Những góc nhìn từ thủ đô của thế giới

Những Màu Khác

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 138 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Những Góc Nhìn Từ Thủ Đô Của Thế Giới

❊ ❊ ❊

New York, 1986

Một người bạn đi xe hơi đến đón tôi ở sân bay Kennedy. Trên đường tới Brooklyn, chúng tôi bị lạc trên xa lộ: qua những khu dân cư nghèo, nhà kho, tòa nhà bằng gạch, trạm xăng đổ nát, những chung cư vô hồn… Thực tế tôi có thể nhìn thấy đường chân trời của Manhattan thỉnh thoảng nhô lên đằng sau, nhưng đây không phải là New York trong những giấc mơ của tôi. Vì thế tôi đi đến kết luận dễ dàng rằng Brooklyn không phải là New York. Tôi để hành lý lại trong căn hộ Brooklyn gạch nâu của bạn tôi, chúng tôi cùng uống trà, châm thuốc hút. Trong lúc đi loanh quanh căn hộ, tôi vẫn cứ nghĩ rằng đây chưa phải là New York: Cái thành phố thực, cái nơi cần tới - giấc mơ - ở ngay đằng kia, bên kia sông.

Một giờ sau, vầng dương vốn làm ngày dường như dài lê thê bắt đầu lặn. Chúng tôi băng qua cầu Brooklyn sang Manhattan. Các thành phố rốt cuộc đều trông na ná nhau, nhưng nếu có thành phố nào mà ngay cả cái viền tối cũng không thể lẫn vào đâu được, thì đó là New York mà tôi đang nhìn thấy. Ở Istanbul tôi vừa viết xong một cuốn tiểu thuyết mới, và công việc lại bắt đầu chất đống; tôi mệt rã; tới giờ tôi đã thức bốn mươi tiếng đồng hồ, nhưng mắt tôi vẫn chong chong. Cứ như thể tôi tin rằng, đâu đó giữa những cái bóng của những viền tối khổng lồ đó, tôi có thể tìm thấy chìa khóa không chỉ cho tất cả mọi thứ trên bề mặt trái đất này mà còn cho cả bản gốc của những giấc mơ tôi trong suốt những năm tháng ấy. Có lẽ mọi thành phố lớn đều khuấy lên thứ ảo tưởng này.

Khi chúng tôi lái xe dọc theo các đại lộ và đường phố Manhattan, tôi cố gắng so sánh những gì đang thấy với hình ảnh trong đầu. Thu hút ánh mắt tôi là cái gì đó phía sau những đường phố đông đúc, phía sau những vỉa hè mà ở đó mọi người dường như di chuyển thật chậm rãi, giống như trong một giấc mơ yên bình, phía sau những ánh đèn của một buổi tối bình thường. Vừa lúc bạn tôi chán việc lái xe lượn lên lượn xuống các nẻo phố, tồi chợt nhận ra: Mắt tôi không thể ngừng tìm kiếm, bởi vì chúng không tìm thấy điều bí mật ở phía sau những cảnh tượng này, sự thật mà mọi kẻ mơ mộng luôn hy vọng là một ngày nào đó sẽ được tiết lộ với họ. Tôi xác định rằng mình phải khiêm tốn: Tôi chỉ có thể lấy được bí mật từ khung cảnh đường phố này - những vỉa hè bình thường, những cửa hàng nho nhỏ trong khu phố, ánh lấp lánh quen thuộc của đèn đường - bằng sự dũng cảm và nhẫn nại. Nếu cái sự thật vĩ đại tôi đã thoáng thấy trong những giấc mơ của mình thực sự tồn tại, tôi sẽ không tìm thấy nó giữa bóng những tòa nhà chọc trời mà trong những quan sát nho nhỏ hiện tôi đang kiên trì góp nhặt.

Tôi dành một vài giờ đồng hồ kế tiếp cảm nhận khung cảnh xung quanh mình theo cách này. Tôi để ý màu sắc của các ống xăng và con số trên các cột bơm xăng; tôi nhìn theo những cậu bé da đen chạy vội qua dòng xe cộ với những miếng giẻ bẩn thỉu để “lau” cửa sổ những chiếc xe hơi dừng lại trong dòng xe cộ; nhìn những người đàn ông mặc quần soóc và đi giày chạy bộ và ánh kim loại của những trạm điện thoại công cộng màu xanh nhạt; nhìn những bức tường, gạch, những tấm kính, cây cối, những chú chó, những chiếc taxi màu vàng, những cửa hàng bán đồ đặc sản… Như thể tôi đang nhìn một phong cảnh thanh lịch trọn vẹn thành hình trên trái đất này, với những ống cứu hỏa, thùng rác, tường gạch và lon bia cứ kiên trì lặp đi lặp lại. Mỗi đường phố, mỗi khu phố - thậm chí cả nơi chúng tôi ngồi uống bia hay cà phê - dường như đều phục vụ cho cùng một giấc mơ hạnh phúc.

Tôi cảm nhận không khác là bao về con người ở đây. Cậu thiếu niên mặc chiếc áo khoác bằng da màu đen đầu cạo nham nhở với một đuôi sam nhỏ màu tím ở trên đỉnh, cô gái với một phụ nữ béo dị thường, người đàn ông mặc com lê chạy ào qua tôi rất nhanh, những người đàn ông da đen đi ngang qua tôi mang theo những chiếc đài bán dẫn khổng lồ, những phụ nữ chân dài, khuôn mặt trắng trẻo đeo tai nghe chạy cùng với chó có ý thức về mục đích giống nhau - tất cả những con người đó lướt qua chúng tôi trên vỉa hè.

Tối muộn, sau khi vợ người bạn tôi đã xong việc và nhập hội cùng bọn tôi, chúng tôi ra ngồi giữa những bàn đông đúc ở một cửa hàng bánh ngọt được mở rộng thành một quán cà phê vỉa hè. Họ hỏi tôi đôi điều về Thổ Nhĩ Kỳ và tôi lẩm bẩm đáp lại; họ hỏi thêm và tôi trả lời. Theo cách này tôi cố thuyết phục mình rằng tôi đã hòa vào cuộc sống của một thành phố, giờ không còn là chuyện hư cấu tạo nên bởi những vang vọng ma quái của những âm thanh và chuyển động của một đêm hè, mà là một nơi chốn tách biệt, một thế giới thực được lấp đầy liên tục bằng những con người thực. Sau đó tôi quan sát những đường phố mà hình ảnh và ánh sáng tôi dần biết quá rõ khi chúng biến chuyển chầm chậm từ những cảnh tượng trong mơ thành những con đường rải nhựa có thực. Ai có thể nói được thế giới nào mới là New York thực?

Vẫn có một vài hình ảnh như mơ mà tôi sẽ không bao giờ quên. Mặt chiếc bàn trên vỉa hè kia làm bằng formica trắng. Chễm chệ trên đó là một chai bia màu xanh nhạt và những tách cà phê màu kem. Quang cảnh đám đông trên vỉa hè bị chắn bởi tấm lưng bè bè của một phụ nữ mặc áo len xanh lá cây ở bàn phía trước chúng tôi. Ánh sáng màu cam nhạt hắt ra từ cửa sổ của những ngôi nhà bằng đá khi mặt tiền nhà lùi vào bóng đêm, chuyển sang màu tím. Vì con phố hẹp, ngọn đèn đường ở phía bên kia bị tán lá của một cái cây bên vỉa hè chúng tôi che khuất: Cứ một lát tôi lại thấy ánh sáng trắng của ngọn đèn đó nhảy nhót trên những chiếc ô tô to đùng câm lặng đỗ dọc lề đường kia.

Rất khuya đêm hôm đó, sau khi các bàn trên vỉa hè đã hết khách và cửa hàng bánh ngọt chuẩn bị đóng cửa, anh bạn tôi ngáp rồi hỏi tôi là tôi đã chỉnh đồng hồ theo giờ New York chưa. Tôi nói với anh chiếc đồng hồ tôi đeo suốt mười lăm năm qua đã bị hỏng trong chuyến bay; tháo đồng hồ khỏi cổ tay, tôi chỉ cho anh xem, và tôi không bao giờ đeo lại chiếc đồng hồ ấy nữa.

Cảnh sát xem chương trình ti vi về cảnh sát

“Các cậu nhìn đồng hồ mới của tớ này,” một trong mấy người cảnh sát nói.

Anh ta duỗi tay ra. Có ba người chúng tôi ngồi ở băng sau. Tôi ngồi cạnh cửa sổ bên phải, và cạnh tôi có hai cảnh sát nữa.

