục của Cuốn sách đen, và thậm chí hơn thế nữa khi viết mục của anh ta, quan tâm chính yếu của tôi là đảm bảo rằng anh ta không mang nét nào giống các nhà báo giữ mục tiếng tăm của thời đó - mỗi người bọn họ đều nổi tiếng ngang các chính trị gia quyền lực nhất - và nhờ đó thoát được cái bóng tỏa xuống từ các cây bút tài danh ấy. Nhà báo giữ mục có thật mà tôi sợ bị giống nhất, nhà báo mà những quan điểm gây tranh cãi khiến ông là người nổi tiếng nhất trong nửa thế kỷ qua - là Çetin Altan.

Gần đây Çetin Altan bị buộc tội “phỉ báng nhà nước”, sau khi công khai nói về những liên hệ giữa nhà nước với mafia và về một số vụ thủ tiêu mà chính phủ có dính líu. Trong một cuộc phỏng vấn trong thời gian xét xử ông, ông tiết lộ có khoảng ba trăm cáo buộc chống lại ông. Bởi vì ông là một trong những người hùng chính trị và văn chương vĩ đại của tôi khi tôi còn trẻ, tôi nhớ những ngày mà ông bị kết án tù giam cũng như những ngày ông được phóng thích là những thời điểm hết sức kịch tính. Trong thời gian là nghị sĩ cho đảng Công nhân Thổ Nhĩ Kỳ, những bài diễn văn xuất sắc tại Quốc hội và những bài báo mạnh mẽ của ông đã khiến ông mất quyền miễn trừ, các nghị sĩ thuộc đảng bảo thủ cầm quyền khi đó nện ông ngay tại Quốc hội.

Phần lớn cơn thịnh nộ mà nhà nước và công luận dành cho Altan, không nghi ngờ gì, là do ở chỗ ông là một người xã hội chủ nghĩa trong một đất nước láng giềng với Liên Xô thời Chiến tranh lạnh. Dù sao đi nữa, từ những năm 1970 trở đi, khi Altan bắt đầu hướng sự chỉ trích vào nhà nước, cơn thịnh nộ dành cho ông không bớt đi. Theo ý tôi những người bảo thủ và quốc gia chủ nghĩa thuộc cánh hữu và cánh tả ghét ông vì ông từ chối gán nguyên nhân cái nghèo và những khiếm khuyết chính trị và hành chính của Thổ Nhĩ Kỳ cho những thử nghiệm và sách động chính trị của các thế lực nước ngoài, mà ông cho rằng gốc rễ các vấn nạn quốc gia nằm ngay trong tình hình đất nước. Khi phê phán đất nước mình, ông không bao giờ trao cho độc giả những kẻ xấu xa để những kẻ ấy hứng chịu mọi chỉ trích, và ông cũng không đưa ra công thức nào để qua một đêm có thể thay đổi vận mệnh đất nước. Mục tiêu của ông không chỉ là chế độ mà còn là văn hóa Thổ Nhĩ Kỳ, và Altan quan sát nền văn hóa này bằng con mắt sắc sảo và châm biếm - những thói quen hằng ngày, cách suy nghĩ, những giả định của nó -, ông cho rằng những yếu kém của đất nước là do văn hóa. Altan không chỉ viết bằng thứ ngôn ngữ của những người ông công kích nhiều nhất, ông còn buộc được chính những người ấy đọc ông hằng ngày, và về khía cạnh này ông gần với Naipaul.

