Chiếc xe ngựa chở khách cũ kỹ lóc xóc chạy trên con đường bụi mù từ Maplewood đi Riverboro. Mới giữa tháng Năm mà trời oi nóng như đang giữa mùa hè. Bác Jeremiah Cobb chiếu cố cho lũ ngựa hết mức có thể, song vẫn không quên mình đang đi đưa thư. Đồi còn nhiều. Bác thả lỏng đôi dây cương trong tay, uể oải ngả lưng trên ghế và duỗi một chân gác lên miếng chắn bùn xe cho thoải mái. Chiếc mũ vành đã sờn kéo sụp hẳn xuống che mắt, bác bỏm bẻm nhai một miếng thuốc lá bên má trái.
Trên xe có một hành khách - một người nhỏ bé tóc đen mặc váy trúc bâu bóng màu vàng nhạt. Cô bé người mảnh mai quá và ngồi thẳng đừ đến nỗi liên tục bị trượt từ chỗ này sang chỗ khác trên chiếc ghế nệm da, mặc dù cô đã gắng hết sức lấy chân tì sao cho mình ngồi đúng giữa ghế và hai tay mang găng vải bám chặt hai bên để giữ thăng bằng. Cứ lúc nào bánh xe thụt xuống rãnh sâu hơn bình thường, hay bất thình lình nảy xóc lên vì vấp phải hòn đá, là cô bé dù chẳng muốn vẫn cứ bị nảy lên một cái, rồi rơi xuống, thế là lại phải chỉnh lại chiếc mũ rơm nho nhỏ trông rõ buồn cười, rồi nhặt cái dù bé xinh màu hồng lên hoặc đặt lại cho nó ngay ngắn, một việc dường như là nhiệm vụ chính của cô - trừ phi chúng ta tính cả chiếc ví đính hạt cườm, mà cứ chốc chốc, khi điều kiện đường sá cho phép, cô lại dòm vào, và hài lòng ra mặt khi những thứ quý báu trong ấy không mất hay rơi đi tẹo nào. Bác Cobb chẳng biết tí gì về những phiền hà của việc đi lại ấy, bởi công việc của bác là đưa người ta đến nơi họ cần, chứ không nhất thiết phải làm cho họ đi đường được thoải mái. Thậm chí bác còn quên béng sự tồn tại của vị khách bé nhỏ không có gì đáng chú ý này.
Khi bác chuẩn bị rời bưu điện ở Maplewood sớm hôm ấy, một thiếu phụ bước từ xe ngựa chở hàng xuống, tới chỗ bác hỏi có phải đây là xe đi Riverboro, và bác có phải bác Cobb hay không. Khi bác trả lời rằng phải, thiếu phụ liền gật đầu với một cô bé đang háo hức đợi câu trả lời, và cô chạy ngay tới chỗ bà như thể sợ bị muộn mất dù chỉ là một tích tắc. Cô bé áng chừng mười, mười một tuổi, nhưng cho dù đã trải qua bao nhiêu mùa hè thì cô vẫn có vẻ nhỏ hơn so với tuổi của mình. Mẹ cô bé giúp con leo lên xe, đặt bên cạnh con một cái bọc và một bó hoa tử đinh hương, quan sát việc chằng buộc cái rương cũ ở phía sau, và cuối cùng tỉ mẩn đếm từng đồng bạc để trả lộ phí.
“Tôi nhờ bác đưa cháu đến chỗ mấy chị tôi ở Riverboro,” thiếu phụ nói. “Bác có biết Mirandy và Jane Sawyer không? Họ sống ở ngôi nhà gạch ấy.”
Lạy Chúa phù hộ, bác biết họ rõ như thể bác đã sinh ra họ ấy chứ!
“Là thế này, con bé sẽ đến đó, và hai chị ấy đang đợi cháu nó. Xin bác để mắt đến cháu nhé! Cháu nó mà thấy có thể ra ngoài bắt chuyện với người lạ hay rủ người ta đi cùng là nó làm ngay đấy ạ. Tạm biệt con, Rebecca; gắng đừng gây chuyện đấy, và phải ngồi yên, như thế thì khi đến nơi con mới chỉnh tề xinh đẹp được. Mà đừng có làm phiền bác Cobb nhé. Bác thấy đấy, nó đang háo hức lắm. Mẹ con tôi đi tàu từ Temperance đến đây từ hôm qua, nghỉ đêm ở nhà bà chị họ tôi và sáng nay mới đánh xe từ nhà chị ấy đến đây - những tám dặm đấy.”
“Tạm biệt mẹ, mẹ đừng lo lắng; mẹ biết mà, có phải con chưa đi xa bao giờ đâu cơ chứ.”
Thiếu phụ khẽ cười nhạo một tiếng và nói với bác Cobb giọng thanh minh, “Nó mới đến Wareham ngủ lại một đêm; chẳng đáng để mà tự hào là đi xa được!”
