Những Ngày Vui

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 28 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
V
V

❊ ❊ ❊

Khi bà cửu Điệt và Nguyễn văn Tiên xuống xe trước hiệu “Leung-fat-Fa” thì kim đồng hồ treo ở ngoài hàng mới trỏ bốn giờ kém mười. Bà cửu âu yếm hỏi con:

- Anh có mệt lắm không?

- Thưa mẹ không mệt lắm, nhưng mà cũng mệt.

- Thì cố nhiên vừa ốm khỏi.

Tiên mỉm cười:

- Ấy là chưa chạy mộ đấy. Bệnh cứ bớt mau như mấy hôm gần đây thì có lẽ tiền chạy mộ để mua gà non mà ăn còn thú hơn, mẹ ạ.

- Anh còn trẻ quá. Ai lại ngoài ba mươi tuổi đầu rồi mà chẳng biết đứng đắn.

Câu mắng yêu của mẹ làm cho Tiên suy nghĩ. Đứng ngắm nghía mấy người Tàu làm công trong hiệu “Leung-fat-Fa”, chàng thấy họ khác xa với mình và những người Việt Nam nhiều quá. Lúc nào họ cũng nghiêm chỉnh, bệ vệ, đi đứng bệ vệ, nói năng bệ vệ, còn ngồi thì cố nhiên bệ vệ rồi, đó là một bản tính bất di bất dich.

Tiên nghĩ thầm. “Không bao giờ trông thấy cái bụng xệ xuống mặt đôn, hai cái vú muốn chảy xuống cái bụng, mà mình không tưởng ngay đến mùi tương tàu, mùi xì dầu béo ngậy, hay món cánh gà rán hồng xíu thơm tho. Cả đến cái gầy của họ, nếu họ gầy, cũng là cái gầy Tàu, không giống cái gầy Việt Nam một tí nào: cái gầy bệ vệ, dù là cái gầy vàng xạm”.

Chàng ta mỉm cười nghĩ tiếp:

“Thế mà mình là dân Tâu thì vô lý quá. Hay ta chỉ giống mẹ ta?”

Ý tưởng ấy khiến chàng nhớ ngay đến việc “nhận diện” mà “hội đồng” đã định vào năm giờ chiều hôm nay: “Nếu mình không giống chú Si?... Thì mình sẽ là người Việt Nam. Thì cái hiệu Lương-phát-Hoa này sẽ không về tay mình. Thế thôi, chỉ có thế thôi”.

Tiên liếc mắt nhìn trộm mẹ, thấy sự băn khoăn lo lắng vẽ rõ lên nét mặt bà: Mắt bà như không còn tinh thần, như không để tới một vật gì quanh mình, liên miên đương ngắm một cuộc đời mộng ảo, có lẽ một cuộc đời tương lai chắc chắn. Một cái mỉm cười vơ vẩn đầy hi vọng như nói lên tiếng: “Còn hơn một giờ nữa... Đời mình sẽ xoay ra sao đây?”

Bấc giác Tiên phá lên cười. Bà cửu giật mình hỏi:

- Sao anh lại cười?

- Mẹ ạ, có lẽ con không phải là người Tàu.

Bà cửu chau mày:

- Hừ! Ai lại nói to thế bao giờ?

Nhưng Tiên vẫn theo đuổi ý nghĩ của mình ghé tai mẹ nói thầm:

- Mẹ thử ngắm những người khách kia xem. Con có giống họ một tí nào đâu.

Cái định kiến của bà thốt ra một câu nói rất khôi hài, nhưng rất thành thực:

- Cốt giống chú Si thôi, chứ cần gì giống họ.

Tiên lại cười. Bà cửu chau mày yên lặng nhìn giờ ở đồng hồ treo. Bà thấy hai cái kim không đi chút nào và ngờ rằng đồng hồ chết. Bà toan vào hỏi người trong hiệu xem nó có còn chạy không, thì vừa kịp để ý đến quả lắc đồng lấp lánh đi lại sau kính, như cái liếc mắt máy của pho tượng râu tóc bạc phơ, đứng làm quảng cáo ở trước cửa hiệu bán thuốc “lông ngỗng”!