Nhưng Çetin Altan chưa bao giờ rơi vào nỗi đau khổ từng khiến Naipaul có vẻ quá vô tình và bi quan. Ông vẫn lạc quan về tiến trình Tây phương hóa và hiện đại hóa. Đây là lý do tại sao phương Tây với ông không phải là một trung tâm gây ra sự đau đớn bởi nó bị bắt chước, hay nó bị bắt chước bởi nó gây ra đau đớn và chịu trách nhiệm cho mọi điều xấu xa có thể tưởng tượng ra. Niềm lạc quan trẻ thơ của ông phần nào xuất phát từ thực tế rằng Thổ Nhĩ Kỳ chưa bao giờ chịu cảnh thuộc địa, và điều này cho phép ông xem văn minh phương Tây như một trung tâm có thể tiếp cận được, nếu từ từ và thận trọng. Nếu như có bất kỳ điều gì có thể khiến “chúng tôi” khác biệt với những ai sống ở phương Tây, thì đó chính là điều chúng tôi còn thiếu. Bởi vì chúng tôi không phải là người phương Tây, trước hết chúng tôi phải xác định chúng tôi còn thiếu cái gì và rồi bù đắp vào đó. Lịch sử, lịch sử của chúng tôi, là lịch sử của tất cả những khiếm khuyết. Như rất nhiều trí thức Ottoman và Thổ Nhĩ Kỳ, và cũng như rất nhiều nhà báo giữ mục ưa bút chiến của chúng tôi, Çetin Altan lập ra các danh sách dài những khiếm khuyết ảm đạm tách biệt chúng tôi khỏi phương Tây, từ dân chủ cho đến chủ nghĩa tư bản hiện đại, từ nghệ thuật tiểu thuyết đến cá nhân tính và nghệ thuật chơi piano, từ nghệ thuật thị giác đến văn xuôi, từ cái mũ mà Atatürk quá coi trọng đến cái bàn mà tôi đề xuất một cách đùa cợt trong cuốn Ngôi nhà im lặng.

Vào những năm 1970, khi độ khiếp sợ chính trị đã lên tới mức mãnh liệt hiện tại của nó, Çetin Altan lưu ý một cái thiếu khác, và đó là chủ đề của chúng ta hôm nay.

Truyện trinh thám ở Thổ Nhĩ Kỳ không phát triển cao như ở Anh, Mỹ và Pháp. Đặt trong bối cảnh những phức tạp của đời sống trong các xã hội công nghiệp, các vụ giết người dàn dựng khéo léo đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tiểu thuyết, kịch, và các bộ phim của các xã hội ấy và do đó rất nhiều tài năng sáng tạo đa dạng đã nổi lên trong thể loại trinh thám. Nhưng trong cái xã hội làng xã của chúng ta, cả giết người cũng chẳng có gì tinh khôn. Một ông chồng bị ghen tuông làm mờ mắt chẳng còn biết phải trái là gì lấy dao ra đâm vợ không chút nhặng xị, và chuyện kết thúc. Hay một người dính líu trong một mối thù dòng họ sẽ gặp kẻ thù của mình và xả súng vào đầu anh ta ngay lúc đó và tại đó. Ở thôn quê, nơi có tranh chấp về đất đai hay quyền lấy nước, thường xảy ra chuyện người ta lấy một khẩu súng ngắn hai nòng ra nằm chờ. Ai cũng biết ai bị ai giết, và tại sao. Nếu kiểu giết người này không được các nhà văn quan tâm, thì đó là vì sự man rợ trong cách thực hiện, khiến người ta liên tưởng tới một người lấy rìu chẻ đôi quả bí đỏ, và đây là lý do tại sao nghệ thuật tiểu thuyết trinh thám quá kém phát triển ở nước ta.

Khi đọc lần đầu, ta không thể không thích thú với sự thẳng thắng của lập luận, vẻ hài hước sắc bén, và có lẽ đó là lý do ta có khuynh hướng chấp nhận lập luận của Altan, nhưng ta có thể nói gì để phản bác? Ừ, thì ta có thể đề cập đến nhà văn người Sicily Leonardo Sciascia, người sử dụng các vụ giết người có tính chất nông thôn tương tự trong tiểu thuyết trinh thám của mình và rất thành công. Người ta cũng có thể trỏ sang nhiều vụ giết người ở phương Tây mà - dù cũng được thực hiện với sự tàn bạo “liên hệ tới một người lấy rìu chẻ đôi quả bí đỏ” - vẫn gây cảm hứng cho, hoặc thực ra là lấy cảm hứng từ - các truyện trinh thám.