“Thế là đi xa chứ còn gì nữa mẹ,” cô bé nói giọng hào hứng và bướng bỉnh. “Rời trang trại này, chuẩn bị bữa trưa cho vào giỏ này, đi xe ngựa một lúc và đi tàu hỏa chạy bằng hơi nước nữa này, mình còn mang cả váy ngủ nữa.”
“Có nói thì cũng đừng nói cho cả làng nghe thế chứ,” người mẹ lên tiếng, cắt ngang dòng hồi tưởng của nhà du hành giàu kinh nghiệm. “Mẹ chẳng dặn con rồi,” thiếu phụ thì thầm, với nỗ lực thiết quân luật cuối cùng, “không được nhắc đến váy ngủ và tất dài và… những thứ tương tự, bằng giọng ông ổng lên thế, nhất là khi có đàn ông con trai xung quanh.”
“Con biết, mẹ, con biết mà, và con sẽ không như thế nữa đâu. Con chỉ muốn nói là…” - đến đây bác Cobb tặc lưỡi một tiếng, quất cương, và đôi ngựa khoan thai bắt đầu công việc hằng ngày của mình - “Con chỉ muốn nói rằng đi xa là khi…” - lúc này chiếc xe ngựa đã bắt đầu đi rồi nên Rebecca phải thò đầu ra ngoài cửa sổ để nói cho hết câu -“Đi xa là khi mà mình mang theo váy ngủ!”
Cái từ cấm kỵ kia, được thốt ra bằng một giọng cao chót vót, bay ngược tới đôi tai khó chịu của bà Randall, bà đứng nhìn theo chiếc xe ngựa đi xa khuất rồi thu vén hành lý trên chiếc ghế dài ngoài cửa hiệu, đoạn lên chiếc xe ngựa chở hàng vẫn đang buộc ở cọc. Quay ngựa định về rồi, bà còn đứng dậy một lúc, khum tay che nắng để nhìn về phía đám bụi đường mờ xa.
“Mirandy sẽ vất vả lắm đây,” bà tự nhủ, “nhưng để Rebecca nên người thì cũng đành thế chứ biết làm thế nào.”
Đã nửa giờ trôi qua, và mặt trời, cái nóng, bụi bặm, cùng những ngẫm ngợi về các công việc phải làm ở khu trung tâm Milltown đã khiến đầu óc chưa bao giờ minh mẫn của bác Cobb quên bẵng đi lời hứa để mắt đến Rebecca.
Bất chợt bác nghe thấy một giọng nói bé nhỏ cất lên át những tiếng lóc cóc lục cục của bánh xe và tiếng cót két của bộ dây cương. Ban đầu bác tưởng là tiếng dế, tiếng ếch, hay tiếng chùn, nhưng khi xác định được nó phát ra từ đâu, bác quay lại thì thấy một hình dáng bé nhỏ nhoài ra bên ngoài cửa sổ vừa sát ngưỡng an toàn cho phép. Một dải đuôi sam đen dài tung tẩy theo nhịp xe ngựa; cô bé một tay giữ mũ tay kia cố gắng một cách vô vọng chọc chọc bác xà ích bằng cái dù tí hin của mình.
“Cháu bảo cái này bác ơi!” cô bé kêu to.
Bác Cobb dừng ngay ngựa lại.
“Ngồi trên đó với bác thì có mất thêm tiền không ạ?” cô bé hỏi. “Dưới này ghế trơn bóng đi ấy, mà xe này quá to so với cháu, làm cháu cứ bị trôi hết chỗ nọ đến chỗ kia và giờ thì gần như thâm tím hết cả. Cửa sổ thì nhỏ quá, cháu chả thấy được hết các thứ bên ngoài, lại còn suýt gãy cả cổ lúc ngoái ra sau xem cái rương có bị rơi xuống không. Đấy là rương của mẹ cháu, mẹ quý nó lắm.”
Bác Cobb chờ đến khi câu chuyện, hay đúng hơn là bài ca thán, ngừng lại mới hóm hỉnh nói:
“Nếu muốn thì cháu có thể lên đây; ngồi cạnh ta thì không mất thêm tiền gì cả.” Liền sau đó bác giúp cô bé bước ra, “xốc” cô lên ghế trước, và ngồi lại chỗ của mình.
Rebecca ngồi xuống rất cẩn trọng, vuốt váy đâu ra đấy, để gấu váy xếp nếp trùm lên chiếc dù đặt giữa bác xà ích và mình. Xong xuôi cô bé chỉnh mũ cho khỏi sụp xuống, kéo đôi găng lưới màu trắng bằng vải cốt tông lên, rồi nói rất hào hứng:
“Ôi! Thế này thích hơn bao nhiêu! Thế này mới giống đi xa chứ! Bây giờ cháu là một hành khách thực thụ rồi, còn ở dưới kia cháu thấy mình cứ như cái con gà mái đẻ ở nhà khi chúng cháu nhốt nó vào trong chuồng ấy. Hy vọng chúng ta sẽ còn được đi rất rất xa nữa chứ ạ?”