Thấy bà cửu ngấp nghé tò mò nhòm nom, một người khách hỏi:

- Mô gì?

- Không, tôi không mua gì cả.

- Không mô gì thì ti ti. Tứng tây tỉnh ăn cắp à?

Tiên khó chịu giục mẹ đi nơi khác.

- Nhưng anh còn mệt, đi sao được?

- Hay ra bờ hồ, tìm một cái ghế ngồi nghỉ.

- Được, anh cứ để mặc tôi, nhé?

Bà cửu liền chạy vào hiệu bảo người bán hàng:

- Này chú, tôi đưa anh Tiên đến đấy mà!

Người kia ngơ ngác trả lời:

- Anh Tiên à? Anh Tiên nào?

Bà cửu nghễnh ngãng, vui vẻ đáp:

- Phải, anh Si.

Bà nghĩ thầm: “Hay nhỉ! tục lệ bên Tàu hay thực, bố là Si thì con cũng là Si”. Nhưng người khách đứng yên lặng giờ lâu rồi lắc đầu nói:

- Anh Sian à? Không pết.

Bà cửu, giọng đã hơi gắt:

- Chú Bá bảo mẹ con tôi đến, mẹ con tôi mới đến... Chứ tôi cần gì.

- Chú Pá pảo à?

Người khách làm công nói chuyện bằng tiếng Tàu với một người khác, có lẽ là quản lý của hiệu “Leung-fat-Fa”, vì người này kính cẩn lại gần bà cửu và lễ phép hỏi:

- Thưa, pà, pà là pà chổ?

Bà cửu ngơ ngác hỏi:

- Chú bảo gì?

- Pà là chổ hiệu “Leung-fat-Fa”?

Bà cửu Điệt mừng cuống cuồng suýt nữa ngất đi, nếu bà không nghĩ ngay đến cái kết quả còn bấp bênh của kỳ hội đồng sắp họp.

- Thưa pà, ông chổ ti vối pà?

- Không, đó là con tôi.

- Vâng, ông Leung-at-Sin.

- Không, tên anh ấy là Nguyễn văn Tiên.

- Vâng, phải rồi, ông Leung-fat-Sin.

Người quản lý ra cửa cúi đầu nói:

- Chào ông chổ, mời ông chổ lên gác.

Tiên đáp lễ rồi lẳng lặng bước vào hiệu, nét mặt cố giữ vẻ nghiêm trang, vì chàng chỉ chực bật cười: Chàng cho không một địa vị, một hoàn cảnh nào lại có vẻ hài hước bằng địa vị chàng đương sống trong những phút gay go mong mỏi, lo sợ, ngờ vực này. Chàng thấy hoàn cảnh ấy đầy thi vị, và ao ước cái phút định số phận mình lui chậm lại ít ra lấy độ dăm sáu giờ nữa.

Tiên và mẹ lên gác, theo người quản lý đi sang qua cái sân cầu gian nhà trong. Người quản lý mở cửa phòng. Tiên ghé mắt nhòm vào: Phòng chứa đầy ních những hàng hóa. Chàng nghĩ thầm: “Thế này thì ngồi vào chỗ nào?” Nhưng người kia đã giảng nghĩa:

- Phòng chớ hàng. Tôi coi cổ ông chổ cẩn thận nhơ cổ tôi.

Tiên chẳng dám nói cám ơn, không phải vì đó là một lời thừa, nhưng vì cho đó là một sự vô lý, hơn nữa, một sự hơi lố lăng, “Thực ra mình đã là chủ chiếc gì đâu!... Chắc hẳn chú Bá Chín đã thuật cho người này nghe cái lý lịch kỳ dị của mình!”

Người Tàu lại đóng cửa buồng kho lại, rồi đưa Tiên và bà cửu ra gian nhà ngoài. rộng, nửa trong có cái bức bàn cao độ hai thước, màu sơn xanh đã cũ, bẩn, ngăn làm buồng ngủ. Cửa ra buồng đóng chặt và có màn vải hoa in, màu đỏ che phủ ngoài cánh cửa. Người quản lý trỏ, nói:

- Tây là phòng ông chổ.