“Cậu mua nó ở đâu?” người ngồi cạnh tôi hỏi.

“Của một gã trên vỉa hè. Tám đô,” người cảnh sát ở ghế trước nói.

“Mai là nó ngỏm!” người kia nói.

“Tớ mua được hai ngày rồi.”

Chúng tôi đang lái xe về hướng Nam dọc theo sông Hudson trên Xa lộ phía Tây, và đích đến của chúng tôi sáng nay là tòa án. Cách đây một tháng tôi bị trấn lột. Mấy gã thanh niên da đen trấn lột tôi lóng ngóng thế nào nên bị tóm và tôi đã phải nhận diện chúng, và giờ bọn chúng đã nhận hết tội, tôi lại bị gọi đến làm chứng trong phiên xử. Hôm trước khi công tố viên gọi điện cho tôi, bà nhận thấy là tôi chẳng hào hứng lắm với việc làm chứng, và - có lẽ ngờ rằng tôi sẽ chuồn - bà bảo tôi rằng buổi sáng xe cảnh sát sẽ đưa tôi tới tòa. Hai người cảnh sát tóc vàng ngồi cạnh tôi cũng sẽ làm chứng. Họ đã tóm được hai gã trấn lột lóng ngóng lúc chúng đứng rình nạn nhân tiếp theo ở cách chỗ đã trấn lột tôi khoảng hai dãy nhà.

Khi chúng tôi hòa vào dòng xe cộ của thành phố, mấy người cảnh sát bắt đầu bàn luận về một chương trình ti vi. Từ những gì họ nói, tôi đoán rằng những nhân vật trong chương trình ti vi đó cũng thuộc Sở Cảnh sát New York, cũng lái loanh quanh trên những chiếc xe xanh trắng giống chiếc chúng tôi đang ngồi, chiến đấu với bọn xã hội đen và bọn buôn ma túy tương tự và cũng bị kiệt sức tương tự. Tôi chợt nhớ về những cô gái tỉnh lẻ và những bà nội trợ mơ mộng bất hạnh thế kỷ mười chín cũng đã từng đặt mình vào vị trí các nhân vật nữ trong những tiểu thuyết họ đã đọc, vì những người cảnh sát này đã đặt mình vào vị trí các nhân vật của chương trình ti vi này và hiện giờ đang bàn luận về chương trình này cứ như thể nó diễn tả cuộc sống của chính họ. Dù vậy, họ dùng một thứ ngôn ngữ khác; hầu hết những từ chửi bậy của họ tôi nghe lần đầu tiên.

Sau khi băng qua khu phố Hoa, chúng tôi tới tòa án, ở đây chúng tôi lại bắt đầu một hành trình lê thê đi lên trong thang máy. Rồi họ đưa tôi tới văn phòng của công tố viên. Bà chẳng giống hình ảnh của tôi về một công tố viên; trông bà giống một người bạn học cũ dịu dàng, dễ thương hơn. Sau khi thông báo rất nhanh cho tôi một vài điều, bà nói, “Tôi sẽ quay lại ngay,” và lao ra khỏi phòng.

Bàn làm việc của bà đầy giấy tờ, và để giết thời gian tôi nghĩ tôi có thể ngó qua: Đây là những lời thú tội của mấy thằng bé trấn lột tôi. Tôi đã biết súng chúng sử dụng để dọa tôi không phải là súng thật. Mặc dù vậy tôi vẫn bực mình với bọn chúng. Bọn chúng gọi tôi là một “gã da trắng”. Chúng đã dùng hai mươi đô la trấn được của tôi mua cô ca in. Chợt nhận ra là có lẽ mình không nên đọc những tài liệu ấy, tôi đặt chúng lại trên bàn, và thay vào đó tôi lật qua một cuốn sách dày nằm bên cạnh: sổ tay thẩm vấn của công tố viên. Tôi đọc về việc tại sao công tố viên không thể buộc tội luật sư bào chữa dù anh ta đồng lõa với kẻ sát nhân bằng việc từ chối tiết lộ nơi chôn xác nạn nhân. Bà công tố viên đã quay lại.

“Có vẻ như anh không muốn làm nhân chứng,” bà nói. Chúng tôi đã ra khỏi văn phòng của bà và đi dọc theo hành lang.

“Tôi thấy tội nghiệp cho mấy thằng bé,” tôi nói.

“Mấy thằng bé nào?”

“Mấy đứa trấn lột tôi. Chúng sẽ bị kết án bao nhiêu năm?”

“Nhưng chúng đã trấn của anh hai mươi đô la,” bà nói. “Anh có biết chúng tiêu tiền của anh như thế nào không?

Chúng tôi đi xuống bằng thang máy; phòng xử án nằm trong tòa nhà chọc trời bên kia đường. Bà công tố viên ôm giấy tờ sát ngực, như kiểu một sinh viên đại học, chào những công tố viên khác khi đi ngang qua họ và thân ái kể cho tôi nghe một vài điều về bà: Bà quê ở Nevada và bà học chuyên ngành sinh học biển ở Arkansas, mãi sau này bà mới khám phá ra nghề nghiệp mà bà thực sự muốn theo đuổi.

“Nghề nào?” tôi hỏi.

“Luật,” bà nói, uốn miệng khi phát âm từ đó.

Chúng tôi bắt đầu một hành trình khác trong thang máy. Chẳng ai nói gì, tất cả dán mắt vào những con số chóp sáng theo thứ tự ở phía trên cánh cửa. Khi chúng tôi đi ra, bà công tố viên dừng lại gần một băng ghế dọc hành lang.

“Anh chờ ở đây. Khi thẩm phán gọi anh, anh cứ kể y bon những gì anh đã kể cho tôi nghe trong lần cuối gặp tôi,” cô nói.

“Đây sẽ là lần cuối, tôi hy vọng thế!” tôi nói.

Bà bỏ đi. Tôi không được phép vào bên trong phòng xử, vì vậy tôi ngồi xuống băng ghế và chờ. Một lúc sau, mấy người cảnh sát chở tôi tới đến ngồi cùng với tôi, nhưng không lâu sau họ đứng dậy. Tò mò, tôi bước lại hỏi họ xem chuyên gì đang xảy ra.

“Các nghi phạm đã tới, nhưng thang máy bị hỏng,” một viên cảnh sát trả lời tôi.

“Tôi thắc mắc tại sao chúng lại thú nhận hết mọi chuyện,” tôi nói.

“Bởi vì chúng tôi đối xử quá tốt với chúng, thế thôi,” người cảnh sát có bộ ria mỏng nói.

“Nhưng điều đó không giải thích được tại sao chúng nhận tất cả những tội còn lại,” tôi nói. “Chẳng phải điều này sẽ làm án chúng nặng hơn sao? Chúng sẽ bị bao nhiêu năm?”

“Bốn năm cho mỗi tội cướp giật, cả thảy hai mươi tám năm.”

“Chẳng lẽ người ta không thể biện hộ cho mình hay sao?”

“Này, thưa ngài,” người cảnh sát có cái đồng hồ đeo tay mới nói, trông anh ta bắt đầu bực mình. “Chúng tôi không chạm đến sợi tóc nào trên đầu chúng. Đêm đó tôi đói meo, còn chúng được ăn. Ngài hiểu chứ?”

“Tôi bảo chúng rằng nếu chúng nhận hết mọi tội,” người cảnh sát kia cố giải thích, “thì tôi sẽ nói với thẩm phán rằng chúng không phải kẻ xấu và thẩm phán sẽ kêu án nhẹ hơn. Chúng nghĩ là tôi quen thẩm phán từ hồi học cấp ba.”

Cả hai phá ra cười.

Người cảnh sát có cái đồng hồ đeo tay mới chỉ tay xuôi theo hành lang. “Kia là tay sẽ làm chứng. Anh ta biết cách gây ấn tượng tốt đấy chứ.”

“Tôi là bạn họ,” người cảnh sát có ria nói.

Họ lại cười phá. Tôi trở lại ghế của mình. Những người cảnh sát được triệu vào bên trong phòng xử. Lại một quãng thời gian chờ đợi rất lâu; một bên băng ghế bị nắng rọi trực tiếp, khiến tôi bắt đầu đổ mồ hôi. Tôi đứng dậy, bắt đầu đi lên đi xuống hành lang dài, vắng lặng. Rồi tôi dừng lại ngắm đường chân trời của New York. Cứ như thể là mọi vật - những tòa nhà chọc trời, những biển hiệu quảng cáo - sắp vỡ vụn trước mắt tôi vậy. Lại một quãng thời gian nữa trôi qua, và cuối cùng bà công tố viên xuất hiện.

