Ông khách hàng tương lai của Duy là một nhà vận tải bằng thuyền trên sông Thương, sông Cầu. Ở vùng Bắc Giang người ta chỉ quen gọi là ông nghị, hoặc ông nghị Đá... Ít ai biết tên ông ta là gì. Mười năm trước, ông ta có trúng cử nghị viên dân biểu. Ra làm nghị viên ông ta cũng chẳng phải vì ham cái chức, cái hư danh ông nghị. Ông ta là người ưa thiết thực, hay nói theo chữ mới trong văn chương hiện thời, ông ta thuộc phái “duy vật” và chẳng khi nào chịu mua một cái hư danh bằng một món tiền nhỏ đến đâu mặc lòng. Ra tranh nghị viên cũng chẳng phải ông ta muốn đem ba tấc lưỡi và khối óc vị tha ra làm việc cho nước, cho tình nhà, hay huyện nhà, hay xã nhà.
Vậy sở dĩ ông “Đá” ra tranh nghị viên mục đích chỉ vì lợi, vì từ lợi ông nghe rục rịch chính phủ sắp tăng thuế vận tải về tàu, thuyền, nên cần phải có chân trong viện để tự bênh vực lấy quyền lợi. Quả thực khóa ấy trong suốt ba năm, ông ta chỉ có mỗi một lời thỉnh cầu: thỉnh cầu đừng tăng thuế vận tải trên các mặt sông ở tỉnh Bắc Giang. Và trong ba kỳ họp hội đồng khai mạc đồng niên, ông ta bàn rất kịch liệt về mỗi một vấn đề quan trọng: “Không nên tăng thuế vận tải trên sông trong hạt Bắc Giang”. Trong khi anh em đồng sự đôi co nhau kịch liệt về các vấn đề khác, ông nghị “Đá” ngồi như ngủ gật, như câm, như điếc. Nhưng hễ thoáng nghe tiếng “nước”, tiếng “sông”, tiếng “thuyền bè” là ông vụt tỉnh như sáo nỏ mồm như khiếu, sáng tai như con mèo rình chuột.
Còn như cái tên Đá, người Bắc Giang gọi tặng ông nghị của chúng ta thì không phải nó mới có từ khi ông trúng cử nghị viên.
Thực ra nó có từ ngày ông nghị còn hàn vi. Thoạt tiên, người ta gọi ông là bác phó Đá, - ông xuất thân làm nghề đập đá. Rồi từ chức phó Đá dần dần lên chức bác cai Đá, ông thầu Đá, ông chủ Đá, sau cùng ông lên nghị Đá. Đến đây thì nghĩa chữ “đá” không còn ăn nhập với cái chức nghị nữa, nên nhiều người tưởng tên ông là Đá.
Một số đông tuy biết tên ông, nhưng lại hiểu cái huy hiệu “đá” theo một nghĩa khác, nghĩa bóng chứ không phải nghĩa thực của nó nữa. Họ bảo đá là kiệt, là keo cú, bẩn thỉu, là rắn nặng như khối đá không ai đào được, cạy được, vần chuyển được.
Cái tính biển lận của ông ta đã hầu thành ngạn ngữ. Và người ta thuật đến lắm chuyện nực cười. Họ bảo ông nghị Đá đi cũng kể lể, phô trương, khoe khoang cái nghèo cái túng của mình ra. Hồi đó ông ta chưa trúng số năm vạn, nên không ai biết đích rằng ông ta giàu vào bậc nào, tuy chỉ đồn đại rằng ông ta giàu lắm. Ông ta hết sức cải chính cái tin đồn ấy bằng lời nói, bằng dáng điệu nhũn nhặn nhu mì, bằng y phục cũ kỹ, luộm thuộm.
Khi ngồi tiếp chuyện khách khứa, ông ta thường thốt ra những câu khen ngợi: “Gớm! sao ông ấy giàu thế nhỉ! Làm cái nhà hết bốn, năm nghìn đồng bạc. Giá mình mà có năm nghìn, thì chẳng còn lo gì không đủ ăn, chẳng còn lo gì chết đói”. Nếu khách hỏi đến năm trăm mẫu ruộng và hàng chục thuyền bồng vận tải của ông ta, thì ông ta sẽ thở dài phàn nàn: “Kinh tế này có nhiều ruộng là một sự khổ. Lấy gì mà đóng thuế! Còn công việc vận tải khỏi lỗ là tốt”.