“Ồ! Chúng ta mới chỉ vừa bắt đầu thôi,” bác Cobb ôn tồn đáp; “còn hơn hai tiếng đồng hồ nữa.”
“Có hai tiếng thôi ạ?” cô bé thở dài. “Thế thì đến nơi sẽ là một giờ rưỡi; mẹ cháu đang ở nhà bác Ann, lũ trẻ ở nhà thì mới xong ăn, và chị Hannah vừa dọn dẹp xong. Cháu có bữa trưa đây, vì mẹ bảo nếu cháu đến ngôi nhà gạch với cái bụng đói meo và việc đầu tiên bác Mirandy phải làm là kiếm cho cháu cái gì ăn thì đó sẽ là một khởi đầu tệ hại. Càng lúc càng nóng, bác nhỉ?”
“Phải, hẳn rồi; nóng quá ấy chứ. Sao cháu không giương dù lên?”
Cô bé vừa phủ váy kín hơn nữa lên cái vật đang được hỏi đến vừa nói, “Ôi không đâu ạ! Cháu chẳng bao giờ dùng dù lúc trời nắng; màu hồng phai khiếp lắm, bác biết đấy, cháu chỉ mang nó đi nhà thờ những hôm Chủ nhật nhiều mây thôi; thỉnh thoảng mặt trời bất chợt ló ra, và cháu phải che chắn cho nó khổ ơi là khổ; nó là thứ quý giá nhất đời của cháu, nhưng nó cũng đòi hỏi phải được giữ gìn kinh lắm ạ.”
Lúc này trong bộ óc chậm chạp của bác Jeremiah Cobb dần len lỏi ý nghĩ rằng con chim đang vắt vẻo bên cạnh là một loài khác xa những loài bác vẫn gặp hằng ngày trên những chuyến đi. Bác bỏ roi da vào hốc, hạ chân trên miếng chắn bùn xuống, đẩy vành mũ cao lên, thổi phù miếng thuốc lá xuống đường, như thế để cho đầu óc hoạt động được minh mẫn, rồi lần đầu tiên bác mới quay sang nhìn thật kỹ vị hành khách nọ, cô bé đáp lại bằng ánh mắt nghiêm túc pha chút tò mò trẻ con.
Bộ váy áo trúc bâu thô vàng nhạt đã phai màu, nhưng sạch sẽ tinh tươm, và được hồ bột nhiều quá đến nỗi sắp hỏng đến nơi. Sau lớp bèo nho nhỏ dựng đứng ở cổ áo hiện rõ cái cổ mảnh mai rám nắng và gầy guộc, còn cái đầu thì trông quá nhỏ so với bộ tóc đen tết đuôi sam dày và dài đến eo. Cô bé đội cái mũ rơm có vành be bé trông rõ kỳ cục, đó có thể là xu hướng thời trang mới nhất trong ngành mũ trẻ em, hoặc rất có thể là một thứ cổ lỗ sĩ được tân trang lại cho chuyến này. Nó được viền ruy băng màu vàng nhạt và một túm lông nhím màu cam đen lẫn lộn buông xuống hoặc chọc vào một bên tai, khiến cô bé trông vô cùng kỳ quặc. Gương mặt không được hồng hào và mềm mại cho lắm. Về đường nét, hẳn cô trông cũng bình thường, bác Cobb hầu như chẳng bao giờ để ý tỉ mỉ đến cái mũi, trán, hay cằm, vậy mà lần này bác chú ý ngay vào đôi mắt không rời ra được. Đôi mắt Rebecca giống như đức tin, “là sự biết chắc vững vàng của những điều mình đương trông mong, là bằng cớ của những điều mình chẳng xem thấy[1].” Dưới đôi lông mày như chạm như khắc tinh tế, chúng sáng lên như hai ngôi sao, những tia sáng nhảy nhót nửa giấu mình trong lòng đen long lanh. Ánh mắt đầy háo hức và tò mò mà không bao giờ thấy thỏa mãn; cái nhìn kiên định lại toát vẻ thông minh và bí ẩn, vì thế có khả năng nhìn xuyên thấu những điều hiển lộ cho tới những gì sâu xa hơn thế ở đồ vật, ở khung cảnh, ở con người. Chưa ai lý giải nổi chúng, đôi mắt của Rebecca ấy. Người thầy giáo và vị mục sư ở Temperance đã cố gắng nhưng thất bại; cô họa sĩ trẻ đến hồi mùa hè để vẽ nhà kho màu đỏ, nhà máy xay bột mì đã hỏng và cây cầu mà cuối cùng đã phải từ bỏ tất cả những cảnh đẹp đặc trưng của nơi này để toàn tâm toàn ý vào khuôn mặt của một đứa trẻ - một khuôn mặt nhỏ nhắn mộc mạc sáng bừng lên chỉ nhờ đôi mắt đem theo những nhắn nhủ, những thông điệp, những ẩn ý về một sức mạnh còn say ngủ và một tâm hồn sâu lắng, đôi mắt sâu lấp lánh khiến người ta không bao giờ chán ngắm nhìn, cũng như không bao giờ chán tưởng tượng rằng những gì thấy được ở đó phản chiếu tâm tưởng của chính mình.