“Vậy là anh vẫn còn ở đây với chúng tôi, phải không? Thang máy bị hỏng, các nghi phạm đang đi lên bằng cầu thang bộ. Chúng tôi vẫn đang đợi chúng.”

Một lúc sau, mấy người cảnh sát quay lại. Họ nói chuyện với nhau. Tôi không thể không nghe họ nói. Một người bạn của họ đã chứng kiến một vụ xảy ra trước nhà đúng vào ngày nghỉ của mình, và tên nghi phạm đào tẩu đã bắn anh ta bị thương. Bởi vì kẻ nghi phạm đã tẩu thoát này cũng biết địa chỉ của anh, người cảnh sát đang nghỉ phép này bắt đầu nhận được những cú điện thoại đe dọa, đến lúc đó anh ta phải chuyển sang khu phố khác. Mấy viên cảnh sát đang cười đùa nói chuyện gì đấy khi đi ngang tôi để vào phòng xử án. Sau đó một lúc lâu chẳng có ai ra. Tôi ngồi trong dãy hành lang vắng lặng, nghĩ họ đã quên mất tôi. Đèn trên trần nhà và những chiếc ghế cùng băng ghế trống trong hành lang phản chiếu trên sàn nhà cẩm thạch bóng loáng. Tôi đổ mổ hôi nhiều hơn. Một lúc sau, bà công tố viên lại đi ra.

“Chúng đã tới tòa án, nhưng chúng tôi không sao tìm thấy chúng,” bà nói.

“Chẳng phải chúng đang lên bằng thang bộ sao?”

“Chúng tôi vẫn đang chờ.”

Bà lại bỏ đi. Tôi ngắm đôi giày cao gót của bà đi ngang qua sàn nhà cẩm thạch. Có cái gì đó trong dáng đi của bà khiến tôi nghĩ đến cách một người chỉ cần dùng mấy ngón tay là có thể gọi ra hình ảnh dáng người đang đi. Bà biến mất sau cánh cửa phòng xử án. Giờ tôi chẳng còn muốn kiểm tra đồng hồ đeo tay của mình nữa, và tôi không biết đã bao lâu tôi ngồi không chẳng làm gì ngoài đổ mồ hôi trên băng ghế. Tôi cứ tự hỏi không biết cái đồng hồ đeo tay mới của anh cảnh sát đã chết máy chưa; và khi tôi đứng lên nhìn đường chân trời Manhattan một lần nữa, nó dường như đang phụt ra hơi nước; tôi nhìn chăm chăm vào những đám mây, cố nắm bắt ý nghĩa nào đó của chúng. Rất, rất lâu sau, bà công tố viên lại xuất hiện.

“Mấy tên nghi phạm bị lạc đâu đó trong tòa nhà. Chúng tôi không thể tìm thấy chúng, vì vậy thẩm phán đã hoãn phiên tòa. Giờ anh có thể ra về.”

Khi đã ra tới phố sau một hành trình dài nữa trong thang máy, tôi muốn đi rửa mặt. Tôi vào một nhà hàng thì một anh bồi bàn bảo, “Toa lét chỉ dành cho khách. Ông phải ngồi vào bàn gọi đồ ăn.”

“Cho tôi một bánh hamburger,” tôi nói, chẳng buồn ngồi xuống.

“Chỉ một bánh hamburger thôi sao?”

“Đúng vậy.”

Tôi vào toa lét rửa mặt.

Bánh ngọt vô vị và quang cảnh tuyệt đẹp

Khi tôi bảo họ rằng những chiếc bánh mì quế mua ở tiệm bánh chẳng có vị gì, họ cười phá lên. Đó là một chiều Thứ bảy mưa u ám, chúng tôi đang uống trà và bàn xem có nên đi dự buổi tiệc khoa của sinh viên ở Đại học Columbia không. Họ giải thích với tôi rằng cái mùi quế hấp dẫn khiến bạn lên cơn thèm bánh mì quế ngay khi bạn đặt chân vào tiệm thực ra là mùi hương nhân tạo người ta xịt trong cửa hàng. Bị mùi thơm đó lừa, khách hàng thèm được sờ vào những chiếc bánh này, dù trên thực tế tiệm bánh thậm chí không có lấy một lò nướng bánh ở đằng sau nữa. Bạn có thể muốn gọi chuyện này là “ảo ảnh đánh mất”, như người ta từng nói, hoặc, một cách sỗ sàng và gợi tả hơn, sự thiếu vắng hương vị. Nhưng bạn cũng có thể nói rằng điều này biến tiệm bánh thành một nơi lừa gạt.

Khi chưa quen với thành phố lắm, bạn sẽ dành phần lớn thời gian trong ngày băn khoăn về những hương vị thiếu vắng này; vì chúng ta đều biết một bức tường gạch thực sự trông như thế nào và được xây dựng như thế nào, một bức tường bê tông được dựng lên cho giống một bức tường gạch là một trò lừa gạt không gây tổn thương đến hầu hết chúng ta. Nhưng thế nào đây khi bạn thấy họ bắt đầu dựng lên những tòa nhà khổng lồ mô phỏng những thứ khác với bản chất những tòa nhà ấy? Những khối kết cấu hậu hiện đại hợm hĩnh đang mọc lên khắp New York là sản phẩm của những kiến trúc sư chỉ làm đúng mỗi việc này. Những kiến trúc sư này làm hết sức để tô đậm thực tế rằng những tòa nhà này chỉ là những thứ mô phỏng: Với những mặt tiền bằng kính khổng lồ, những chỗ xoắn và cong gần như kiểu Trung cổ, chúng cứ làm tôi băn khoăn không biết phải chăng chúng chẳng thể hiện niềm khát khao muốn thực sự là bất cứ cái gì đó. Hay chúng chỉ muốn lừa gạt chúng ta, khoác lên cái vẻ của cái thứ thực ra không phải là chúng? Nhưng, liệu một trò lừa gạt rành rành như thế thì có còn là trò lừa gạt không?

Cũng lạ lùng như thế, các quảng cáo, khẩu hiệu trên radio, bảng quảng cáo, và những người mẫu xinh đẹp trên ti vi sẽ lừa gạt bạn một cách công khai. Bạn thừa biết cái khúc màu đỏ trên cây kem bạn ăn được tạo màu nhân tạo chứ không phải là dâu tây, bạn thừa biết là chẳng nhà văn nào tin vào phần giới thiệu ở bìa sau cuốn sách của họ, bạn thừa biết là nữ diễn viên nổi tiếng được công chúng ngắm nhìn suốt bốn mươi năm nay không còn quá trẻ như gương mặt căng mọng của cô, và bạn thừa biết là người khác đã viết các bài diễn văn cho Ronald Reagan. Nhưng tôi không có hề có ấn tượng là nhiều người phật lòng vì những chuyện ấy. Những công dân mệt mỏi tản bộ trên đại lộ số Năm có lẽ sẽ giải thích chuyện này như sau, “Tôi việc gì phải lo lắng nếu bông hoa vui mắt kia thực ra làm bằng nhựa? Trông nó thật thích mắt, nó làm tim tôi rộn rã, và đó mới là điều quan trọng với tôi.”

Một người vừa mới tới New York sẽ nghiệm ra nhiều hơn từ tất cả những chuyện này. Nếu mọi người ở đây đều giống những chiếc bánh mì quế thì sao; nếu họ không thật lòng đằng sau những nụ cười nhiệt tình và những câu hỏi nho nhỏ thân thiện thì sao; nếu họ đều đang cố lừa gạt mình thì sao? Trong một trong những hành trình lê thê trong thang máy, nếu một người bỗng nhiên hỏi rằng tôi có khỏe không, phải chăng vì thực sự anh ta muốn biết? Sau khi kiểm tra việc đặt vé của tôi, cô nhân viên ở đại lý du lịch có thực lòng quan tâm đến những chi tiết trong kế hoạch đi lại của tôi, hay chỉ đơn giản cô ấy cảm thấy phải hành động cứ như thể cô ấy quan tâm lắm? Phải chăng người ta hỏi tôi nhưng câu hỏi ngớ ngẩn về Thổ Nhĩ Kỳ để cho có chuyện mà nói, chứ không phải thực sự vì muốn tìm hiểu? Tại sao họ luôn cười với tôi, họ luôn xin lỗi, và họ quan tâm nhiều đến thế?