Không lâu sau bài báo cụ thể này xuất hiện, Çetin Altan viết một tập truyện trinh thám, theo một tip rất phổ biến trong thời kỳ đầu của tiểu thuyết trinh thám. Với những câu chuyện này, theo phong cách xêri Cha Brown của G. K. Chesterton[1], ông từ bỏ ý kiến cho rằng xã hội không cung cấp cho nhà văn đủ vốn sống để viết truyện trinh thám, bác bỏ quan điểm mang tính quyết định luận thái quá này.

Nhưng bây giờ ta hãy bàn luận khẳng định khác của ông: “Ai cũng biết ai bị ai giết, và tại sao.” Nếu bạn nhớ rằng nhiều vụ giết người được thực hiện với hy vọng rằng chúng sẽ không bao giờ bị phát hiện ra, ngay lập tức ta sẽ thấy rõ rằng phát biểu này không luôn luôn đúng. Bốn trăm năm trước khi Çetin Altan nói về sự khan hiếm những vụ giết người không rõ kẻ thủ ác trong nền văn hóa của chúng ta, nhà nước Ottoman (khi ấy đang ở giữa thời mà các sử gia vệ binh già gọi là thời đại cổ điển) tỏ ra rất quan tâm đến các vụ giết người không rõ kẻ thủ ác nên đã dành ra một nỗ lực nghiêm túc chưa từng có để xử lý các vụ ấy theo các pháp điển liên quan. Ngày nay chúng ta biết rằng Sheikh-ul-Islam Ebussuud Efendi (người có thẩm quyền pháp lý cao nhất trong thời đại của Suleyman Huy Hoàng, và là người ra các quyết định dựa vào các tiền lệ quan trọng kinh điển theo nghĩa phương Tây, ảnh hưởng đến các quy định cho đến ngày nay) thường được hỏi ý kiến về việc ai nên trả tiền bồi thường trong các vụ giết người không rõ kẻ thủ ác.

CÂU HỎI: Khi bốn ngôi làng gây chiến với nhau và một người bị giết bởi một cây gậy do một người khác cầm mà không xác định được người ấy, thì ai là người trả tiền bồi thường?

TRẢ LỜI: Người của ngôi làng gần nhất.

CẦU HỎI: Nếu một người bị giết gần một thị trấn mà không tìm ra được kẻ sát nhân, ai là người phải trả tiền bồi thường? Toàn bộ thị trấn hay chỉ những người mà nhà của họ đủ gần để nghe thấy tiếng kêu gào của người sắp chết?

TRẢ LỜI: Những ai sống đủ gần để nghe thấy tiếng kêu gào của người sắp chết.

CÂU HỎI: Nếu một cái xác được tìm thấy trong một cơ sở tôn giáo vào một thời điểm mà những người thuê nhà ban đêm không ở trong nhà xưởng mà đang ở tại khu mình cư trú, và không tìm ra kẻ sát nhân, ai chịu trách nhiệm trả tiền bồi thường?

TRẢ LỜI: Những ai sống gần nhà xưởng đủ để nghe thấy tiếng kêu gào của người sắp chết. Nếu không có ai sống gần đó, thì Ngân khố - hay nói cách khác, nhà nước - chịu trách nhiệm.