Bác Cobb chẳng bình luận gì giống những cảm nhận nói chung ở trên cả; nhận xét của bác với vợ đêm hôm ấy chỉ đơn giản là mỗi lần cô bé nhìn bác, bác lại thấy choáng váng.
“Cô Ross, cô làm nghề vẽ ấy, đã tặng cháu cái dù này,” Rebecca nói khi đã nhìn đi nhìn lại bác Cobb và thuộc lòng khuôn mặt bác. “Bác có thấy cái diềm đăng ten kép màu hồng với cái đầu chóp và cán ô màu trắng này chưa? Chúng làm bằng ngà đấy. Cái cán này bị sứt, bác thấy không. Đấy là vì em Fanny cứ hết mút lại nhá nó trong buổi lễ nhà thờ mà cháu không để ý. Từ đấy cháu chẳng bao giờ có cảm giác như xưa với Fanny được nữa.”
“Fanny là em cháu à?”
“Một trong số các em của cháu ạ.”
“Nhà cháu có mấy chị em?”
“Bảy ạ. Có cả thơ viết về bảy đứa trẻ con đấy bác:
Nhanh nhảu cô bé liền trả lời,
“Thưa ông! Chúng cháu có bảy người!”
Cháu đã học thuộc để đến trường đọc, nhưng các bạn đáng ghét lắm, lại đi cười nhạo cháu. Chị Hannah lớn nhất, đến cháu, rồi John, rồi Jenny, rồi Mark, rồi Fanny, rồi Mira.”
“Chà, quả là một gia đình lớn!”
“Quá lớn ấy chứ ạ, ai cũng bảo thế,” Rebecca đáp ngay với vẻ thản nhiên rất người lớn khiến bác Cobb lẩm bẩm, “Lại còn phải nói!” và đút thêm thuốc lá vào bên má trái.
“Chúng đáng yêu thật, nhưng mà cũng phiền ghê, và nuôi thì rõ là tốn, bác biết rồi đấy,” có bé tiếp tục thủ thỉ. “Chị Hannah và cháu chẳng làm được gì ngoài việc tối thì cho bọn trẻ con đi ngủ rồi sáng lại gọi chúng dậy suốt bao nhiêu năm qua. Nhưng việc ấy cũng xong rồi, thật nhẹ cả người, rồi gia đình cháu sẽ có cuộc sống tốt đẹp khi chúng cháu lớn hết và tiền cầm cố nhà trả xong.”
“Xong rồi à? À, ý cháu là giờ cháu đã đi xa chứ gì?”
“Không, ý cháu là các em đã lớn hết rồi, gia đình cháu sẽ không có thêm người nào nữa. Mẹ bảo thế, bà luôn giữ lời hứa. Em Mira nhà cháu là út, và con bé đã ba tuổi rồi. Em sinh đúng ngày cha cháu mất. Bác Miranda muốn chị Hannah đến Riverboro chứ không phải cháu, nhưng mẹ không thể để chị ấy đi được; chị ấy coi sóc nhà cửa tốt hơn cháu, chị Hannah ấy. Tối qua cháu đã bảo với mẹ rằng nếu lúc cháu đi mà có thêm bất kỳ em bé nào nữa, thì mẹ phải gọi cháu về, vì khi có em bé thì luôn phải có cả chị Hannah và cháu, mẹ còn phải lo nấu nướng và đồng áng.”
“Ổ, cháu sống ở trang trại hử? Ở đâu thế? Gần chỗ cháu lên xe đấy à?”
“Gần ấy ạ? Trời, phải đến cả vài ngàn dặm ấy chứ! Mẹ con cháu đi tàu từ Temperance. Rồi đi xe ngựa mãi mới đến nhà bác Ann để ngủ nhờ. Rồi mẹ con cháu dậy và lại đi xe ngựa xa ơi là xa đến Maplewood đón xe ngựa chở khách. Trang trại nhà cháu xa tất cả mọi nơi, nhưng trường học và nhà thờ thì ở Temperance, hai chỗ ấy chỉ cách hai dặm thôi. Ngồi đây với bác thật thích, như kiểu được leo lên tháp chuông nhà thờ ấy. Cháu biết một thằng bé từng leo lên tháp chuông nhà thờ chỗ chúng cháu. Nó nói người và bò trông như là ruồi ấy. Bác cháu mình chưa gặp người nào hết, nhưng cháu hơi bị thất vọng về lũ bò; chúng trông không nhỏ như cháu hy vọng; mà (lại rạng rỡ lên) chúng trông cũng không to như lúc ta nhìn gần, bác nhỉ? Lũ con trai luôn làm những việc thật hay ho thú vị, còn bọn con gái chỉ có thể làm những việc ngớ ngẩn đáng ghét không ai buồn làm thôi. Chúng không thể leo thật là cao, hay là đi thật là xa, hay là đi chơi về thật muộn, hay là chạy thật nhanh, hay là bất cứ một việc gì.”