Sau cái buổi chiều mưa chúng tôi ăn những ổ bánh mì quế không hương vị, các bạn tôi không kiên nhẫn lắm với các lý thuyết của tôi về sự vô vị. Chắc hẳn tôi đến từ một đất nước quá coi trọng sự khác biệt giữa Đúng và Sai, Thiện và Ác, Ngon Miệng và Vô Vị. Tôi đang chiêm nghiệm quá nhiều về những điều tôi hiểu lơ mơ; tôi dường như mong đợi những tổ chức vô danh, những hãng không tên tuổi, những thuyết minh trên ti vi, những quảng cáo tràn ngập đường phố phải nói năng chân thành với tôi như một người hàng xóm hay một người bạn. Và rồi chợt nhớ tới một người bạn chung nọ, tất cả chúng tôi cười phá lên độc địa.

Anh ta có bằng tiến sĩ, anh ta là chuyên gia trong lĩnh vực của mình, anh ta lảm nhảm, anh ta ngấu nghiến sách. Anh ta thường liếm môi như khỉ và ngấu nghiến tất cả những ý tưởng xã hội học, tâm lý học và triết học cập nhật nhất. Chúng tôi đều thừa nhận, tuy với một nụ cười nửa miệng, rằng anh ta còn giỏi hơn hầu hết các vị cục mịch buồn tẻ giảng dạy ở các trường đại học lân cận, duy chỉ anh ta không kiếm được việc làm. Rồi chúng tôi nhắc lại những gì vợ anh ta đã rầu rỉ nói: Hễ ai bảo anh ta rằng để kiếm được việc, anh ta phải gõ hết cửa này tới cửa khác, tự giới thiệu mình, và gửi thư xin việc, anh ta đáp, “Tôi không đi cầu cạnh họ; họ phải tìm đến tôi ấy chứ.” Cho đến giờ, hầu hết bạn bè đã từ bỏ nỗ lực làm thay đổi suy nghĩ của anh ta. Mấy anh bạn đây cũng nhanh chóng bỏ cuộc, rút vào sự im lặng đầy tôn trọng mà anh ta cảm kích.

Đến lúc này chúng tôi quay lại chủ đề bữa tiệc ở trường đại học. Tất cả chúng tôi đều biết rằng vào khoảnh khắc chúng tôi bước vào căn phòng sáng trưng đó, chúng tôi sẽ lại bị ngợp bởi sự thiếu vắng hương vị. Ở cổng vào, người giúp chúng tôi đi lách qua đám đông sẽ viết tên chúng tôi lên những tấm nhãn to và dán vào ve áo của chúng tôi. Căn phòng sẽ tràn ngập ánh đèn vàng như khoai tây chiên. Tôi đã có thể thấy những gương mặt tìm kiếm bất lực của những vị khách khác khi họ đứng đó tay nắm chặt đồ uống của mình. Giống như những sản phẩm trên kệ siêu thị chúng tôi sẽ để người ta giới thiệu mình, rồi chúng tôi sẽ tham gia những trò chuyện ngắn; chúng tôi sẽ tự quảng cáo mình bằng cách phô ra những đặc điểm nổi bật, sở thích, cách nói năng, sự thông tuệ, khiếu hài hước, khả năng vươn lên sau thất bại, cũng như những khái quát hóa và những thông tin chuyên sâu về văn hóa của chúng tôi. Giống y như dầu gội đầu làm từ trứng gà có thể phân biệt được với dầu gội đầu làm từ táo, chúng tôi bắt đầu chấp nhận vị trí được phân bổ trên cái kệ xã hội của New York.

Hai người bạn tôi (vốn là hai vợ chồng) nhăn mặt cứ như thể đồng ý với tôi. Nhưng trước đó chúng tôi đã cười cợt về chuyện các siêu thị ở đây hào nhoáng ra sao, với tất cả hàng hóa đa dạng của chúng. Hàng vạn nhãn hàng, màu sắc, bao bì, hình ảnh, con số khác nhau, tất cả chễm chệ trong những cửa hàng rộng rãi, thom lừng, đợi những ánh mắt thỏa thuê ngắm chúng.

Khi lướt mắt qua những bề mặt sặc sỡ ấy, bạn đâu dành nhiều thời gian lo lắng rằng chúng sắp sửa lừa gạt bạn; cứ như thể bạn đã quên mất sự phân biệt mang tính triết học cũ kỹ giữa hình thức bề ngoài và thực tế bên trong. Bạn đánh mất mình trước vẻ đẹp của thiên đường mua sắm này và bạn ngắm nhìn no cả mắt. Dần dần, bạn học được rằng nếu bánh mì quế khi mang về nhà ngửi mùi không giống với ở tiệm bánh thì cũng không thành vấn đề.

“Giờ em đang có hứng/’ vợ người bạn tôi nói. “Ít ra thì bọn mình đi chơi và gặp mọi người.”

Và thế là chúng tôi quyết định sẽ đi dự tiệc.

Người ta có thể ra khỏi cửa hàng hay một bữa tiệc tay không, nhưng ở New York chẳng có lý do gì mà không nhìn cho no mắt.

Một cuộc chạm trán trong tàu điện ngầm; hay, mất tích, được coi là chết

Tôi lao qua thanh chắn và chạy xuống cầu thang, nhưng không kịp. Cửa đã đóng. Các toa tàu điện ngầm đang tăng tốc chạy đi. Khi đó là quãng giờ chiều nên ít tàu chạy ngang qua hơn, vì vậy tôi ngồi xuống trên một băng ghế ở sân ga đợi chuyến tàu kế tiếp. Bên ngoài trời đang sáng và nóng ngột ngạt, vì vậy tôi rất sung sướng ngồi lên chiếc ghế trống mát mẻ này. Có một dải ánh sáng ấm và đầy bụi tràn xuống qua cái vỉ sắt từ vỉa hè Broadway ở phía trên. Nó có hình tam giác, giống như tia nắng trong một cái hang tiền sử; khi mọi người bước xuyên qua nó, trông họ giống những bóng ma. Tôi lắng nghe cặp vợ chồng ngồi bên trò chuyện một đỗi.

“Nhưng chúng còn nhỏ quá,” người phụ nữ nói.

“Thì đã sao,” người đàn ông vừa nói vừa đung đưa hai chân. “Đã đến lúc mình phải nghiêm khắc với chúng.”

“Dù sao chúng vẫn là trẻ nhỏ mà,” người phụ nữ nói, giọng nhỏ nhẹ.

Có lẽ vào lúc ấy lần đầu tiên tôi nhìn thấy khuôn mặt đó lướt ngang qua dải ánh sáng, nhưng tôi đã không để ý. Chỉ khi nhìn thấy cái bóng người căng thẳng của anh ta rảo bước suốt chiều dài sân ga, tôi mới nhận ra. Anh ta là bạn cùng lớp của tôi thời trung học; anh đã học ở một trường đại học ở Istanbul hai năm, dính líu chính trị chút ít, rồi bỗng nhiên biến mất. Mãi sau này chúng tôi mới phát hiện ra là anh đã đi Mỹ; người ta đồn đại rằng cha mẹ giàu có của anh đã bắt đầu lo lắng về những hoạt động chính trị của anh nên gửi anh ra nước ngoài, nhưng tôi biết cha mẹ anh không giàu có như thế. Rồi - tôi không nhớ ai đã nói - tôi nghe nói anh ta đã chết, trong một tai nạn xe hơi hay một vụ máy bay rơi, hay một cái gì đại loại như thế. Liếc mắt dõi theo anh ta, và không hào hứng lắm, tôi nhớ lại rằng một người quen của tôi ở New York đã bảo tôi anh ấy biết một người khác nữa cũng từ Istanbul đến; anh ấy đã nhắc một cái tên, và nói người này làm cho công ty điện lực. Chuyện đó xảy ra khá gần đây. Vì một lý do nào đấy, lúc đấy tôi đã không nhớ ra rằng trước , đó tôi đã nghe nói anh ta chết. Nếu có nhớ, tôi không nghĩ là tôi sẽ quá ngạc nhiên; tôi sẽ đơn giản nghĩ, giống như đang nghĩ bây giờ, là chỉ một trong hai tin đồn ấy có thể là sự thật.

Khi anh ta lại một góc để tựa vào một trong mấy cột thép khổng lồ chống giữ đại lộ to lớn ở bên trên chúng tôi, tôi đứng lên tiến lại gần anh.

Khi tôi gọi tên, anh ta lộ vẻ ngạc nhiên.

Hả?