“Còn phía ngoài hẳn là phòng khách của ông chủ và nhà thờ ông thân sinh ông chủ”. Tiên nghĩ vậy, vì trông thấy sau cái rèm vải tây đỏ và trên chiếc bàn gỗ mộc cao, cái bài vị đặt trong bộ ngai nhỏ sơn son thiếp vàng. Hai bên nào ống hoa, ống hương, đèn nến, Tiên ngắm nghía và tự nhủ thầm: “Thì ra người Tàu cũng thờ phụng như người mình!” Chàng suýt phì cười vì nhận ra rằng mình là người Tàu lại bảo người Việt Nam là “người mình”.

- Mời ông chổ ngồi chơi. Mời bà ngồi chơi.

Người quản lý xuống nhà, để hai mẹ con “ông chổ” ở lại. Tiên nhìn quanh phòng một lượt rồi nói khẽ, bảo bà cửu:

- Tất cả có mười cái ghế. Các viên hội đồng ngồi hết tám ghế, còn thừa hai chiếc mẹ một, con một.

Bà mẹ mỉm cười sung sướng:

- Khi nào tôi nghĩ rằng bao nhiêu hàng hóa, bao nhiêu đồ đạc trong cái nhà này là của anh cả thì tôi chỉ chực khóc.

* * *

Nửa giờ sau, một người Tàu vào phòng. Người ấy vận trào phục: mũ nồi có chỏm, áo nhiễu màu tím dài chấm gót.

Bà cửu lo sợ run lẩy bẩy đứng dậy, đoán chắc đó là một viên trong ban hội đồng thẩm duyệt. Và bà tưởng thế nào viên đó cũng đến ngắm Tiên mà nhận xét kỹ càng.

Nhưng trái lại, người Tàu như không trông thấy có ai, đi thẳng ra ngoài hiên, ngồi lên một cái đôn sứ, thong thả đánh diêm hút tẩu. Phảng phất mùi thuốc bào bay vào trong phòng.

Muốn phá sự yên lặng khó chịu, bà cửu bảo Tiên:

- Thơm thật! Người ta nói trong thuốc bào có thuốc phiện, chả biết có đúng không nhỉ?

Không thấy Tiên trả lời, bà lại hít mạnh ngửi rồi nói:

- Hừ! Thuốc lá Thành Xương anh ạ, thơm quá!

Tiên vẫn ngồi im, như nhọc mệt lắm không muốn nói. Ở ngoài hiên, người Tàu không ngồi trên đôn nữa, đứng dậy đi đi, lại lại bên hàng chậu sứ và chậu sành trồng những cây da báo và lưỡi hổ để lâu ngày không tưới đã héo, khô rũ xuống. Người ấy mang giày vải nên đi rất êm lặng. Giá bóng cải áo dài, cái mũ chỏm không phản chiếu vào cửa kính thì bà cửu vẫn tưởng người ấy còn ngồi nguyên chỗ cũ.

Bà ghé lại bên tai con thì thầm:

- Hay không phải, anh ạ.

Tiên hơi chau mày:

- Không phải hội đồng... Vì không thấy đả động gì đến anh... Mà sao trẻ thế, chẳng nhẽ bạn... chú Si mà lại trẻ thế?

Tiên nhún vai:

- Chả cứ! Chẳng hạn con chơi với người độ mười bảy, mười tám, vậy khi con ngoài năm mươi thì có phải người bạn của con mới băm nhăm, băm sáu, hay quá lắm, gần bốn mươi thôi không.

- Ờ, nhỉ!

Hai mẹ con im bặt, vì nghe thấy người Tàu vừa ê a hát khe khẽ, thỉnh thoảng lại hắng dặng và khạc nhổ để lấy giọng cho trong mà bắt chước tiếng the thé của cô đào. Bà cửu mỉm cười khen:

- Hay nhỉ!