Bác Cobb đưa mu bàn tay lau miệng và thở hắt ra. Bác có cảm giác mình đang bị rượt từ đỉnh núi này tới đỉnh núi khác mà không kịp dừng lại thở cho ra hơi.
“Ta không hình dung ra trang trại của cháu ở đâu cả,” bác nói, “mặc dù ta từng đến sống trên Temperance. Nhà cháu họ gì?”
“Randall ạ. Mẹ cháu tên là Aurelia Randall; tên chúng cháu là Hannah Lucy Randall, Rebecca Rowena Randall, John Halifax Randall, Jenny Lind Randall, Marquis Randall, Fanny Ellsler Randall, và Miranda Randall. Mẹ đặt tên cho nửa số chúng cháu còn lại là cha đặt, nhưng mà số người lại lẻ nên cha mẹ nghĩ lấy tên bác Miranda ở Riverboro đặt cho Mira thì sẽ thật hay; cha mẹ cháu hy vọng như thế có thể đem lại những điều tốt lành, nhưng mãi chẳng thấy có gì tốt lành cả, nên bây giờ chúng cháu gọi em là Mira. Chúng cháu đều được đặt theo tên các nhân vật cụ thể cả đấy ạ. Tên chị Hannah thì là từ bài thơ “Hannah khâu giày bên cửa sổ”, và tên cháu được lấy từ truyện Ivanhoe; John Halifax là một quý ông trong một cuốn sách; Mark được đặt theo bác Marquis de Lafayette đã mất, bác ấy là anh em song sinh với cha cháu. (Trẻ sinh đôi thường không sống được lâu, và trẻ sinh ba thì gần như không có cơ hội sống sót - bác có biết không, bác Cobb?) Chúng cháu không gọi em là Marquis, mà chỉ Mark thôi. Jenny được đặt theo tên một ca sĩ và Fanny thì theo tên một vũ công xinh đẹp, nhưng mẹ cháu nói hai đứa thật chẳng xứng với tên chúng chút nào, vì Jenny không thể hát nổi một điệu nhạc cho ra hồn còn Fanny thì có tật hơi cà nhắc. Mẹ muốn gọi hai đứa nó là Jane và Frances và bỏ tên đệm đi, nhưng lại nói như thế thì không công bằng với cha. Bà nói chúng cháu phải luôn bảo vệ cha, vì mọi thứ đều chống lại cha, và ông lẽ ra đã không chết nếu như ông chẳng gặp vận đen đến thế. Cháu nghĩ chuyện về chúng cháu thế là hết rồi đấy ạ,” cô bé kết luận bằng giọng nghiêm túc.
“Trời đất quỷ thần ơi! Ta nghĩ thế là đủ quá rồi,” bác Cobb thốt lên. “Sau khi mẹ cháu chọn xong thì thật cũng chả còn mấy cái tên nữa. Cháu thực là có trí nhớ tuyệt vời đấy. Ta đoán cháu học bài cũng chẳng lấy gì làm khó khăn, nhi?”
“Cũng không khó lắm ạ; vấn đề nằm ở chỗ đi giày vào để mà đến học ấy ạ. Đôi này mới cứng cựa, và chúng phải trụ cho được sáu tháng. Mẹ cháu luôn dặn cháu phải giữ gìn đôi giày. Có vẻ như chẳng có cách giữ giày nào ngoại trừ tháo chúng ra mà đi chân không; nhưng cháu không thể làm như vậy ở Riverboro mà không làm bác Mirandy xấu mặt. Cháu sẽ đi học ngay khi đến sống với bác Mirandy, và sau hai năm cháu sẽ lên trung học ở Wareham; mẹ nói phải như vậy thì cháu mới được nên người! Học xong cháu sẽ làm họa sĩ như cô Ross. Thật ra thì, đấy là điều cháu nghĩ cháu sẽ làm. Còn mẹ nghĩ tốt hơn cả là cháu nên đi dạy.”
“Trang trại nhà cháu không phải là chỗ Nhà Hobbs ngày xưa chứ hả?”
“Không ạ, chỉ là Trang trại Nhà Randall thôi. Đấy là mẹ cháu gọi thế. Cháu thì gọi nó là Suối Nắng.”
“Ta đoán gọi thế nào thì cũng chẳng có gì khác nhau miễn là ta biết được nó ở chỗ nào,” bác Cobb nói với giọng châm biếm.