Từ những ví dụ này ta có thể thấy bộ luật hình sự Ottoman đặc biệt quan tâm đến những vụ giết người không rõ kẻ thủ ác, và nhà nước biết rằng mình phải chịu trách nhiệm cho những tội phạm đó - nói cách khác, trả tiền bồi thường cho thân quyến - nếu không thể quy nó cho những công dân cụ thể. Nếu một trong những người này không muốn chịu trách nhiệm, anh ta buộc phải tự mình giải quyết vụ giết người. Điều này là để đưa ra khả năng rằng chúng ta có thể phải chịu trách nhiệm cho mọi vụ giết người xảy ra quanh mình - hoàn toàn trái ngược với những gì ta thấy ngày nay. Thời đó, để tránh chịu trách nhiệm cho một vụ giết người, người ta phải cởi mở và cảnh giác trước mọi âm thanh và cử động quanh mình, đến mức hoang tưởng. Bởi vì mọi người đều biết rằng mình có thể buộc phải chịu trách nhiệm cho mọi vụ giết người xảy ra trong khu của mình, nên chẳng khó dự đoán rằng một người bình thường sẽ hăng hái truy tìm những kẻ tội phạm và sát nhân như thế nào. Theo quan sát của cá nhân tôi, ý thức trách nhiệm này và sự âu lo mà nó khơi gợi ra vẫn còn là quy phạm ở Istanbul, thậm chí với dân số mười triệu hiện thời. Có lẽ bạn có thể xem điều này như dư âm từ những lo lắng xưa về tiền bồi thường cho thân quyến, nhưng viễn tượng đạo đức mà nó đề xuất - một thế giới ở đó mọi người xem mọi người khác chịu trách nhiệm cho mọi thứ - là điều mà Dostoyevsky hẳn sẽ tán thành nhiệt liệt.

Nhưng chúng ta đừng cố làm ai lầm tưởng: Istanbul ngày nay - Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay - là nơi dẫn đầu thế giới về các vụ giết người không rõ kẻ thủ ác do nhà nước bảo trợ, chưa kể tới sự tra tấn có hệ thống, những cản trở quyền tự do ngôn luận và sự vi phạm nhân quyền tàn nhẫn. Tuy nhiên, trái với Nigeria, Triều Tiên, và Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ còn có một nền dân chủ đủ mạnh để cho phép cử tri buộc nhà nước hạn chế những hành vi đó. Do vậy rất dễ ngầm hiểu ra rằng hầu hết những người có quyền bầu cử ít quan tâm tới nhân quyền đến mức đáng kinh ngạc. Khó mà giải thích tại sao, sau bốn trăm năm phải chịu trách nhiệm chỉ vì có mặt trong vùng lân cận, và lo sợ vì phải trả giá với tư cách người giữ nhà cho hàng xóm, bây giờ họ lại hầu như không quan tâm khi nhà nước cấm sách và đánh đập tra tấn hàng xóm trong tòa nhà kế bên.

Tôi chỉ muốn cảnh báo các bạn về tình hình này. Tôi không đặc biệt quan tâm đến việc khai thác hay lý giải nó. Điều này có thể bởi vì tôi không muốn lý giải một khiếm khuyết văn hóa tách biệt với các khiếm khuyết khác. Trong mọi đề tài như vậy có cái gì đó giết đi người thi sĩ bên trong chúng ta. Đôi khi sự im lặng dường như gọi lên rằng, như Beckett có lần nói, “Không có gì để nói,” và những lúc khác là “có quá nhiều điều để nói.”

