Nhưng vì sau Nguyễn văn Tiên lại vụt trở nên “Leung-fat-Fa”, chủ nhân cái cửa hàng tạp hóa to lớn kia? Đó là một câu chuyện rất dài dòng, rất ngoắt ngoéo, rất ngộ nghĩnh, đau đớn và rất tức cười.
Câu chuyện ấy tức là sự bí mật mà hơn hai mươi năm Tiên tìm tòi khám phá, và mãi ngày nay bỗng dưng nó tự khám phá ra một cách đột ngột bất ngờ.
Khi Tiên mười tuổi và bắt đầu tìm hiểu những việc xảy ra quanh mình, thì có người bảo cho Tiên biết lờ mờ rằng người cùng ở với mẹ Tiên không phải là cha Tiên.
Tiên cũng hay vậy, nhưng không thấy có sự gì biến đổi sau cái tin lạ lùng ấy. Vả lại, người bố dượng tốt lắm, không hề phân biệt con riêng của vợ với hai đứa con đẻ của mình, nên Tiên coi người ấy như cha vậy.
Năm Tiên mười lăm tuổi thì cha dượng chết. Tiên thương khóc thảm thiết.
Tiên vừa để trở đại tang được vài hôm thì người ta lại bảo chàng rằng cha chàng còn sống và hiện làm thư ký ở một công sở. Tiên cũng biết vậy, chứ chẳng chút cảm động hay bận lòng. Cha Tiên chỉ có thể là người mà Tiên yêu dấu bấy lâu và đã cùng mẹ Tiên làm lụng vất vả để nuôi Tiên ăn học.
Nhưng từ đó tâm trí Tiên không sao nhãng được những câu hỏi thầm: “Cha mình là ai? Sao cha mình ruồng rẫy mẹ mình? Sao mẹ mình lại nói dối mình?” Tiên tự hỏi thế, nhưng không bao giờ loay hoay tìm tòi những câu trả lời.
Một hôm trong câu chuyện tầm thường, không đâu, Tiên bỗng gặp dịp hỏi mẹ:
- Thưa mẹ, cha con còn sống có phải không?
Mẹ lo lắng nhìn con:
- Ai bảo con thế?
- Con nghe thấy người ta nói thế.
Chẳng đừng được, người mẹ đem một phần chuyện thực ra kể với con: Bà lấy chồng được hơn một năm thì chồng bỏ, giữa lúc bà đương có thai nghén. Một người thấy tình cảnh bà đáng thương liền giúp đỡ bà, rồi cưới bà làm vợ. Người ấy tức là cha dượng Tiên.
Câu chuyện làm cho Tiên càng thù ghét người cha đã ruồng bỏ mẹ con chàng. Từ đó Tiên không muốn bận tâm nghĩ đến người ấy nữa, tuy biết chắc rằng người ấy hiện còn sống. Phải, nghĩ chi đến cái con người bất nhẫn ấy!
Tiên tưởng thế, nhưng vẫn nghĩ đến cha. Không những nghĩ đến mà thôi, một hôm Tiên lại cố chờ ở cổng nơi cha làm việc, để lúc cha ra được nhìn thấy mặt. Nhưng nhìn thấy mặt, Tiên cũng chẳng cảm động và không thấy có dấu hiệu gì giúp chàng nhận ngay được người ấy là cha mình. Chàng tự hỏi: “Có thể người ấy là cha mình thực không?”
Sự băn khoăn, ngờ vực một ngày một ăn sâu mãi vào tâm não Tiên. Rồi Tiên thi đậu ký ga, đi làm việc ở nhiều ga xếp trên con đường xe hỏa Hải Phòng - Lào Cai. Có lẽ sự hạm mê chơi bời cờ bạc cũng một phần cội rễ ở sự băn khoăn ngờ vực kia. “Có thể cha mình đây thực không?” Câu hỏi ấy luôn luôn lảng vảng trong trí Tiên.
Cách đây một năm, Tiên ốm nặng, phải xin nghỉ, về điều trị tại nhà một người bà con ở Thái Hà ấp. Bà mẹ thấy thuốc thang mãi mà bệnh con không lui, liến sốt ruột đi mời thầy bói, xem một quẻ.
Anh mù gieo quẻ, suy nghĩ, rồi có lẽ nói mò rằng động mả ông thân sinh. Nằm gần đấy và nghe lời thày bói, Tiên khúc khích cười vì chàng biết ông thân sinh của chàng hiện còn sống, chứ chẳng phải ông bố dượng đã chết như lão thày bói tưởng lầm.
Nhưng người mẹ có tính dễ tin nên giật mình kinh hãi, hỏi lại:
- Động mả?
