Một hiệu khách bán tạp hóa ở phố Hàng Ngang, một hiệu khách như trăm nghìn hiệu khách khác ở Hà Nội, Hải Phòng, Sàigòn, Chợ Lớn, Nam Vang hay ở Quảng Đông, Đông Hưng, Phúc Kiến. Cũng tủ kính đầy hàng đứng che kín hai bên tường và cao gần sát trần nhà. Cũng cái sào ngang vắt, treo nhan nhản hết các thứ có thể vắt, treo được, như khăn mặt, khăn tay, áo lót, áo nịt, giây đàn, ô trắng, ô đen vân vân... Cũng cái bàn kính dài chạy sâu vào phía trong, và đựng đủ các thứ vặt vãnh, từ cái lọ sứ, cái đèn điện bấm cho đến cái bàn chải răng và đôi giây giầy. Cũng sau bàn, mấy người Tàu ngồi nghênh, líu lô nói chuyện với nhau như chẳng thèm lưu ý đến khách mua hàng đứng đợi. Cũng cái đồng hồ quả lắc kiểu “Regulator” trên cửa ra, vào phía sau hàng, và hình như treo đó chỉ để cho người đi qua phố xem giờ, chứ không có ích lợi gì cho bọn người làm trong hàng, vì họ có phân biệt giờ nào với giờ nào đâu, suốt ngày luôn luôn quanh quẩn bên cái bàn kính, dù lúc họ xúm xít lại để ăn cơm.
Đó là hiệu tạp hóa “Leung-fat-Fa” của Nguyễn văn Tiên. Nói cho đúng thì Nguyễn văn Tiên tức là, hay mới là “Leung-fat-Fa”. Vì mới là, nên tuy những người làm công đều gọi chú Leung, và tuy chú Leung mang y phục Koỏng tống, chú vẫn chưa nói sõi mấy tiếng “dặt, dì, xám”. Những lúc bọn người làm công của chú nói chuyện với chú bằng tiếng “mẹ đẻ” thi chú thấy chú là người “Ố nàm”, là Nguyễn văn Tiên một trăm phần trăm.
- Chú Leung à, chú dất tỉnh mưởn một người A lam làm công?
- Nhất định!
- Mà chú lài giao người A lam ấy giữ két à?
- Phải.
- Chú không sờ à?
- Sờ cái gì được chứ!
- Sờ người ta ăn cắp cổ chú.
- Không khi nào người ta ăn cắp của tôi, vì người ta là bạn thân tôi.
Leung đem kể cho mọi người nghe những chuyện xảy ra, bốn năm về trước, ngày Leung còn là Nguyễn văn Tiên và làm ký ga Thanh Ba.
Ngày ấy Leung ham mê chơi bời cờ bạc, nên tiền lương mấy chục một tháng không sao đủ tiêu. Lại thêm phải nuôi một mẹ, một vợ và ba đứa con. Vì thế Leung túng thiếu luôn, túng thiếu đến nỗi có khi có gia đình tưởng phải ngồi nhìn nhau mà chết đói. Leung nói tiếp:
- May cho tôi, hồi ấy tôi quen ông Phương làm đồn điền ở vùng Thanh La. Ông ấy giàu tiền, nhất là giàu lòng tốt. Ông chu cấp cho tôi chẳng nhớ là bao nhiêu nữa, nhưng hình như nhiều lắm, nay dăm bảy đồng, mai một vài chục, nhờ đó mà gia đình tôi mới có ngày nay. Vì vậy tôi không thể nào không giúp lại ông ấy được. Ngày nay ông ấy bị khánh tận gia tài, điền sản bị tịch biên hết cả, phải về quê vợ ở nhờ nhà từ đường, tình cảnh khốn quẫn lắm. Tôi chia gia tài của tôi cho ông ấy một nửa cũng đáng, chứ đừng nói mượn ông ấy làm thủ quỹ nữa.
Một người làm công vội kêu:
- Ấy chớ! Sao lại chê một lửa!... Nhưng vì sao ông ta chóng nghèo thế? Hay vì chơi bời?
Leung buồn rầu đáp:
- Có lẽ vì ông ta tốt quá.
- Vậy bao giờ ông ta đến?
- Chiều nay tôi ra ga đón. Ngày mai ông Phương nhận việc. Ba chú vẫn ở đây bán hàng cho tôi, tôi không vì mướn thêm ông Phương mà bớt người làm đâu. Bốn người sẽ cùng nhau trông nom hàng hộ cho tôi, không nề là người Tàu hay người Việt Nam. Chính tôi đây, mấy tháng trước còn là người Việt Nam.