Nhưng từ hôm ông ta trúng số năm vạn, thì ông ta lấy làm khổ sở quá, vì cái giàu của ông ta, ông ta không giấu được nữa. Ai nấy đều biết rằng hiện giờ ít ra ông ta cũng giàu tới năm vạn bạc. Hôm xem báo thấy in trên trang nhất, dòng chữ lớn: “Nguyễn văn Hào ở Bắc Giang trúng số năm vạn đồng”, ông ta căm tức, lẩm bẩm nói một mình. “Sinh ra cái giống báo chí thực là tai hại. Họ chỉ mò mẫm rình xem ai có cái gì hơi lạ một tí thì họ nêu phăng ngay lên. Mình trúng số năm vạn mặc kệ mình có được không, việc gì mà phải rêu rao. Thôi, từ nay còn ai không biết mình có năm vạn bạc nữa! Họ lại còn vô công rồi nghề ngồi đoán xem mình sẽ dùng số tiền ấy để làm gì. Để làm gì thì mặc xác bố tôi. Thế thôi. Để làm gì? Hẳn là không phải để biếu các ông nhật trình nhật báo hay thóc mách”.
Một hôm đứng trong sân coi thợ ngõa xây cao thêm, dày thêm dãy tường phía trước, ông nghị chợt nghe tiếng còi điện ô tô hét lên. Ghé mắt nhòm qua khe cánh cửa, ông thấy một người mặt đồ tây sang trọng ngồi trong xe và người tài xế lại đấm cổng. Ông sợ hãi hỏi:
- Ai?
Tiếng ở ngoài cổng đáp:
- Tôi hỏi đây có phải nhà ông nghị Hào không?
- Phải.
- Ông chủ bút báo “Thời Thế” về chơi ông nghị.
Nghe đến tiếng “báo”, ông nghị tái mặt đi, vội trả lời:
- Ông nghị tôi đi vắng.
Người tài xế quay lại nói với chủ:
- Thưa ông, ông nghị đi vắng.
Ông chủ bút cau mày, tỏ vẻ khó chịu. Rồi xuống xe đến cổng, nói vào:
- Vậy ông nghị về, anh nói tôi đến phỏng vấn ông về việc ông trúng số và xin ông một bức ảnh để đăng lên báo nhé. Hôm nào ông nghị có nhà sẽ cho tôi biết để tôi về.
- Vâng.
Khi nghe tiếng ô tô mở máy, ông nghị vái dài nói:
- Tôi xin kiếu hết các ông nhật trình nhật báo. Các ông mà đăng ảnh tôi lên cho ai ai đều biết mặt, biết mũi tôi thì chẳng thà các ông cứ đâm ngay cho tôi một nhát dao vào cổ họng.
Nhưng dù thoát được cuộc hội kiến với ông chủ bút báo “Thời Thế”, ông nghị “Đá” vẫn chưa bớt lo, ông ta biết chắc chắn rằng thế nào rồi cũng còn nhiều ông chủ bút, ông trợ bút, ông bỉnh bút, ông phóng viên các báo khác đến phỏng vấn và xin ảnh. Ông ta liền gọi hết cả con cái, vú bõ, đầy tớ đến dặn nhỏ rằng phàm ông khách nào, bất cứ quen hay lạ mà có dính dáng tới nhà nhật báo, nhà nhật trình thì chớ cho vào. Dù việc cần đến đâu cũng mặc. Mắt ông nghị nhớn nhác có vẻ sợ hãi đến nỗi người vú em tưởng “nhà nhật báo, nhà nhật trình” toàn là những tay hung tợn ghê gớm, chỉ chuyên một việc đi bóp cổ các ông giàu sụ để nã tiền. Vú liền cất giọng run run trả lời chủ:
- Thưa ông, nhà ta cổng vững tường cao, mà lại có súng. Sợ gì!
Ông nghị cười híp cả mắt, vì lấy làm sung sướng được nghe vú em lầm hạng người mà ông ghét với bọn giặc cướp đi tống tiền nhà giàu. Ông khoan khoái đưa tay lên vuốt từ cái trán hói xuống đến bộ râu mép lưa thưa, rồi ông quay lại nói với bà nghị:
- Bà ạ, nếu bắn họ mà không tù tội, thì tôi đã bắn rồi. Bà còn nhớ ngày tôi còn tại viện, họ vẽ tôi béo xị như con lợn ỉ với bộ mặt vêu như anh chàng Bát giới không?
Bà nghị ngắm nghía chồng, ngẫm nghĩ: “Thì ông chẳng béo là gì?” Và bà mỉm cười, đáp:
- Người ta vẽ ông để làm gì?
Ông chồng giọng tức tối:
- Nào biết để làm gì? Chừng để kín giấy đấy thôi.