Tiên lại nhún vai. Bỗng người Tàu chạy vào trong phòng hỏi Tiên một câu tiếng khách rất dài, Tiên nghiễm nhiên trả lời:

- Tôi không hiểu.

Tức thì người Tàu yên lặng quay trở ra hiên và lại ê a cất tiếng hát.

- Dễ chú ấy điên đấy, anh ạ.

- Không phải điên.

Lúc ấy cửa phòng lại mở. Hai người Tàu đã có tuổi, một người đàn ông, một người đàn bà, thong thả bước vào. Người đàn bà hỏi một câu tiếng khách. Không thấy trả lời, người ấy hỏi câu tiếng Việt Nam:

- Chưa ai đến?

Bà cửu nhanh nhẩu đáp:

- Thưa đã có một chú, ở ngoài hiên kia.

Người đàn bà lại gần Tiên hấp háy mắt, đăm đăm nhìn vào tận mặt chàng, rồi lắc đầu nói tiếng khách bảo chồng. Bà cửu lo sợ, mặt nóng bừng, mồ hôi chảy ướt trán. Nhưng khi thấy người đàn ông gật luôn hai, ba cái, thì bà lại hơi hoàn hồn. Ý chừng người đàn bà Tàu muốn cho mẹ con người Việt Nam hiểu nên vội nói:

- Không giống... không giống chú Si một tí nào sất.

Nhưng người chồng, một là có bụng tốt, hai là không bao giờ muốn đồng ý với vợ, cãi lại liền:

- Giống đấy chứ!

Rồi quay lại bảo Tiên:

- Tôi là chú Chen-kong-koo. Đây là thím Chen-kong-koo.

Đoạn, chẳng thèm đợi câu trả lời, Chen và vợ ra liền, cùng người Tàu thứ nhất nói chuyện om sòm...

Tiên chán nản lắc đầu, nhìn mẹ.

- Không sợ, anh ạ! Cốt nhất chú Bá Chín. Chú Bá Chín mà nhận đúng, thì chắc được rồi.

Tiên tức tối, và không thể nhịn được nữa, lớn tiếng gắt:

- Con cần gì chú Bá Chín với các chú Chen, chú Koong, chú Kooc!... Con rõ dại quá, nghe lời dỗ ngon dỗ ngọt của mẹ đến làm trò cười cho bọn họ.

Bà cửu đứng dậy, toan bưng miệng con lại:

- Ấy chết! Sao anh ăn nói quàng xiên thế?

Giữa lúc ấy, hai người qua cửa gác: Người đàn ông vận áo ngắn; quần ngắn và chẽn, đầu đội mũ dạ. Người đàn bà, búi tóc bóng như mỡ, nặng trĩu xuống gáy, vận áo cộc trắng rộng tay, quần lĩnh thâm rộng ống. Chừng ở ngoài nắng mới vào nên chói lóa, hai người cũng nhắm mắt như đương suy nghĩ điều gì. Bà cửu Điệt và Tiên yên lặng ngắm họ rồi gật nhau mủm mỉm cười.

Bỗng người đàn ông mở bừng mắt ra đi thẳng tới chỗ Tiên, hai tay cầm lấy hai vai chàng rồi vừa rướn cổ vừa trợn mắt ghé nhìn tận mặt chàng, vừa nói tiếng Tàu với người đàn bà. Người đàn bà tru lên khóc.

Bà cửu sợ hãi hỏi:

- Cái gì thế chú?

Người Tàu đáp:

- Cải lị, bà kôông pết, yống lắm cơ. Nài cái tai, ồ, cái tai chố Si. Nài cái mắt, ồ cái mắt chố Si. Lại cái miệng nỡ, ồ cái miệng chố Si.

Bà cửu Điệt mừng quýnh vừa khóc vừa kể:

- Ớ chú Si ơi! Con chú đây, chú đi đâu, không về mà nhận lấy con.