Chính vào những thời điểm như thế này mà tôi quá sức thấu hiểu tại sao Turgenev muốn quên đi mọi thứ liên quan tới nước Nga, tại sao ông đến Baden Baden sống một cuộc đời hoàn toàn cách biệt với nước Nga, tại sao ông mắng mỏ bất kỳ ai định thảo luận các vấn đề của nước Nga với ông (như trong câu chuyện nổi tiếng ấy), bảo những người ấy ông chẳng quan tâm đến nước Nga chút nào và muốn loại bỏ nơi ấy vĩnh viễn ra khỏi tâm trí mình thì hơn. Điều này bất chấp thực tế là có nhiều lúc tôi nghĩ rằng điều tốt nhất để làm sẽ là ở lại Thổ Nhĩ Kỳ, khóa mình trong phòng, và du hành vào miền tưởng tượng của tôi với ý định mờ mịt về viết một cuốn sách. Thực tế, tôi đã làm y như thế trong khoảng từ năm 1975 cho đến năm 1982, khi giết chóc và bạo lực chính trị, trấn áp của nhà nước, tra tấn và cấm đoán lên đến đỉnh điểm. Tự nhốt mình trong phòng để viết một lịch sử mới - một câu chuyện với những dụ ngôn, những chuyện khó hiểu, những im lặng, và những âm thanh chưa bao giờ nghe - dĩ nhiên tốt hơn là viết một lịch sử khác về những khiếm khuyết nhằm giải thích những khiếm khuyết của chúng ta thông qua các khiếm khuyết khác. Để dấn bước trên một hành trình như vậy không cần thiết phải biết đích xác bạn đi đâu; chỉ cần biết bạn không muốn ở đâu là đã đủ rồi.

Chúng ta hãy cứ ngồi trong căn phòng khóa đó mà tôi mới đề cập, để nhìn cái cách tôi làm việc với dụ ngôn và chuyện khó hiểu. Có một cuốn tiểu thuyết được dịch ra tiếng Thổ là Bí mật căn phòng màu vàng của tác giả người Pháp Gaston Leroux được biết đến nhiều nhất trong những năm gần đây với cuốn Bóng ma trong nhà hát. Cuốn Bí mật được những người ưa thích tiểu thuyết trinh thám ca tụng như ví dụ đầu tiên và xuất sắc nhất về “vụ giết người trong một căn phòng khóa”. Căn phòng nơi vụ giết người xảy ra bị khóa, và bên trong là một xác người cùng một số kẻ tình nghi nhất định. Sau vụ giết người, một ai đó có khiếu giải quyết các câu đố xem xét các manh mối và, sau khi xác nhận các tình tiết thực tế, xác định nguyên nhân của vụ giết người. Bảy mươi năm sau khi Gaston Leroux viết Bí mật căn phòng màu vàng, tác giả Tây Ban Nha Vazquez Montalbán viết một cuốn sách nhan đề Vụ giết người trong ủy ban trung ương, chứng tỏ rằng các khả năng có thể xảy ra trong một vụ giết người trong một căn phòng khóa là không dễ dàng cạn kiệt; căn phòng khóa trong cuốn tiểu thuyết trinh thám chính trị này là một căn phòng hội nghị cho một đảng phái mô phỏng Đảng Cộng sản Tây Ban Nha, và khi đèn tắt thì vị tổng bí thư bị giết. Cho dù diễn ra dưới hình thức nào, vụ giết người trong một căn phòng khóa đưa ra một hiểu biết rõ ràng về tội phạm, pháp luật và sự trừng phạt. Sau vụ giết người, một điều tra viên bên ngoài, thường là nhân viên nhà nước, đến để thẩm vấn từng đối tượng tình nghi một. Những cuộc thẩm vấn này khẳng định chúng ta chịu trách nhiệm hoàn toàn trước cơ quan thẩm quyền trung ương cho những tội ác mà ta đã phạm. Căn phòng khóa là cách tốt nhất để chuyển tải ý tưởng rằng ta không chịu trách nhiệm mà cũng không có tội với tư cách một nhóm, một khu dân cư, hay một xã hội. Hoặc ta có tội với tư cách là những cá nhân hoặc ta hoàn toàn không có tội. Thế giới mà trong đó ta chỉ chịu trách nhiệm trước nhà nước vì các tội phạm của mình là cả một con đường dài từ cái vũ trụ đạo đức mà Dostoyevsky từng mơ ước.