- Vâng, động mả ông cụ.
Tiên nghĩ thầm: “Ông cụ nào mới được chứ! Ông cụ nuôi mình hay ông cụ sinh ra mình? Nếu là ông cụ sinh ra mình, thì thực vô lý, vì ông ta còn sống, hẳn không có mồ mả. Hay động sinh phần ông ta?”
Cái ý tưởng ngộ nghĩnh ấy làm Tiên phá lên cười to.
Bà mẹ hỏi:
- Thầy chắc động mồ?
Biết mình đoán trúng, thầy bói được thể:
- Chắc lắm. Rễ cỏ đâm qua ván bên tả áo quan, nên ông ký bị tê liệt hẳn chân trái và tay trái. Bà cứ chạy mộ ông cụ là ông ký khỏi liền.
Bà me vô tình thốt ra câu phàn nàn:
- Thế mới rầy rà chứ! Biết mồ mả để ở đâu mà chạy bây giờ?
Tiên kinh ngạc, ngẫm nghĩ: “Lạ chưa! Mẹ ta biết hiện cha ta còn sống thì làm gì có mồ mả. Hay người ấy không phải là cha ta nốt. Nhưng dù ai là cha ta nữa, sao lại không biết mồ mả để ở đâu mà chạy?”
Chờ thầy bói đi rồi, chàng bảo mẹ:
- Nó nói láo thế mà mẹ cũng tin được.
Bà mẹ lo lắng, suy nghĩ, vì bà chắc chắn rằng thế nào cũng phải theo lời thầy bói, thì bệnh con bà mới khỏi được. Mà muốn làm theo lời thầy bói, tất nhiên phải thú thực cả với con. Bà thấy điều ấy khó khăn quá... Nhưng tính mệnh con là trọng, giấu giếm sao được nữa? Bà liền đem hết sự thực ra kể cho con nghe.
Ngập ngừng bà nói:
- Tôi, cũng không giấu giếm anh làm gì... Bây giờ không còn là lúc che đậy nữa, anh đã khôn lớn, có vợ, có con, mà tôi thì tôi đã sắp kề miệng lỗ...
Vừa nói, bà vừa liếc trộm cặp mắt tò mò băn khoăn của con. Ngừng lại, bà không thấy Tiên hỏi một lời, hay có một dáng điệu gì để tỏ ra rằng vẫn lưu ý đến câu truyện, và để giục người kể thuật nốt. Chẳng biết nghĩ sao, bà bưng mặt khóc.
Tiên nằm chờ trên giường bệnh, đoán biết rằng những điều mà sắp cho mình nghe sẽ buồn thảm lắm, hoặc sẽ lại toàn là những lời bịa đặt như những lần trước.
Trong yên lặng, hai bên cùng cố ngầm dò xét tư tưởng của nhau. Rồi người mẹ quả quyết ngửng phắt lên nhìn thẳng vào mắt con, nói:
- Anh không phải là con thầy cái Lợi, cái Thành, mà cũng không phải là con ông phán Phan như anh vẫn tưởng... Anh có hứa trước với tôi rằng dẫu câu chuyện của tôi nhơ nhuốc đến đâu, anh cũng đừng khinh bỉ, đừng giận, đừng ghét tôi, thì tôi mới dám kể.
Bà mẹ ngừng lại lần thứ hai để chờ con trả lời. Nhưng Tiên vẫn yên lặng, cái yên lặng đối với bà vừa có ý nghĩa mỏi mệt vừa có ý nghĩa dữ tợn.
Có lẽ đãng trí, quên bẵng rằng mình còn đương đợi câu trả lời của con, bà kể tiếp luôn:
- Từ ngày tôi làm bạn với thầy cái Lợi, anh vẫn biết đấy, thầy cái Lợi coi anh như con đẻ...
Tiên nghĩ thầm: “Thưa mẹ, con chỉ cần biết cha con là ai, đã chết hay còn sống, thế thôi. Mẹ cứ kể dềnh dàng mãi, con sốt ruột lắm”.
Nhưng bà mẹ cố ý kể dềnh dàng, cốt để nhẹ bớt tội lỗi của mình đi vài phần:
Hồng là con một ông tú. Nàng nổi tiếng xinh đẹp nhất làng. Năm mười tám nàng về làm dâu ông chánh, bà chánh.
Kém nàng những ba tuổi và theo học ở trường tỉnh, chồng nàng mỗi khi được nghỉ về nhà không hề gần gũi nàng. Hơn thế, không bao giờ thoáng nhìn thấy nàng mà cậu trò nhỏ không chớp mau cặp mắt, quay vội mặt đi, hai má đỏ ửng lên như hai viên gạch nung và hai bàn tay cậu chẳng biết để làm gì, hết ngắt cuống chiếu lại xé giấy vụn bỏ vào mồm nhai.