Rebecca hướng toàn bộ luồng sáng đôi mắt mình về phía bác đầy vẻ trách móc, gần như nghiêm khắc, cô bé đáp:
“Ô! Bác đừng nói vậy, nghe giống y như những người khác! Tên gọi khác nhau thì sẽ rất khác nhau chứ ạ. Khi cháu nói Trang trại Nhà Randall, bác có thấy được nó trông ra sao không?”
“Không, đúng là ta không thể thấy được,” bác Cobb đáp với vẻ lo lắng.
“Vậy giờ cháu nói Trang trại Suối Nắng, nó khiến bác nghĩ đến gì nào?”
Bác Cobb có cảm giác như là một con cá mắc cạn đang hấp hối trên cát vậy; không có cách nào xóa tan đi cái trách nhiệm kinh khủng là phải đáp lời, bởi đôi mắt của Rebecca như hai ánh đèn pha, xuyên qua đầu bác tới cái khoảng bị trọc sau gáy.
“Ta đồ rằng quanh đấy có một con suối,” bác bối rối trả lời.
Rebecca trông thất vọng, nhưng không đến nỗi chán nản. “Thế là khá tốt rồi,” cô bé nói với vẻ khuyến khích. “Bác nói tạm ổn nhưng chưa chính xác. Có một con suối, nhưng không phải suối bình thường đâu. Có nhiều cây non và bụi cây be bé hai bên bờ, dòng suối nhỏ nước luôn róc rách thầm thì với đáy cát trắng và vô số đá cuội nhỏ lấp lánh. Bất kỳ khi nào có một chút ánh nắng, con suối ấy bắt lấy ngay, và nó luôn ngập tràn những dải sáng lóng lánh lung linh suốt cả ngày trời. Bụng bác đã thấy rỗng chưa ạ? Bụng cháu thì có. Sợ lỡ mất chuyến xe này nên sáng cháu chẳng ăn được tí nào.”
“Thế thì cháu phải ăn trưa đi thôi. Ta thường tới Milltown mới ăn; lúc ấy ta sẽ kiếm miếng bánh nướng và một cốc cà phê.”
“Ước gì cháu được thấy Milltown. Cháu đoán nó còn to và rộng hơn cả Wareham; hẳn là giống Paris bác nhỉ? Cô Ross đã kể cho cháu nghe về Paris; cô ấy mua chiếc dù màu hồng này cho cháu ở đó cùng với cái ví đính cườm. Bác có thấy nó mở đánh tách một cái không? Cháu có hai mươi xu trong ấy, và phải trụ cho được ba tháng, để mua tem, giấy, mực. Mẹ nói bác Mirandy sẽ không muốn mua những thứ ấy bởi bác còn phải nuôi ăn nuôi mặc cháu và trả tiền sách cho cháu.”
“Paris chẳng có gì hay ho cả,” bác Cobb chê bôi. “Đấy là cái chỗ chán nhất ở bang Maine. Ta đánh xe đến đó suốt.”
Một lần nữa Rebecca thấy cần phải phản bác lại bác Cobb, khéo léo và nhẹ nhàng, nhưng cũng phải thật cứng rắn, mặc dù sự phản bác ấy được thể hiện bằng một cái liếc mắt, đưa sang thật nhanh và rút về cũng nhanh chẳng kém.
“Paris là thủ đô của Pháp, và phải đến đó bằng thuyền chứ bác,” cô bé nói bằng giọng giảng giải. “Sách địa lý của cháu viết: ‘Người Pháp vui vẻ và lịch sự, yêu thích khiêu vũ và rượu vang.’ Cháu hỏi thầy giáo rượu vang là cái gì, thì thầy cho là nó gần giống như rượu táo, hoặc có thể như bia gừng. Chỉ cần nhắm mắt lại là cháu có thể nhìn thấy Paris rõ như ban ngày. Những tiểu thư xinh đẹp luôn vui vẻ nhảy múa khắp nơi với những chiếc dù màu hồng và ví đính cườm, những đức ông sang trọng thì khiêu vũ rất lịch sự và uống bia gừng. Nhưng bác thì có thể nhìn thấy Milltown gần như mỗi ngày với hai mắt mở to,” Rebecca nói vẻ thèm thuồng.
“Milltown cũng chả có gì đỉnh cả,” bác Cobb đáp lại, với cái vẻ như là bác đã tới mọi thành phố trên thế giới này và đều thấy chúng chẳng ra làm sao. “Giờ thì cháu hãy xem ta văng tờ báo này lên đúng phóc bậc cửa nhà bà Brown nhé.”
Véo! Bọc báo rơi xuống đứng nơi nó cần đến, trên tấm thảm bện vỏ ngô bên ngoài cửa lưới.
“Ôi, tuyệt quá!” Rebecca khoái chí reo lên. “Cứ y như người ném dao mà Mark đã thấy ở đoàn xiếc ấy. Ước gì có một hàng dài những ngôi nhà với tấm thảm vỏ ngô và một cái cửa lưới ở chính giữa, và một tờ báo để ném nữa!”
