Sáng sớm hôm sau, bà cửu Điệt về làng để hỏi dò tin tức “chú Si”. Bà đã toan giao việc cho con dâu, vì bà sợ nếu người làng nhận ra được bà thì bà sẽ bị họ tỏ ý khinh bỉ, hay thốt lời gièm chê. Nhưng suy đi tính lại, bà cho rằng việc khó khăn không thể phó thác con dâu được. “Vả lại, đã gần ba mươi năm rồi, còn gì!”
Ý nghĩ ấy đưa sự bạo dạn quả quyết vào tâm hồn bà cửu và an ủi bà đôi chút, vì bà thấy cái thời phạm tội đã xa lắc xa lơ. Bà lạnh lùng nhắc lại: “Đã gần ba mươi năm nay rồi, còn gì!” Và cảm thấy bình tĩnh tràn lòng, thản nhiên với hết mọi sự.
Nhưng sự bình tĩnh, sự thản nhiên biến mất khi bà cửu Điệt chợt trông thấy cây đa bên mấy cái quán chợ ở đầu làng. Lòng bà nao nao, đầu bà nặng trĩu, mắt bà hoa lên. Vì bà thấy sau ba mươi năm, mọi vật vẫn y nguyên không thay đổi. Mấy cái quán mái cói vẫn xác xơ, hàng cột vẫn khẳng kheo xiêu vẹo, nền gạch vẫn sứt sẹo lồi lõm. Nhất là cây đa, cái hình dáng của nó không khác trước mảy may. Đứng xa trông, nó vẫn giống cái quạt đen xòe rộng và rách một góc. Đến gần nhìn kỹ cái gốc cỗi của nó vẫn giữ toàn vẹn đủ các hốc cũ. Và những bình vôi trắng hình như vẫn là những cái đã đặt, đã treo ở đó ba mươi năm về trước.
Nước mắt bà cửu Điệt tự nhiên ứa ra, bà không sao giữ nổi. Bà lẩm bẩm: “Trời ơi, ba mươi năm rồi, mà ta tưởng như mới hôm qua!”
Trong mấy phút, cả cái thời kỳ thơ ấu và thanh xuân hiện ra với những trò đùa nghịch, với những sự khốn khổ, với những người họ hàng, xóm mạc thô bỉ, đanh đá, ác nghiệt.
Gặp hai người làng, bà cửu Điệt nhớ ngay đến việc của mình. Bà liền xuống xe toan hỏi thăm. Nhưng bà lại thôi, vì thấy hai người ấy vào trạc tuổi mình, bà chắc họ biết tường tận câu chuyện ngày xưa. Muốn họ không ngờ vực về cái cử chỉ đột nhiên của mình, bà cửu cúi xuống vờ đếm tiền để trả phu xe, tuy bà đã thuê khứ hồi từ phủ Lý. Chờ họ đi xa, bà bảo anh phu xe theo bà vào một cái quán bỏ không đứng nghỉ mát. Chị hàng nước ở trong túp lều lụp xụp phía bên kia đường thò đầu ra chào mời:
- Rước cụ sang xơi nước đã.
Bà cửu mỉm cười: “Người này hẳn chưa đẻ khi ta bỏ làng ra đi”. Liền bước vào hàng bảo rót nước rồi hỏi:
- Hôm nay không có phiên chợ?
- Thưa cụ có đấy, nhưng vãn rồi, vì phiên chợ vải chỉ họp có buổi sáng. Ý chừng cụ định về mua vải?
Bà cửu vụt nhớ ra rằng làng mình vẫn có nghề dệt vải, và cứ cách năm ngày lại có phiên chợ bán vải tấm.
- Phải, tôi định về mua vải nhưng đến huyện gặp người quen mời vào nhà chơi, thành thử nhỡ mất cả công việc.
- Thưa cụ, cháu có hơn một tấm, cụ mua giúp cho.
- Thôi để phiên sau tôi về mua nhân thể cho tiện.
Rồi bà ngập ngừng hỏi:
- Hình như ở làng này xưa... nay vẫn có một hiệu khách, phải không?
- Thưa cụ vâng. Năm ngoái có những hai hiệu cơ đấy. Nhưng buôn bán chẳng ra gì, nên một hiệu vừa mới dọn lên huyện, chỉ còn có một hiệu.
Bà cửu chưa tìm được cách gợi chuyện, thì cô hàng nước đã nói tiếp:
- Hiệu này có đã lâu lắm, từ ngày chưa có cháu cơ, nghe đâu chú chủ này là con chú chủ trước cơ đấy.
Chân tay bà cửu run lẩy bẩy. Vừa thoáng hiện ra trong trí bà ba gian nhà lợp rạ với cái giàn nứa có thiên lý leo và bỏ rũ qua mắt cáo những chùm hoa vàng thơm ngát.
- Chú Si?
- Thưa bà bảo gì cơ ạ?
- Không... À... Chú Si... bác có biết chú Si không? Chú khách Si ấy mà?
Thấy người bán hàng nhìn mình nghĩ ngợi, bà cửu Điệt lo lắng, vì bà sợ người ấy đoán biết mình là ai. Bất giấc bà cúi xuống bưng bát nước lên để uống.