Tiên chau mày ngượng nghịu, khó chịu, như khi đi coi hát tuồng gặp cảnh cảm động vụng, khiến từ các vai trò cho chí khán giả đều mất tự nhiên. Chàng nghĩ thầm: “Thì chính mình đương đóng một vai trò rồi còn gì!” Chàng toan đừng dậy xuống gác, thuê xe về nhà để được khuất mắt cái cảnh khả tiếu, nhưng người đàn bà Tàu vừa khóc vừa vuốt tóc chàng và nói liền liền, không cho chàng suy nghĩ nữa:

- Anh Sin ơi, anh không biết đấy, để tôi kể đầu đuôi cho anh hay: Tôi đây cũng như anh cũng là Minh hương đấy mà...

Tiên không hiểu, toan hỏi “Minh hương” nghĩa là gì, nhưng người đàn bà không để cho chàng ngắt lời, nói luôn:

- Ông thân sinh tôi buôn bán ngày xưa giàu nhất, nhì phố này, chẳng may sau sa sút không giàu nữa...

Tiên mỉm cười nghĩ: “Cố nhiên!”

- Còn thân mẫu tôi họ Nguyễn là người Việt Nam.

Tiên cười lên tiếng vì chàng ngẫu nhiên vừa nhận ra được nghĩa chữ Minh hương. “Minh hương là khách lai! Thế thì mình là Minh hương đứt đi rồi!”

Nghe thấy Tiên cười, người đàn bà ngừng bặt, nhìn chàng một giây rồi lại nói:

- Tôi với nhà tôi quen thân với thân phụ anh lắm, chơi với nhau như anh em ruột thịt, giúp đỡ nhau trong khi hoạn nạn, vui buồn có nhau. Tôi dám chắc rằng giá ngày thân phụ anh qua đời mà vợ chồng tôi đã bị sa sút rồi thì thế nào cũng cấp cho vài nghìn. Nhưng lúc bấy giờ, nhờ trời vợ chồng tôi hãy còn đủ ăn đủ tiêu, nên chẳng cần ai giúp đỡ... Bây giờ thì... anh Sin ơi...

Tiên đỡ lời:

- Bấy giờ chú thím nghèo thì đáng được giúp đỡ lắm. Nếu quả thật Trời Phật run rủi cháu được nhận cha cháu và được hưởng cái gia tài của cha cháu để lại, thì thế nào cháu cũng theo ý cha cháu mà biếu chú thím ít ra là một nghìn bạc.

Người bàn bà lại òa lên khóc. Bà cửa cũng sung sướng khóc theo, vì bà cho việc biếu tiền kia là mưu mẹo khôn khéo của con bà. Bà nghĩ: “Chốc nữa họp hội đồng, thế nào cũng được vợ chồng chú khách này cãi cho con mình giống bố như đúc”.

Tiên hỏi:

- Thưa, quý hiệu chú thím là gì, cho cháu được biết.

- Tên chú là So-toung-Mằn, chữ Nho là Tô-đông-Văn ấy mà.

- Thưa, chú có họ với ông Tô-đông-Pha?

Người kia ngơ ngác:

- Không, ông Tô-đông-Pha nào thế?

Đồng hồ đánh năm tiếng. Bà cửu áy náy, mong mỏi chú Bá Chín.

Chỉ mấy phút sau, chú ta với vợ cùng đến. Một người nữa tóc bạc phơ, lưng cúi lom khom, lần từng bước theo lên thang gác.

Ly-pak-Kong tức Bá Chín lên đến cầu thang gác đứng dừng lại nói chào mọi người, rồi đăm đăm nhìn về phía Tiên ngồi, nét mặt tỏ hết vẻ kinh ngạc.

Bà cửu Điệt nghe rõ tiếng đập mạnh của trái tim trong ngực. Bà nhịn thở, há hốc mồm đứng chờ. Bỗng Ly vỗ tay cười phá lên, cười lăn, cười lộn, cười đến nỗi để rơi cái điếu thuốc bào xuống sàn mà không biết. Ba người Tàu nói chuyện ở hiên, trịnh trọng bước vào rồi yên lặng đứng nhìn. Mãi vài phút sau Ly mới nói được một câu tiếng khách, rồi dịch luôn ra tiếng Việt Nam:

- Thôi không cần phải so sánh với ảnh nữa, vì con chú Si giống chú ấy như đúc...