Bà vợ vẫn mỉm cười, nghĩ thầm: “Kín giấy! Nếu để kín giấy thì thiếu gì người đẹp họ chẳng vẽ, lại đi vẽ ông!”
- Không có quan trị nhậm hay sao mà để họ muốn bôi bác vẽ ai thì vẽ như thế, hở ông?
- Quan trị nhậm à? Thì quan trị nhậm, họ cũng chẳng sợ.
Bà nghị ngờ vực:
- Nhưng chắc họ chẳng dám vẽ xấu như khi họ vẽ ông.
Ông nghị bĩu môi:
- Chẳng dám! Thế thì bà chẳng biết gì cả! Tôi dặn bà câu này, nên nhớ kỹ lấy. Hễ gặp bọn họ dù ở trên xe hỏa, hay ở đâu cũng vậy, bà chớ nói năng gì mà họ đem đăng ngay những cái rởm của bà lên báo thì khốn đấy!
Bà nghị nguýt dài:
- Ông rởm ấy có được không. Ông không rởm mà ông lại nói thế! Vì tôi biết sao được họ là người nhà báo nhà bổ...
- Điều ấy rất dễ nhận, cứ thấy người nào đeo kính trắng giương mắt nhìn tròng trọc vào miệng bà đương nói chuyện, rồi mở quyển sổ con ra cầm bút chì hí hoáy biên chép... thì người đó chỉ có thể là người nhà báo.
Bà nghị gắt:
- Ông lắm điều thế không trách được! Chứ tôi thì tôi sợ gì họ. Tôi giết người lấy của, không. Tôi ăn không, nói có, không. Thế thì họ làm gì tôi tốt. Người nào xấu thì người ấy lo, chứ mình làm sao mà sợ họ?
Ông nghị tỏ vẻ khinh bỉ, quay ra dặn lại bọn gia nhân:
- Chúng mày nhớ nhé, hễ ai đến chơi mà nói là nhà nhật báo, nhật trình thì bảo tao đi vắng.
- Vâng.
- Thôi được tao dặn có thế.
Rồi ông nghị hấp tấp lên gác để đứng chỉ bảo cho bọn thợ nề xây chấn song sắt vào các cửa sổ. Những cửa sổ ấy, trước cũng đã có chấn song gỗ cả, nay ông thay chấn song sắt, nói để trang hoàng cho đẹp mắt, nhưng kỳ thực chỉ cốt được vững chãi, kiên cố hơn. Vì không lúc nào ông nghị Đá thấy sự đề phòng cần thiết bằng lúc này.
Nhưng sự đề phòng quá cẩn mật của ông nghị chỉ có những kết quả thiệt hại cho ông ta. Không phải thiệt hại đến tài sản, tính mệnh, nhưng thiệt hại đến danh dự nhiều lắm. Mà sự đó lại gây nên bởi báo chí, thế thì phỏng ông không ghét báo chí sao được?
Trước kia ông nghị cũng chẳng mua báo. Nhưng nửa tháng sau khi mở số, hai nhà báo hàng ngày ở Hà Nội hỏi dò biết được tin ông trúng số năm vạn, liền đăng bài nói tới ông ở trang đầu một cách rất vẻ vang, rồi gửi số báo ấy cho ông để mời ông mua một năm. Xem xong, ông nghị vò nhàu tờ báo và toan gửi trả lại. Nhưng may có bà vợ biết điều khuyên ngăn mãi, ông mới thôi và chịu mua cho mỗi nhà báo nửa năm.
Bà nghị nói:
- Ông thử nghĩ xem, mình giàu có hay không, trước chẳng ai biết đấy là đâu. Nhưng nay mình vừa trúng số năm vạn, mà nhật báo họ đã đăng tin thì hẳn ai ai cũng rõ. Nề hà gì mươi đồng bạc mà chẳng mua cho họ một năm?
Ông nghị gắt:
- Không phải tôi tiếc của. Nhưng tôi ghét họ lắm kia.
- Ghét lại càng nên mua. Mua để biết những điều họ nói đến mình.
- Tôi cần gì những điều họ nói. Với lại họ toàn nói bậy ráo. Đây này, bà đọc mà coi, họ đặt điều bảo tôi hứa sẽ cứu giúp dân nghèo đói. Nào tôi có hứa thế bao giờ! Họ lại còn nịnh khéo mình rằng mình sẽ làm việc thiện một cách kín đáo. Hừ, kín với hở gì chẳng biết, chỉ biết họ nói điên.
Bà nghị cười.
- Họ khuyên mình làm việc thiện đấy chứ gì.