Anh ta để ria kiểu Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng ở New York trông nó giống kiểu Mexico.

“Vậy anh có nhận ra tôi không?” tôi hỏi bằng tiếng Thổ, nhưng từ vẻ mặt trống rỗng của anh tôi có thể đoán anh không nhận ra tôi. Tôi vẫn cứ ở lại phía sau, trong cái cuộc sống mà anh bỏ lại mười bốn năm về trước.

Khi tôi nói tên mình thì anh nhớ ra. Trong một thoáng chốc anh có thể nhìn thấy tôi như mười bốn năm trước đây. Rồi chúng tôi trao đổi thông tin, như thể chúng tôi phải giải thích với nhau làm thế nào mà cả hai chúng tôi đều đứng dưới đường số 116 trong một ga tàu điện ngầm Manhattan. Anh đã lấy vợ; anh làm trong ngành truyền thông - không phải ở công ty điện lực; anh là kỹ sư; vợ anh là người Mỹ; nhà anh ở xa, tận Brooklyn, nhưng anh sở hữu nó.

“Người ta nói rằng anh viết tiểu thuyết, có đúng không?” anh hỏi tôi.

Vào lúc đó tàu sầm sập vào ga, tiếng ồn vẫn làm tôi choáng váng. Khi cửa tàu mở ra, sau một thoáng yên lặng, anh hỏi tôi vài điều khác nữa.

“Họ đã thực sự làm xong cây cầu Bosphorus?”

Trong lúc chúng tôi đi vào trong toa tàu, tôi mỉm cười và trả lời câu hỏi của anh. Ở bên trong tàu nóng và đông đúc: hành khách thuộc đủ mọi sắc tộc, thanh niên đi giày thể thao, từ khu Bronx và Harlem xuống đây. Chúng tôi đứng ở đó cạnh nhau giống hai anh em trai, tay cùng bấu chặt một cây cột, nhưng khi chúng tôi bị quăng quật hết bên này đến bên kia, chúng tôi nhìn vào mặt nhau giống như những người lạ. Hồi trước khi tôi biết anh, anh không có gì khác thường trừ chuyện không ăn tỏi và hiếm khi cắt móng chân móng tay. Anh nói gì đó với tôi nhưng tiếng ồn của đoàn tàu át mất. Chỉ khi chúng tôi dừng lại ở phố 109 tôi mới hiểu anh đã hỏi gì.

“Xe ngựa cũng chạy qua cầu Bosphorus chứ?”

Tôi nói thêm vài điều, lần này thì không mỉm cười. Cái làm tôi kinh ngạc không phải là những câu hỏi của anh, mà là sự chăm chú anh dành cho những câu trả lời của tôi; chẳng mấy chốc, tiếng ồn của đoàn tàu khiến anh không thể nghe tôi nói, nhưng anh vẫn nhìn tôi với nét mặt đầy hiểu biết, cứ như thể anh nghe được mọi điều tôi nói. Khi đoàn tàu dừng lại ở phố số 103, giữa chúng tôi có một khoảng im lặng căng thẳng. Rồi, trong một cơn giận thình lình, anh hỏi, “Họ vẫn còn nghe trộm điện thoại chứ?” Sau đó, trong tiếng cười điên dại làm tôi lạnh sống lưng, anh hét lên, “Bọn ngu xuẩn!”

Anh bắt đầu phấn khích kể tôi nghe một vài điều nữa, nhưng tôi không nghe được vì tiếng gầm rú của đoàn tàu. Nhìn tay của chúng tôi đặt cạnh nhau trên cái cột, tôi không vui chút nào khi thấy chúng trông giống nhau đến thế. Trên cổ tay anh ta là một cái đồng hồ đeo tay chỉ giờ New York, London, Moscow, Dubai, và Tokyo, giống hệt của tôi.

Ở phố 96, mọi người bắt đầu chen lấn xô đẩy. Có một đoàn tàu nhanh ở phía bên kia thềm ga. Anh nhanh chóng lấy số điện thoại của tôi, rồi biến mất vào đám đông chen lấn giữa hai đoàn tàu. Cả hai đoàn tàu rời ga cùng lúc, và khi nhìn vào cửa sổ đoàn tàu nhanh khi nó từ từ vượt chúng tôi, tôi có thể thấy anh ta đang nhìn tôi: tò mò, nghi ngờ, và đầy khinh bỉ.

Tôi rất vui vì anh không gọi điện cho tôi, nghĩ rằng hẳn là anh đã làm mất số điện thoại, nhưng một tháng sau đó, anh gọi lúc nửa đêm. Anh tấn công tôi bằng những câu hỏi khó chịu: Tôi có muốn trở thành công dân Mỹ không, tại sao tôi ở New York, và tôi đã nghe chuyện tại sao bọn Mafia đã gây ra vụ giết người gần đây nhất chưa, và tôi có biết tại sao giá cổ phiếu của các công ty điện thoại và điện lực đang giảm trên Phố Wall? Tôi trả lời những câu hỏi dồn dập của anh, còn anh chăm chú lắng nghe những câu trả lời của tôi, buộc tội tôi là đôi khi thiếu nhất quán, giống như một viên cảnh sát đang cố bắt nọn một nghi phạm nói dối.

Mười ngày sau anh lại gọi điện cho tôi, lúc đó thậm chí còn khuya hơn và anh còn say xỉn hơn. Anh ta thuật lại một dị bản chi tiết lê thê câu chuyện về Anatoli Zurlinsky, một điệp viên KGB đã đào tẩu sang Mỹ: Sau khi phát hiện ra tòa nhà trên phố số 42, nơi người này đã gặp những điệp viên Mỹ, nhờ những mô tả trên báo chí, anh đã tới tận nơi điều tra; để làm được việc này, anh ta đã tới một tiệm cắt tóc để cạo đầu và bắt nọn tay điệp viên sau vài lời nói dối nho nhỏ. Khi tôi cố chỉ ra những chỗ thiếu nhất quán trong câu chuyện của anh, giống như anh đã làm với tôi, anh trở nên giận dữ. Anh hỏi tôi rằng tôi đang làm gì ở New York, và với cùng giọng cười hoang dại sử dụng để chế nhạo cây cầu Bosphorus, anh gác máy.

Khi lại gọi cho tôi không lâu sau đó, anh dành nửa thời gian nói chuyện với tôi và nửa thời gian tranh cãi với vợ, cô ta bảo anh rằng đã khuya quá rồi. Anh nói chuyện về công ty viễn thông nơi anh làm việc, và về việc anh có thể nghe lén bất kỳ cuộc nói chuyện nào trên thế giới, và điện thoại của chính anh cũng bị nghe lén như thế nào. Rồi, chẳng báo trước gì cả, anh hỏi thăm một vài cô gái anh quen biết hồi học đại học: Ai cặp với ai, và họ sống với nhau như thế nào, giả sử họ có thể sống nổi với nhau? Tôi kể cho anh vài câu chuyện tẻ nhạt kết thúc bằng hôn nhân, và sau khi lắng nghe chăm chú, anh lại cười khinh bỉ.

“Chẳng có gì tốt đẹp có thể xảy ra ở cái xứ đó,” anh nói. “Chẳng có gì!” Tôi chắc đã rất bàng hoàng, bởi vì trước khi tôi có thể nói bất cứ điều gì, anh đắc thắng tuyên bố, “Anh có nghe tôi nói không, người anh em? Chẳng có gì tốt đẹp có thể xảy ra ở đó. Sẽ chẳng bao giờ.”

Anh khoái trá nhắc lại câu này trong hai cuộc nói chuyện điện thoại tiếp theo của chúng tôi, nhấn mạnh quan điểm của mình. Anh nói về gián điệp, những trò lừa gạt của Mafia, điện thoại bị nghe trộm, và những bước tiến mới nhất trong ngành điện tử. Đôi khi tôi cũng loáng thoáng nghe thấy giọng nói yếu ớt của vợ anh. Một lần cô ấy cố giật một thứ đồ uống hay ống nghe khỏi tay chồng. Tôi hình dung ra một trong những căn hộ bé xíu trong một tòa nhà chọc trời ở mé xa của Brooklyn; bạn trả góp căn hộ trong ba mươi năm và sau đó nó là của bạn. Một người bạn kể với tôi rằng khi bạn giật nước toa lét, ống nước phát ra một tiếng rít chói tai thê thảm không chỉ nghe được trong căn hộ của bạn mà trong cả tám căn hộ sắp đặt đối xứng có chung đường ống nước, và tiếng nước xả xuống khiến cho lũ gián chạy quáng quàng khỏi nơi ẩn nấp. Sau này, tôi tiếc là đã không hỏi anh về chuyện đó. Lúc ba giờ sáng anh đã hỏi tôi câu hỏi sau.