Bà cửu kêu rú lên, nằm vật ra cái ghế tràng kỷ gụ. Mấy người đàn bà Tàu vội chạy lại nâng bà dậy, và thím So-toung-Mằn mở ngay nút lọ dầu ra, rồi vừa xoa dầu, xoa ngực, xoa gáy, xoa gang bàn chân bà cửu Điệt, vừa hỏi dồn:

- Bà tỉnh chưa? Bà sao thế? Bà tỉnh chưa?

Bà cửu mở mắt mỉm cười:

- Cám ơn các thím, tôi không sao cả. Tôi chỉ hơi cảm động.

Rồi bà tru lên khóc:

- Ới chú Si ơi! Con chú đó... chú không về mà nhận lấy con... Con chú tôi nuôi nấng thành người cho chú, chú ở dưới suối vàng có thấu cho chăng? Ới chú Si ơi...

Bỗng Ly-pak-Kong tức Bá Chín đứng thẳng người lên nắm tay đấm xuống bàn ba cái. Tức thì ai nấy im bặt. Ly dõng dạc nói bằng tiếng Việt Nam:

- Tôi hỏi hai câu này trước khi họp hội đồng thẩm định. Câu hỏi thứ nhất: “Ở đây ai không hiểu tiếng Việt Nam? không ai?”

Mọi người đáp.

- Không ai.

Vậy tôi xin nói bằng tiếng Việt Nam, vì có hai người không hiểu tiếng Trung Quốc, mà hai người ấy quan trọng nhất trong bọn chúng ta. Câu hỏi thứ hai: “Có ai không nhận ngay được Leung-fat-Sin đây là con bạn Leung-fat-Fa của chúng ta không?”

- Có, tôi!

Ai nấy quay lại nhìn thì là Kouang-hing-Shan, người đến trước nhất.

Ly liền mở cặp lấy ra một cái ảnh phóng đại giơ lên mà nói rằng:

- Xin ngắm kỹ bức hình này, rồi so sánh với Leung-fat-Sin.

Một tiếng “À”! dài đáp lại. Vì ai cũng nhận thấy hai cha con giống nhau như lột. Bà cửu Điệt không giữ nổi cảm động lại kêu rú lên. Ly nói tiếp:

- Bây giờ thì không phải bàn đến sự giống hay không giống nữa, chúng ta đều chắc chắn rằng Leung-fat-Sin có mặt ở đây là con bạn quá cố của chúng ta. Và cái gia tài của bạn hiện tôi tạm giữ nay xin giao trả con bạn. Anh em bằng lòng cả?

- Bằng lòng!

- Vậy xin làm biên bản buổi họp hội đồng hôm nay.

Ly lại mở cặp lấy giấy, mực viết một bản chữ Nho, đọc và dịch ra tiếng Việt Nam cho mẹ con bà cửu nghe, rồi đưa cho mọi người ký tên xuống dưới.

Đoạn. Ly đốt hương, thắp nến trên bàn thờ quỳ trước án khấn khứa hồi lâu. Chừng làm lễ vừa xong, bà cửu bước liền vào chiếu ngồi lạy và khóc. Đến lượt Tiên, chàng do dự ngần ngại không biết nên bắt chước Ly lạy theo lối Tàu, nghĩa là quỳ gối xòe hai tay ra gục đầu xuống chiếu, hay theo lễ nghi Việt Nam lên gối xuống gối, khom lưng phủ phục. Chàng còn đương suy nghĩ chưa nhất định, thì Ly đã đến gần, bảo chàng phải theo lễ chế Trung Quốc.

Chàng kính cẩn quỳ bốn lần trước bàn thờ và tưởng không sao nhịn cười được, đến nỗi muốn tránh sự khiếm lễ, chàng phải vờ thương xót cha, lấy tay che miệng khóc nức nở.

Mọi người thì thầm khen chàng có lòng hiếu thảo. Nhưng Kouang-hing-Shan bĩu môi nói:

- Háo tsìn, hà! (Hiếu tiền)

vinaguy
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.