“Ta có thể hụt một vài cái đấy,” bác Cobb nói, rạng lên với một niềm tự hào nho nhỏ. “Nếu bác Mirandy của cháu cho phép thì hè này ta sẽ chở cháu xuống Milltown hôm nào xe còn chỗ.”
Một niềm hân hoan sung sướng chạy khắp người Rebecca, từ đôi giày mới lên mãi chiếc mũ rơm và xuống cái đuôi sam đen. Cô bé háo hức tì mạnh lên đầu gối bác Cobb và nói bằng giọng nghẹn lại vì những giọt nước mắt hạnh phúc lẫn ngỡ ngàng, “Ôi, không thể tin nổi, không thể tin nổi; cháu không nghĩ rằng có ngày cháu sẽ thấy Milltown. Cứ như là có một bà tiên hỏi ta ước gì và ban cho ta điều ước đó vậy! Bác đã bao giờ đọc Công chúa lọ lem, hay là Chú lùn màu vàng, hay là Hoàng tử cóc, hay là Cô gái xinh đẹp có những lọn tóc vàng chưa?”
“Chưa,” bác Cobb đáp đầy thận trọng, sau một chút ngẫm nghĩ. “Ta không nhớ là đã đọc những cuốn ấy. Cháu đọc ở đâu ra mà được lắm thế?”
“Ôi, cháu đã đọc nhiều sách lắm,” Rebecca trả lời rất bình thản. “Sách của cha, của cô Ross và các thầy cô giáo ở trường, và tất cả những quyển có trong thư viện trường Giáo lý. Cháu đã đọc Người thắp đèn, Những thủ lĩnh Scotland, rồi Ivanhoe, rồi Người thừa kế tước tòng nam Redclyffe, rồi Cora, vợ người bác sĩ, và David Copperfield, rồi Vàng ở Chickaree, rồi Những cuộc đời của Plutarch,rồi Thaddeus ở Warszawa, rồi Chuyến đi của người hành hương, và nhiều nhiều nữa. Bác đã đọc gì rồi ạ?”
“Ta thì chưa bao giờ đọc những quyển ấy; nhưng ta đọc nhiều lắm! Ta đã đọc vô số chứ! Dạo này hơi chán rồi nên ta thường đọc Almanac, tờ Argus hằng tuần, rồi thì Nông nghiệp bang Maine. Lại có sông nữa rồi kìa; đây là ngọn đồi dài cuối cùng, rồi khi lên tới đỉnh chúng ta sẽ thấy ống khói của Riverboro phía xa xa. Đi chẳng mấy nữa đâu. Ta sống cách ngôi nhà gạch chừng nửa dặm.”
Bàn tay Rebecca lấn bấn trên lòng và cô bé cựa quậy trên ghế. “Lúc đầu cháu không nghĩ là mình lại lo lắng đâu,” cô bé nói như hụt hơi, “nhưng có lẽ là có, chỉ một tí thôi, khi bác bảo là sắp đến nơi rồi.”
“Cháu không định quay về đấy chứ?” bác Cobb tò mò hỏi.
Cô bé đá về phía bác một ánh nhìn gan dạ và đáp với vẻ tự hào, “Cháu sẽ không bao giờ quay về - có thể là cháu sợ, nhưng bỏ chạy thì thật là đáng xấu hổ. Đến nhà bác Mirandy cũng như đi xuống dưới hầm để đồ vào ban đêm vậy. Có thể có quái vật hoặc là thú dữ dưới đó, nhưng, như cháu đã bảo chị Hannah ấy, cũng có thể có cả các chú lùn, những nàng tiên và những chàng hoàng tử cóc! Làng có phố chính không hả bác, như ở Wareham ấy?”
“Ta đồ rằng cháu có thể gọi nó là phố chính được đấy, và bác Sawyer của cháu sống trên phố chính đó, nhưng chẳng có cửa hiệu hay nhà xưởng gì đâu, làng chỉ bé tí tẹo thôi! Phải sang bên kia sông phía nhà ta thì cháu mới mong thấy được cái gì đó.”
“Cháu cứ thấy tiêng tiếc,” cô bé thở dài, “vì sẽ thật tuyệt biết bao nếu như được đi xe ngựa dọc một con phố chính thực thụ, được ngồi trên này với bác sau hai chú ngựa đẹp tuyệt, rồi cháu xòe chiếc dù hồng ra nữa, và mọi người trong thị trấn ai nấy đều băn khoăn không biết bó hoa tử đinh hương và chiếc rương là của ai. Sẽ thật giống y như tiểu thư xinh đẹp trong cuộc diễu hành nọ. Hè năm ngoái đoàn xiếc đã đến Temperance, và buổi sáng họ đi diễu hành. Mẹ cho phép chúng cháu đi cùng còn Mira được đẩy trong xe nôi, vì chúng cháu không có tiền đến rạp xiếc chiều hôm ấy. Có ngựa và những con vật dễ thương nằm trong cũi, và các chú hề thì cưỡi ngựa; mãi ở cuối đoàn có một cỗ xe do hai chú ngựa non kéo đi, và trong xe, trên tấm ghế nệm nhung là người thôi miên rắn, mặc toàn đồ xa tanh và đính trang kim. Cô ấy đẹp không gì sánh nổi, bác Cobb ạ, đẹp đến nỗi ngắm cô ấy mà người ta phát nghẹn ở cổ họng và có cảm giác lành lạnh chạy dọc sống lưng ấy. Bác có hiểu ý cháu không bác? Bác đã bao giờ thấy một ai khiến bác cảm thấy như thế chưa?”