“Ở Thổ Nhĩ Kỳ đã có bánh bột ngô chưa vậy?”

“Họ cố bán dưới dạng bánh ngô chiên, nhưng thất bại,” tôi nói. “Người tiêu dùng trộn chúng với sữa nóng.”

Anh ta phát ra một trong những tiếng cười điên dại của mình. “Bây giờ là mười một giờ sáng ở Dubai!” anh ta hét lên. “Ở Dubai, ở Istanbul..Nghe chừng anh vui vẻ khi gác máy.

Tôi nghĩ anh sẽ gọi lại. Khi anh không gọi lại, không hiểu vì sao tôi cảm thấy bứt rứt. Một tháng trôi qua, khi tình cờ nhìn thấy cái phễu tam giác ánh sáng ma quái đổ qua vỉ sắt xuống thềm ga tàu điện ngầm, tôi quyết định đi tìm anh, một phần vì muốn khiến anh ngạc nhiên, làm xáo trộn đầu óc thanh thản của anh, và một phần vì tò mò. Tôi tìm thấy tên anh trong cuốn danh bạ điện thoại Brooklyn. Một phụ nữ trả lời điện thoại, nhưng cô không phải là vợ anh. Cô đề nghị tôi không bao giờ gọi vào số máy đó nữa. Người có số máy này trước đó đã chết trong một tai nạn giao thông.

Nỗi sợ thuốc lá

Có lẽ tôi đang chìm trong suy nghĩ, sáng tạo cuốn tiểu thuyết mới của mình; hẳn lúc đó tôi đang ngồi trong một căn phòng, rít thuốc liên tục, vì vậy tôi đã không nhìn thấy ông ta; sau này người ta kể cho tôi nghe về chuyện đó. Trước khi Yul Brynner vĩ đại từ trần, hình ảnh của ông xuất hiện trên màn hình ti vi. Tài tử hói đầu này, tôi chưa bao giờ thực sự thích, và phim ông ta đóng tôi cũng chẳng ưa, đang nằm trong một đống lùng nhùng trên giường bệnh viện; khó nhọc thở và nhìn thẳng vào mặt khán giả truyền hình, ông nói vài lời đại loại như:

“Cho đến lúc các bạn nhìn thấy hình ảnh này thì tôi đã chết. Tôi sắp chết vì ung thư phổi. Tất cả là do lỗi của tôi. Bây giờ tôi đang chết một cái chết đau đớn. Mặc dù tôi giàu có và thành đạt, đáng lẽ tôi đã có thể sống lâu hơn, đáng lẽ tôi đã có thể tận hưởng cuộc sống, nhưng tôi không làm được như vậy, tất cả bởi thuốc lá. Xin hãy đừng làm như tôi, hãy bỏ hút thuốc ngay bây giờ. Nếu không, bạn sẽ không bao giờ tận hưởng cuộc sống một cách trọn vẹn, bạn sẽ chết một cái chết uổng phí.”

Khi bạn tôi đã kể với tôi xong về cái thông điệp được ghi băng lại này, vốn gây ấn tượng sâu sắc đối với anh ấy, tôi mỉm cười, mời anh một điếu Marlboro và cả hai chúng tôi cùng châm thuốc. Rồi chúng tôi nhìn vào mặt nhau, nhưng không gượng cười nổi. Tôi đã từng có thể luôn luôn hút thuốc ở Thổ Nhĩ Kỳ mà không phải nghĩ ngợi nhiều về chuyện đó, và mặc dù tôi biết hút thuốc có thể gây cho tôi một vài rắc rối ở New York, tôi đã không mong đợi rắc rối nhiều đến từng này.

Không phải những gì tôi nghe trên ti vi hay radio, hay đọc trên tạp chí và báo gây cho tôi nhiều khó khăn nhất. Tôi đã quá quen với những chiến dịch quảng cáo như vậy, đã nhìn thấy vô vàn hình ảnh kinh hoàng của những lá phổi tắc nghẽn bởi nhựa thuốc lá, những mô hình phổi đầy nhựa thuốc đến nỗi chúng trông giống như những miếng xốp vàng khè, những mảng bám ni cô tin chặn nghẽn các mạch máu tới mức gây suy tim, và những minh họa đầy màu sắc những quả tim xui xẻo suy yếu vì nằm bên trong những kẻ hút thuốc. Tôi thường nhìn một cách vô hồn những bài báo xỉ vả những kẻ ngu độn vẫn còn hút thuốc và những phụ nữ có thai đầu độc đứa con chưa chào đời bằng thuốc lá, và khi nhìn chằm chằm vào những bức ảnh bia mộ bị khói thuốc bao bọc, tôi hút điếu thuốc của mình trong sự nhẫn nhục thanh thản. Viễn cảnh cái chết vì thuốc lá chẳng tác động đến tôi nhiều hơn viễn cảnh khoái lạc chào mời bởi những quảng cáo cho Marlboro và Pan Am mà bạn thường thấy bên hông những tòa chung cư cũ, hay những hình ảnh Coca-Cola và Hawaii mà tôi thường thấy nhấp nháy trên màn hình ti vi. Cái chết này đã được làm sáng rõ hoàn toàn. Tôi đã thấy tất cả những hình ảnh ấy, nhưng nó chả đọng lại gì trong đầu tôi. Thuốc lá gây cho tôi kiểu rắc rối khác ở New York: Tôi dự một trong những bữa tiệc có bia, khoai tây chiên, vũ điệu salsa, nhưng khi tôi khinh xuất châm một điếu thuốc, tôi thấy mọi người dạt khỏi tôi cứ như thể tôi sắp truyền bệnh AIDS cho họ vậy.

Họ không chạy trốn khỏi căn bệnh ung thư khói thuốc có thể gây ra, mà chạy trốn khỏi kẻ hút thuốc. Dần dần tôi mới hiểu được là đối với họ điếu thuốc của tôi đại diện cho sự thiếu ý chí và thiếu văn hóa, một đời sống bê bối, bàng quan, và (ác mộng tồi tệ nhất của nước Mỹ) thất bại. Sau này, một người quen (anh này tuyên bố rằng mình đã thay đổi từ đầu đến chân trong năm năm sống ở Mỹ nhưng vẫn còn đủ chất Thổ để không thể cưỡng lại những thói quen của dân tộc mình trong việc bịa ra những phạm trù tầm phào và đề xuất những lý thuyết vô duyên) bảo tôi rằng có hai loại người New York: người hút thuốc và người không hút thuốc. Trừ những lúc những người thuộc loại thứ nhất ra đường trang bị dao, súng và những bao thuốc lá để cướp bóc những người thuộc loại thứ hai khi họ lo lắng cuốc bộ qua những con phố tối om hay thậm chí đôi khi giữa thanh thiên bạch nhật, hiếm khi bạn thấy hai nhóm người này dính líu đến bất kỳ xung đột giai cấp nào. Hoàn toàn ngược lại, báo chí và các công ty truyền hình lại rất nỗ lực để đoàn kết hai loại người khác biệt này với nhau bằng thuốc lá - vốn có giá khác nhau ở mỗi cửa hàng và mỗi khu dân cư - và trong những quảng cáo của mình. Những người mẫu phì phèo thuốc lá trong quảng cáo trông chẳng có gì giống những kẻ nghiện ni cô tin, mà rất giống loại người chịu khó làm ăn, giàu nghị lực, có văn hóa và không hút thuốc. Bạn thường nghe thấy những câu chuyện vui vẻ và đầy cảm hứng về những người đã thành công trong việc chuyển từ loại hút thuốc sang loại không hút thuốc.