Như thế trong hai năm. Cô gái đến thì cũng như không.
Rồi một hôm sang bên hiệu tạp hóa gần nhà mua gói chè tàu, Hồng yêu ngay người Khách trẻ tuổi, có duyên làm công ở đó.
Chẳng bao lâu biết rằng mình đã có thai, và xấu hổ với họ, với làng, Hồng bỏ nhà chồng trốn biệt. Đến ấp Thái Hà một người cảm về nhan sắc nàng cùng nàng gian díu. Người ấy là ông cửu Điệt, tức cha dượng của Tiên.
Nghe dứt câu chuyện, Tiên mỉm cười chua chát, tự nhủ thầm: “Thì ra mình là dân Trung Hoa. Rồi đây có lẽ sẽ phải nhớ hết những ngày kỷ niệm Hưng-quốc mà treo cờ thanh thiên bạch nhật!”
Bất giác, chàng cười phá lên. Mẹ chàng lo lắng nhìn chàng, chẳng hiểu vì sao con mình nghe câu chuyện thương tâm như thế lại cười được.
Tiên vẫn nghĩ: “Thôi, ta là con “xừ Khách” ấy cũng xong, chứ là con cái ông nhai giấy vụn kia thì còn ra giống gì! Nhưng không biết lần này mẹ mình đã nói thực hẳn chưa?”
Chàng liền hỏi:
- Thưa mẹ, chuyện mẹ vừa kể quả thực như thế?
- Quả thực như thế; mẹ mà có nói dối con thì mẹ...
Tiên vội gạt:
- Xin mẹ đừng thề. Con tin mẹ rồi. Thưa mẹ cái đời con thực cũng ly kỳ.
Chàng lại cất tiếng cười thẳng thắn, vui vẻ:
- Thảo hèn gặp ông Phán con chẳng cảm động chút nào! Con biết chắc rằng không phải ông ấy đã sinh ra con.
- Chính thế. Nhưng mà anh gặp ông ta ở đâu?
- Con đón đường để xem mặt. Bây giờ con nhớ lại và nghĩ kỹ thì quả thực ông ta thuộc hạng cấu cuống chiếu và nhai giấy vụn.
Người mẹ sung sướng:
- Đấy anh xem, có phải không? Bây giờ việc cần nhất là đi hỏi thăm xem mộ chú Si để ở đâu - chú Si là tên...
Thấy mẹ ngập ngừng, Tiên đỡ lời:
- Tên thân phụ con. Nhưng đã biết đâu rằng chú Si chết rồi hay còn sống!
- Chắc chết rồi anh ạ.
- Sao mẹ biết?
- Anh đã quên lời thầy bói rồi sao?
Tiên cười:
- Thưa me, vì con không quên nên mới đoán chắc rằng cha con còn sống, dù cha con là người Trung Hoa đi nữa.
Giữa lúc ấy, vợ Tiên dắt hai đứa con ở ngoài đi vào. Nàng vừa ra Hà Nội giật tạm người bà con ít tiền để cân thuốc cho chồng.
Tiên nằm nghiêng, đăm đăm nhìn con - thằng con trai sáu tuổi và đứa con gái bốn tuổi. - Chàng kinh ngac vì thấy chúng phảng phất giống Khách: “Đích rồi, mình là Tàu rồi!” Chàng bảo vợ lấy gương:
- Hôm nay trông cậu đã khá nhiều. Nhưng cậu nên kiêng soi gương thì mới chóng khỏi.
- Không, tôi có soi gương để xem bệnh tình tiến hay lui tới đâu, tôi chỉ cốt ngắm diện mao tôi.
Không hiểu rằng Tiên đương theo đuổi cái định kiến “có giống Khách hay không”, người vợ bật cười:
- Cậu rõ lẩn thẩn, xem bịnh tình hay ngắm diện mạo thì khác nhau cái gì?
Nghe vợ chế riễu, Tiên chỉ cười, trong khi bà mẹ quay đi sụt sịt khóc. Chàng tự an ủi: “Được cái Tàu với Việt Nam đều là giống da vàng cả. Có sách lại chép rằng thủy tổ dân Việt Nam là người Chiết Giang di cư dần dần xuống phía Nam. Tóm lại, dù mình là người Trung Hoa hay người Nam Việt, thì tình thế cũng vẫn không thay đổi chút đỉnh, thì mình cũng vẫn nghèo như thường.”