Bác Cobb có cảm giác khó ở rõ rệt hơn bất kỳ lúc nào trong cái buổi sáng đầy ắp sự kiện này, nhưng bác khéo léo lảng tránh câu hỏi bằng cách đáp lại rằng, “Ta thấy cũng chẳng chết ai nếu chúng ta đi vào thị trấn với cung cách oách nhất mình có được. Ta sẽ trưng cái roi lên, ngồi ngay ngắn, và đánh xe thật nhanh; còn cháu thì ôm bó hoa vào lòng, và mở cái dù nhỏ màu hồng kia lên, chúng ta sẽ khiến dân làng phải trố mắt lên mà nhìn!”
Khuôn mặt đứa trẻ bừng lên trong phút chốc, nhưng cái lấp lánh ấy phai đi nhanh chóng khi cô bé đáp, “Cháu quên, mẹ cho cháu vào ngồi bên trong, và chắc mẹ muốn cháu ngồi đó khi cháu tới nhà bác Mirandy. Có lẽ cháu sẽ lịch thiệp hơn khi ở trong ấy, và rồi cháu sẽ không phải nhảy xuống làm cho váy bay tung lên, mà mở cửa ra và bước xuống như một cô nương. Bác dừng lại một phút được không, bác Cobb, để cháu đổi chỗ ạ?”
Bác xà ích nhân hậu kéo ngựa lại, bế sinh linh bé nhỏ sôi nổi kia xuống, mở cửa, giúp cô bé bước vào xe, đặt bó hoa tử đinh hương và chiếc dù màu hồng bên cạnh cô.
“Chúng ta đã có một chuyến đi thật tuyệt,” bác nói, “và chúng ta đã thật là thân rồi, phải không nào? Cháu sẽ không quên chuyện Milltown đấy chứ?”
“Không bao giờ!” cô bé hào hứng đáp, “và bác chắc là bác cũng không quên chứ?”
“Không bao giờ! Bác thề đấy!” bác Cobb nghiêm túc thề, đoạn lại trèo lên ghế đánh xe; và khi chiếc xe ngựa lọc cọc chạy trên con đường làng giữa những cây phong xanh, những ai nhìn qua cửa sổ có thể thấy một bé gái da nâu tí xíu trong bộ váy vải trúc bâu vàng nhạt đang ngồi rất thẳng thớm trên ghế sau, một tay cầm bó hoa thật lớn còn tay kia cầm chiếc dù hồng. Khi chiếc xe ngựa rẽ vào sân bên của căn nhà gạch cũ, nếu ai bị viễn thị thì có thể sẽ còn thấy được một bên cầu vai chiếc váy thô nọ nhô lên hạ xuống đầy hối hả bởi trái tim bên trong váy đang đập thật gấp gáp, màu đỏ thoắt đến thoắt đi trên hai gò má nhợt nhạt, và một màn nước mắt ùa tới trên đôi mắt sẫm màu đẹp tuyệt kia.
Chuyến du hành của Rebecca đã kết thúc.
“Có xe ngựa vào sân nhà Sawyer kìa,” bà Perkins nói với chồng. “Đấy hẳn là đứa cháu trên Temperance xuống. Hình như họ đã viết thư cho Aurelia mời Hannah, đứa chị cả, nhưng Aurelia nói bà ấy chỉ có thể cho Rebecca đi thôi, nếu Mirandy và Jane thấy hai đứa nó không khác gì nhau; thế là Rebecca đến đấy. Con bé sẽ hợp với Emma Jane của chúng ta thôi, nhưng tôi chẳng tin là họ sẽ giữ con bé lại nổi ba tháng! Tôi trông nó đen đúa như là thổ dân ấy; đen đúa và có vẻ nhanh nhẹn. Trước người ta hay bảo nhà Randall có anh con trai lấy một cô người Tây Ban Nha dạy nhạc và ngôn ngữ ở một trường bán trú. Lorenzo có nước da đen, ông nhớ chứ, và đứa bé này cũng thế. Thật ra thì, tôi cũng chẳng biết máu Tây Ban Nha có phải là thực sự đáng xấu hổ hay không, chứ như ngày xưa thì cô ta đáng kính lắm đấy.”
❀ ❀ ❀
[1] Kinh Thánh-Hebrews 11:1