Anh người quen thay đổi từ đầu đến chân kể với tôi về việc anh từng liên lạc như thế nào với một tổ chức chuyên giúp mọi người bỏ thuốc. Khi việc cai ni cô tin trong những ngày đầu tiên trở nên gần như không thể chịu nổi, anh gọi cho đường dây điện thoại trợ giúp. Một giọng nói ngọt ngào, đồng cảm trên điện thoại bảo anh ta rằng anh ta sẽ hạnh phúc thế nào một khi anh ta vứt bỏ được thói quen và tất cả những việc anh ta cần làm là nghiến răng chịu đựng lâu hơn chút nữa, và khi anh người quen này tiếp tục kể với tôi rằng giọng nói này đã bảo anh sự đau đớn mà anh đang trải qua là có ý nghĩa, thậm chí có thể là ý nghĩa tinh thần như thế nào, anh ta không hề mỉm cười. Tôi châm một điếu thuốc, điều này ngay lập tức khiến anh ta hoảng hốt và đánh giá thấp tôi. Giờ thì tôi biết gã da đen chuyên xin thuốc lá trên đại lộ Madison là đối tượng đáng thương hại không phải bởi gã không có tiền mua thuốc lá mà trước hết bởi gã hút thuốc: Gã này không có nghị lực, không có văn hóa và chẳng mong mỏi gì mấy từ cuộc đời. Nếu một người ưa hút thuốc, không có gì đáng ngạc nhiên khi anh ta trở thành ăn mày. Lòng thương hại đang dần trở thành mốt ở New York.

Vào thời Trung cổ, người ta tin rằng Thượng đế giáng dịch hạch xuống trái đất để phân tách những người vô tội và những kẻ có tội. Nếu bạn có thể đoán được là một phần nhỏ những kẻ bị dịch hạch đánh gục có lẽ đã bác bỏ ý tưởng đó, bạn cũng có thể hiểu được tại sao những người Mỹ hút thuốc lại hăm hở đến thế trong việc cố chứng tỏ mình là những công dân tốt. Cứ khi nào một nhóm người rút vào một xó để tụ tập quanh một cái gạt tàn thuốc ở một cuộc họp hay nơi công sở, hay tụ họp trong một phòng hút thuốc (nếu như nó có tồn tại), những kẻ nghiện ngập bị nguyền rủa này sẽ nhanh chóng bảo bạn rằng họ sắp bỏ thuốc. Trên thực tế họ là những công dân tốt, nhưng bởi vì họ có những hối tiếc về cái thói quen thiếu văn hóa, thiếu nghị lực, thiếu thành công dành sẵn cho họ, họ nghĩ mình chỉ đang đầu hàng nó nhất thời. Họ có sẵn trong đầu một câu chuyện cho họ lối thoát khỏi xứ sở của những tên trộm và những kẻ có tội: Sau khi giải quyết xong những rắc rối với người yêu, hoàn thành những luận văn vốn không thể hoàn thành nổi, hay tìm được việc làm, họ sẽ từ bỏ cái thói quen bị nguyền rủa này mà đứng vào hàng ngũ những người Mỹ sống chuẩn mực. Một vài người thậm chí trở nên bứt rứt về hành vi tội lỗi của mình quanh chiếc gạt tàn và tìm cách chứng tỏ với những người còn lại là họ không thực sự phạm cái tội mà họ đang phạm phải: Họ bảo bạn rằng thực ra họ không hề hút thuốc, họ chỉ đang hút điếu thuốc này bởi họ trải qua một ngày đặc biệt vất vả, hay điếu thuốc này có hàm lượng nhựa và ni cô tin cực kỳ thấp, thực tế họ chỉ hút ba điếu một ngày, và như bạn đã thấy, họ không hề mang theo diêm hay bật lửa.

Nhưng luôn có một vài người trong số những kẻ có tội đã dính quá sâu vào một cuộc đời tội lỗi mà - ít nhất, ở trong nhà - họ tự hào chấp nhận thói quen của mình. Tôi đã gặp những người hạnh phúc, có học thức, có kỷ luật và giàu có thuộc thế hệ già hơn đã hút thuốc quá lâu nên không bao giờ bỏ được và họ chấp nhận cái chết sớm mà thuốc lá có thể mang đến. Một vài người trong số chính những người này không hề cam chịu khi họ xung đột với những loại doanh nhân trẻ vốn cấm hút thuốc tại nơi làm việc: Họ xem điều này là một hạn chế đối với tự do. Tôi nhớ đã từng ngồi với một nhà văn già hơn tôi nhiều cạnh cửa sổ mặt tiền của một quán ăn nhỏ, ngắm những quảng cáo thuốc lá ở trên đầu những chiếc taxi vàng chạy ngang qua và nói chuyện rất lâu về vị của thuốc lá. Theo cách diễn đạt của người Ý, ông cũng “hút như một gã Thổ”. Theo cách một nhà quý tộc nhàn rỗi có thể bàn về những loại rượu vang quý hiếm, ông ta nói về cái vị thô của điếu Camel dài, và cái vị tinh tế, dễ chịu của điếu Kent ngắn, và với tôi có vẻ như ông đang quả cảm nắm bắt cái vị của tội lỗi của chúng tôi: Mọi hàm chỉ tới thuốc lá đều đặt tình yêu cuộc sống vào thế đối kháng với nỗi sợ chết, khiến tôi tự hỏi phải chăng cái hệ tư tưởng về thuốc lá của New York đại loại là một thứ tôn giáo vậy.

Phố Bốn mươi hai

Gặp nhau ở góc phố Bốn mươi hai, họ không dừng lại nói lời nào mà tiếp tục đi về hướng Nam để tới quán ăn đầu tiên có thể tìm thấy. Khi trời bắt đầu mưa, những người da đen bán điện thoại không dây và radio rong trên đại lộ Năm rút khỏi đường phố. Bên trong quán ăn có mùi hơi nước và dầu ăn. Song song với quầy bar là một dãy bàn và ghế dài lót nệm màu đỏ. Người đàn ông cỏi chiếc áo khoác cũ sờn rồi cẩn thận đặt sang bên cạnh trên chiếc ghế dài sát vào tường. Người phụ nữ ngồi xuống, và cũng cỏi áo khoác. Có một ông cụ ngồi trên một những chiếc ghế cao ở quầy bar đang gà gật trên những trang báo thể thao.

“Đừng treo túi xách của em ở đó,” người đàn ông nói với người phụ nữ. “Nếu có kẻ nào giật túi của em, chưa ai kịp chặn hắn lại thì hắn đã thoát ra khỏi cửa rồi.”

Người phụ nữ liếc qua thực đon. Cả hai xấp xỉ ba mươi. Khi người đàn ông bắt đầu run run mò mẫm tìm thuốc hút, người phụ nữ chuyển chiếc túi từ chỗ cô đã treo sang trên chiếc áo khoác bên cạnh mình.

“Thật tệ,” cuối cùng cô nói. “Họ không muốn lấy thêm cúc áo nữa.”

“Sao lại không?”

“Họ chưa bán được những chiếc mà em đã làm cho họ.”

“Họ đã trả tiền em chưa?”

“Mới trả một nửa.”

“Còn bông tai thì sao?”

“Họ không muốn lấy cúc áo, và họ cũng không muốn lấy bông tai.”

Cúc áo ở đây thật ra là những chiếc vòng tay. Cô trang trí họa tiết trên những chiếc chuỗi hạt và bông tai gỗ rồi đem bán cho một mụ già bán hàng xấu xí với giá hai đô la một cặp. Cô không thể nhớ được tại sao cô gọi những chiếc vòng tay là “cúc áo” nhưng có lẽ bởi vì những chiếc vòng tay này trông giống như cúc áo.

“Anh nghĩ em có nên tìm việc không?” người phụ nữ hỏi.

“Em biết như thế sẽ không ổn mà,” người đàn ông nói. “Nếu em làm vậy, em sẽ không còn thời gian để vẽ.”

“Chẳng ai thèm mua tranh của em.”

“Nhưng người ta sẽ mua,” người đàn ông nói. “Tại sao mình không gọi cho Bariş? Anh ấy muốn xem xưởng vẽ của em.”

Hồi đại học anh và Bariş học cùng nhau ở Istanbul. Hiện giờ người bạn cũ của anh đã tới New York để họp với một công ty máy tính.

“Anh có nghĩ là anh ấy sẽ mua cái gì đó không?” người phụ nữ hỏi.

“Anh ấy đã nói là anh ấy muốn xem xưởng vẽ của em. Anh ấy muốn xem xưởng vẽ còn vì lý do nào khác nữa?”

“Biết đâu chỉ vì tò mò.”

“Nếu thấy thích cái gì, anh ấy sẽ mua,” người đàn ông nói.

Người bồi bàn đến ghi món.

“Hai cà phê,” người đàn ông nói. Rồi anh ta quay sang người phụ nữ và hỏi, “Em muốn uống cà phê, phải không?”

“Em cũng muốn ăn cái gì đó,” người phụ nữ nói, nhưng giờ anh bồi bàn đã đi mất. Họ yên lặng một lúc.

“Bariş đang ở khách sạn nào?” người đàn ông hỏi.