- Ai khiến khuyên với răn, rõ khéo! Thôi, mỗi cái làm ơn mua cho họ, mua cho mỗi nhà báo nửa năm, rồi xếp họ lại không nói đến nữa, thế là hơn hết.
Nhưng nào “họ” có chịu biết ơn ông nghị và không nói đến ông! Ngay hôm sau, mở tờ báo Thời Thế, ông nghị đã phải để ý đến một câu chuyện khôi hài đăng ở trang đầu: Chuyện một ông mới giàu rào cửa sổ lại và xây cao tường lên.
Đó là một sự bực mình.
Nhưng đã thấm vào đâu với sự bực mình thứ hai. Cánh mấy hôm sau, báo Ha-thành đăng ở ngay giữa trang đầu một bức ảnh khôi hài, với mấy dòng chữ lớn sau này:
“Bản báo phóng viên đã mấy lần lên Bắc Giang để chụp hình ông nghị Nguyễn văn Hào người trúng số năm vạn, nhưng đều không có hân hạnh được gặp ông nghị. Để giới thiệu ông với độc giả, bản báo đành phải trưng tạm bức phóng bút trên này. Đó là tác phẩm của Divolo họa mười năm về trước, khi ông Nguyễn văn Hào đương làm nghị viên dân biểu”.
Ông nghị tức uất, hầm hầm xé nhỏ tờ báo ra và ứa nước mắt bảo vợ:
- Đấy, bà coi, làm ơn cho họ nhiều vào! Cái tranh béo như lợn ỉ với bộ mặt vêu như Bát Giới mà tôi nói chuyện với bà đấy.
Bà nghị vẫn thích trêu tức chồng, liền cười đáp:
- Mua nửa năm báo mà bảo là làm ơn được! Vả lại, ông cứ coi như một sự đùa bỡn có hơn không? Chứ tức giận phỏng ích gì? Chỉ tổ làm cho những người quen biết người ta càng giễu cợt.
Ông nghị chẳng thể coi như một sự đùa bỡn được! Ông dọa sẽ thôi không mua báo Hà-thành nữa. Hiềm một nỗi ông đã trót trả tiền trước mất rồi.
Cơn giận chưa nguôi thì ông nghị lại bị luôn một sự bực tức nữa. Hai hôm sau, báo Thời Thế không những đăng ảnh của một mình ông, mà còn nêu lên một bức ảnh rộng tới bốn cột, trong đó có đủ cả gia đình ông, nghĩa là ông, vợ ông và cô Tình, cô Tính, cậu Cát, ba người con ông. Ông nghị bảo vợ:
- Không biết nó moi cái ảnh này ở đâu ra?
- Nào tôi biết! Nhưng họ đăng ảnh mặc họ có được không?
- Mặc họ à? Đi đâu ai cũng biết tên, biết tuổi, biết mặt, biết mũi mình, bà tưởng dễ chịu lắm đấy?
- Chẳng dễ chịu, nhưng cũng chẳng khó chịu.
Ông nghị cáu kỉnh gắt:
- Mỗi cái bà im đi! Nói chuyện với đàn bà đến bực mình. Chẳng biết cái gì hết!
Ông nghị ra sân, chắp tay sau lưng suy nghĩ: “Không biết ảnh ấy họ lấy ở đâu ra? Thôi, đích nhà mình có nội công rồi! Đứa nào đã ăn cắp ảnh mình đem bán cho họ!”
Ông nghị Đá ngờ oan cho bọn gia nhân của ông. Ảnh gia đình ông, thực ra, báo Thời Thế đã mua bằng một món tiền dăm đồng bạc, nhưng không phải mua của người nhà ông.
Nguyên thấy báo Hà-thành, một tờ báo cạnh tranh kịch liệt với mình, đăng tranh ông nghị Nguyễn văn Hào, tuy chỉ là tranh hài hước, báo Thời Thế sợ bạn đồng nghiệp cướp mất ít nhiều độc giả, liền nghĩ cách kiếm cho bằng được một bức ảnh của ông nghị mới trúng số. Biết ông nghị giấu mặt không cho nhà báo chụp, chủ bút báo Thời Thế viết mật thư lên Bắc Giang giao việc khó khăn cho phóng viên của mình ở đó, vì xưa nay vẫn phục ngài phóng viên ấy về cách làm những việc ngầm kín.
Quả chỉ hai hôm sau, báo Thời Thế nhận được một gói bảo đảm, trong có bức ảnh gia đình ông nghị Nguyễn văn Hào tức nghị Đá. Bức hình ấy, phóng viên mua ở một hiệu ảnh đã chụp cho ông nghị mấy năm trước và còn giữ lại kính ảnh.