- Thưa bà, cháu chỉ thấy người ta gọi chú này là chú chủ, chả biết có phải chú ấy là chú khách Si không? Thưa bà, chú ấy mới có một tí tuổi đầu mà khôn đáo để, đánh tổ tôm, hút thuốc lào, ăn trầu, như người mình.
Bà cửu nghĩ thầm: “Mới một tí tuổi thì không phải là chú Si rồi. Chắc người này chả biết đâu”.
Uống cạn bát nước, bà cửu trả tiền và toan đứng dậy thì một ông già sờ soạng bước vào. Chị hàng nước vội quát:
- Cu ơi, sao mày không dắt ông, kìa!
Tuy có tiếng gọi, nhưng chẳng ai ra. Ông lão sờ lần ngồi xuống cái chõng nát. Bà cửu đăm đăm nhìn và thấy ông ta giống ông xã Võng, thuở trước vẫn đến đập lúa ở nhà chồng bà: “May mà ông ta lại lòa!”
- À ông này, ông có biết chú chủ tên là gì không nhỉ?
Ông lão ngồi im mấy giây rồi đáp:
- Chú chủ à? Tao cũng chẳng biết tên chú ấy là gì. Tao chỉ nghe người ta gọi chú ấy là chú chủ thôi.
- Vậy không phải chú ấy là chú Si.
Ông lão mỉm một nụ cười bí mật:
- Chú Si à? Mày biết chú Si thế nào được? Chú ấy làm công cho chú chủ trước cơ, chú chủ bố chú chủ bây giờ. Ngày ấy tao cũng còn trẻ, mà dễ chưa có mày.
Ngồi chờ mãi vẫn không thấy ông lão lòa nói nữa, bà cửu liền hỏi:
- Thế bây giờ chú ấy ở đâu?
- Chú nào?
- Chú Si ấy mà?
- Còn ai biết chú ấy ở đâu! Mà cũng chẳng rõ chú ấy còn sống hay đã chết. Chuyện chú ta lôi thôi lắm. Ấy ngày cô Hồng, con dâu cụ chánh bỏ làng đi mất rồi, thì được ít lâu chú ta cũng bỏ đi nốt.
Ông lão cười hè hè nói tiếp:
- Chừng lại đi tìm nhau chứ gì!
Bà cửu Điệt thẹn nóng cả mặt, nhưng còn cố hỏi một câu nữa:
- Vậy ra ông không biết chú ta ở đâu, còn sống hay đã chết?
- Không. Tôi biết thế nào được! Muốn biết chỉ đến hỏi chú chủ, may ra chú ấy biết.
Bà cửu đứng dậy ra đi. Bà hiểu rằng đi từ đầu làng đến cuối làng để vào hiệu khách hỏi thăm chú Si là một việc rất nguy hiểm. Nhưng vì thương con, bà cũng chẳng cần nề hà điều gì: “Dù người ta nhận được ra mình thì đã sao! Mình có còn về ở làng, ở xóm nữa đâu mà sợ!”
Bà cửu liền lên xe, bảo kéo. Rồi muốn cẩn thận hơn, bà dùng vạt áo sau trùm kín đầu, làm như mình sợ gió, sợ nắng.
Không phải tìm tòi, người phu kéo đặt càng xe xuống cửa một hiệu tạp hóa bên đường và nói:
- Thưa cụ, có nhẽ đây.
Thực ra bà cửu cũng biết chắc chắn là đúng. Sau ba mươi năm, hiệu vẫn không đổi khác, vẫn cái giàn nứa, tuy mới dựng lại và có vẻ đỏm dáng hơn xưa, vẫn những thúng và quả sơn đựng đầy nào miến, nào mộc nhĩ, nào nấm, nào đường cát, vẫn những cái thạp sành cao và những cái hòm gỗ vuông đựng chè gói và bày ở trong cái tủ đứng, cánh cửa căng dây thép đan. Người Tàu không hề chịu đổi cách xếp đặt, cũng như không muốn đổi chỗ ở, khi họ đã tìm được một nơi thuận tiện cho việc buôn bán của họ.
Sau khi đã mua và trả tiền một gói chè, bà cửu Điệt nóng biết, hỏi thẳng ngay, chẳng thèm giữ gìn nữa:
- Này chú, ngày xưa ở hiệu có chú Si làm công, phải không?
Chủ hiệu ngẫm nghĩ rồi nói tiếng Việt Nam rất sõi đáp lại:
- Chú Si! À phải, chú Si. Ngày còn nhỏ tôi thường nghe thân phụ tôi nói đến chú Si.
Đoạn, mỉm cười nói tiếp:
- Nghe đâu chú ta phải lòng một cô, rồi hai người đưa nhau lên Hà Nội. Có người bảo chú ta làm công cho một hiệu lớn ở phố Hàng Bồ.
- Chú chắc?
- Tôi cũng biết thế thôi, chứ chắc thì không chắc lắm.
Chiều hôm ấy, bà cửu Điệt trở về phủ, đáp tàu thủy đi Hà Nội. Bà muốn biết ngay tung tích người Tàu lạ lùng kia mà tin lời thầy bói, bà đoán chắc đã chết rồi.