“Anh ấy chẳng muốn mua gì đâu,” người phụ nữ nói. “Anh ấy chỉ muốn xem xưởng vẽ thôi. Em không muốn gọi điện cho anh ấy chỉ vì anh ấy có thể mua thứ gì đó.”

“Nếu không muốn mua thứ gì, tại sao anh ấy lại muốn xem?” người đàn ông nói. “Anh không thể tưởng tượng nổi là anh ấy ấp ủ sở thích về trường phái tân biểu hiện trong thời gian làm ăn ở Istanbul.”

“Anh ấy muốn biết em đã xoay xở thế nào; chỉ đơn giản thế thôi,” người phụ nữ nói. “Anh ấy muốn nhìn thấy chỗ em làm ra sao.”

“Dù vậy thì tới giờ anh ta cũng đã quên tất thảy chuyện ấy rồi.”

“Quên cái gì?”

“Những gì anh ta nói, về việc muốn xem tranh của em.”

“Anh ấy không nói anh ấy muốn xem tranh của em, anh ấy nói anh ấy muốn xem xưởng vẽ của em,” người phụ nữ nói. “Anh ấy là người dễ thương. Tại sao em phải gạt anh ấy để anh ấy mua mấy bức tranh mà ở New York không ai muốn mua?”

“Nếu em nghĩ em đang gạt bất kỳ ai muốn mua tranh của em thì em sẽ không bao giờ bán nổi một bức,” người đàn ông nói.

“Nếu đó là những gì em phải làm để bán chúng, em thà không bán còn hơn.”

Một khoảng yên lặng.

“Mọi người đều bán hàng theo cách đó” người đàn ông nói. “Người ta ai cũng bán cho bạn bè của mình trước.”

“Em không sống ở đây tại New York chỉ để bán tranh cho những người bạn cũ của em từ Thổ Nhĩ Kỳ sang,” người phụ nữ nói. “Em đến New York không phải để làm chuyện đó. Dù sao thì em không nghĩ là anh ta sẽ mua gì hết.”

“Thế thì bảo anh nghe, tại sao em lại đến New York?” người đàn ông cay đắng hỏi.

Người bồi bàn mang hai tách cà phê đến. Người phụ nữ không trả lời.

“Thế thì nói cho anh nghe, tại sao em lại đến New York?” người đàn ông hỏi lại, lần này giận dữ.

“Ồ, thôi nào, đừng có gây sự!” người phụ nữ nói.

“Anh biết tại sao em đến đây. Em không đến đây vì anh. Đến giờ thì rõ là em đến đây cũng chả phải để vẽ tranh. Có vẻ như em đến đây để vẽ những mẫu trang trí nho nhỏ trên nhẫn và nhà vệ sinh.”

Anh biết điều này sẽ xúc phạm cô. Cô đã vẽ hàng trăm mẫu thiết kế cho một công ty sản xuất biển hiệu Nam và Nữ cho các nhà vệ sinh: dưới hình dạng những chiếc ô, xì gà, giày cao gót, bóng đàn ông và phụ nữ, mũ quả dưa, túi xách tay, trẻ con đang tè. Khi cô bắt đầu làm việc cho họ, cô từng cười về những thứ ấy, nhưng giờ thì cô căm ghét chúng.

“Được rồi. Bariş đang ở khách sạn Plaza,” người phụ nữ nói.

“Plaza là nơi người tốt thường ở,” người đàn ông nói.

“Anh không định gọi cho anh ấy chứ?”

Người đàn ông đứng dậy đi về phía góc xa của quán ăn, và sau khi tìm được khách sạn trong cuốn danh bạ điện thoại, anh liền quay số, người phụ nữ nhìn anh một lức. Mặt anh nhợt nhạt, nhưng anh có vóc người cường tráng, dáng đẹp, và khỏe mạnh. Ở phía sau anh là những áp phích thuộc kiểu người ta thường thấy ở những nơi như thế: Hy Lạp và Aegean, HÃY BAY CÙNG PAN AM TỚI THIÊN ĐƯỜNG RHODES NGẬP NẮNG. Phòng 712 không trả lời. Anh về lại chỗ ngồi.

“Người tốt không có ở đó!”

“Em không nói anh ấy là người tốt, em nói anh ấy là người dễ thương,” người phụ nữ thận trọng nói.

“Nếu anh ta chỉ là người dễ thương, tại sao anh ta ở khách sạn Plaza, tại sao anh ta kiếm được nhiều tiền thế?”

“Anh ấy là người dễ thương!” người phụ nữ khăng khăng bướng bỉnh.

“Chúng mình không có đủ tiền để sống đến thứ Hai. Còn anh ta thì đang nhấm nháp hàu và tôm hùm ở khách sạn Plaza, và anh ta là người dễ thương.”

“Anh biết chuyện gì không?” người phụ nữ trả đũa. “Anh đang nhọc công đợi chờ để chẳng được gì. Em sẽ không bao giờ quay trở về Thổ Nhĩ Kỳ đâu.”

“Anh biết…”

“Anh biết tại sao em không muốn quay về, phải không? Bởi vì em không thể phục tùng đàn ông Thổ.”

“Còn em là một cô nàng Thổ,” người đàn ông giận dữ nói. “Em là một cô nàng Thổ Nhĩ Kỳ không thể tìm nổi cách bán những bức tranh của mình. Nếu em có thể thậm chí gọi chúng là tranh.”

Họ cùng im lặng. Ai đó nhét một đồng xu vào máy chơi nhạc tự động ở phía xa, và quán ăn liền ngập tràn âm nhạc ngọt ngào, dịu dàng, và sau đó một ca sĩ nhạc blues mệt mỏi, muộn phiền hòa giọng. Họ lắng nghe. Khi cô gái rút bàn tay run run khỏi bàn và hồi hộp lục khắp túi áo khoác và túi xách của mình, người đàn ông hiểu ra: cô đang tìm chiếc khăn tay bị mất, để lau nước mắt.

“Anh đi đây,” người đàn ông nói, rồi đứng dậy. Anh nhặt áo khoác lên và đi ra.

Lúc này mưa rơi nặng hạt hơn, và đường phố tối hơn. Mảng trời giữa những ánh đèn của các tòa nhà chọc trời tối như đêm. Anh đi bộ tới phố Bốn mươi hai rồi rẽ trái. Những người đàn ông cách đây một lúc còn đang bán rong điện thoại không dây lúc này đã đang bán những chiếc ô mà họ treo trên tay và chân. Khi anh tới đại lộ Sáu, đường phố bừng sáng. Khi mọi người đi bộ ngang qua họ trên vỉa hè ướt, những gã da đen đứng trên những ô cửa và phía trước các tiệm đèn tuýp sáng chói nghêu ngao những lời giống nhau, cứ như thể chúng đã cùng nhau học thuộc bài hát này: “Gái hư, gái tuyệt diệu, gái ăn mặc như thỏ, gái-gái-gái. Xin mời vào, mời vào mà xem, thưa ngài; vào mà xem, vào mà xem: Chúng tôi có những phòng riêng biệt, gương nhìn một chiều, biểu diễn trực tiếp, vú vê thật, gái-gái-gái, hãy vào mà xem, nhìn và ngắm.” Vài người còn do dự đứng bên ngoài, nhìn những áp phích: NHƯNG GIẤC MƠ CỦA ĐỨA BÉ HOANG DẠI, MÔI ƯỚT ÁT, HAM MUỐN VÔ ĐỘ. Đi ngang một khoảng đất trống gần đại lộ Bảy, anh chợt bắt gặp mùi lô hội. Tụ họp cùng nhau trong một góc tối, một nhóm người Pakistan mặc áo choàng dài đang bán kinh Koran bằng tiếng Anh, những chuỗi tràng hạt cầu nguyện khổng lồ, những chai dầu thơm, những tờ bướm về tôn giáo. Sau khi nhìn chằm chằm trống rỗng vào trạm xe buýt một lúc rất lâu, anh đi bộ xuyên bóng tối ngang qua phố Bốn mươi mốt trở lại đại lộ Năm. Quán ăn nhỏ lúc nãy có tên là Tom’s Place. Người phụ nữ không còn ngồi ở bàn nữa. Anh hỏi người bồi bàn.

“Người phụ nữ ngồi đây đã đi rồi à?”

“Quý cô ngồi đây à?” anh bồi bàn nói. “Quý cô ngồi đây đi rồi”.

ors: Essays and A Story ebook©MotSAch Nhã Nam & NXB Văn Học tve-4u©vctvegroup | 07-04-2021
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.