Tôi đề cập đến căn phòng khóa bởi vì tôi muốn giải thích tại sao, khi còn thiếu ngay cả những nguyên tắc cơ bản ngõ hầu giúp chúng tôi hiểu lịch sử của mình, chúng tôi chỉ có thể kết nối với nó thông qua phúng dụ. Cái chúng tôi cần là một biến thể mới của câu chuyện giết người trong một căn phòng khóa, mà tôi chỉ đưa ra làm ví dụ. Trong phiên bản phục chế, trách nhiệm về vụ giết người (vì đây là phúng dụ, chúng ta có thể nhắc đến nó một cách đơn giản là Tội Ác) sẽ tấn công người chủ của căn phòng trong đó vụ giết người được thực hiện, cùng với tất cả những ai sống ở đó và những ai sống đủ gần để nghe tiếng kêu gào của người sắp chết. Từ lúc ta chấp nhận điều này - ở một thời điểm sớm trong câu chuyện - chúng ta sẽ tiếp tục như thể chúng ta chơi cờ vua theo những luật lệ mới, và chúng ta sẽ có khả năng nhìn thấy trước kẻ sát nhân hay kẻ tội phạm sẽ hành xử như thế nào một khi y biết về hệ thống của chúng ta. Rõ ràng, để khỏi bị tìm ra, để tránh trở thành người duy nhất chịu trách nhiệm, kẻ giết người phải hành xử dựa vào giả định rằng mọi người trong vùng lân cận phải chịu trách nhiệm.

Điều này có thể mang chúng ta đến với lý thuyết của Çetin Altan, rằng trách nhiệm đối với tội ác nằm trong bản thân văn hóa. Nhưng nếu thay vào đó chúng ta bắt đầu với các dụ ngôn, những sự khó hiểu, và các giọng nói mới yếu ớt mà chúng ra không rành cách sử dụng lắm, ít nhất chúng ta có thể tự cứu mình khỏi phải viết thêm lịch sử của các khiếm khuyết và những khác biệt dẫn chúng ta đến chỗ thất bại. Trong thời trẻ của tôi, khi tôi tò mò muốn hiểu biết mọi sự, và say đắm đọc những nhà báo như Çetin Altan, tôi có ý nghĩ rằng một ngày nào đó mình có thể trở thành nhà văn. Nhưng không như nhiều người khác có những giấc mơ tương tự, tôi không nghĩ về việc tôi có thể viết về cái gì; thay vào đó tôi nghĩ về việc tôi sẽ theo lập trường nào. Hình ảnh của tôi về nhà văn ít dựa vào các nhà hiện đại chủ nghĩa, những người sử dụng viết như một loại phương tiện bảo vệ, mà dựa nhiều hơn vào các nhà văn của thời khai sáng, những người mong muốn hiểu biết mọi sự, chỉ cho độc giả mọi sự. Bây giờ tôi biết cả hai cách tiếp cận này đều thiếu sót và phái sinh quá mức. Trong một xã hội đầy rẫy quỷ sứ, con quỷ của chủ nghĩa hiện đại chưa đủ mức tinh khôn. Để nói chuyện với quỷ sứ, các nhà văn của thời khai sáng quá thường xuyên dung chứa sức mạnh và thẩm quyền của nhà nước. Có lẽ tôi giống như hầu hết các nhà văn khác: Bởi vì không thể xử lý các khái niệm, tôi trông cậy vào các phúng dụ để kể chuyện. Nhưng tôi không phàn nàn, và tôi nghĩ mình may mắn, bởi vì ở nước tôi phúng dụ thế chỗ của triết học và người ta tin các câu chuyện hơn là tin vào lý thuyết.

❀ ❀ ❀

[1] G. K. Chesterton (1874-1936): nhà văn, nhà hoạt động nghệ thuật đa lĩnh vực người Anh, tác giả series truyện trinh thám với nhân vật cha Brown.

ors: Essays and A Story ebook©MotSAch Nhã Nam & NXB Văn Học tve-4u©vctvegroup | 07-04-2021
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.