Ngày thứ Sáu ngay sau “cuộc chiến đấu khủng khiếp nhất từng có” ấy, như Bunyan viết trong cuốn Chuyến kinh lý của người hành hương, có nhiều hoạt động thú vị diễn ra trong ngôi trường nhỏ trên đồi. Chiều thứ Sáu luôn là khoảng thời gian dành để diễn hội thoại, ca hát và đọc diễn cảm, nhưng nó không phải một ngày hội theo đúng nghĩa của từ đó. Hầu hết bọn trẻ ghét “cái khoản nói”; ghét sự lằng nhằng khi phải học thuộc, lo sợ mình đang nói thì quên béng. Thường hôm nào về nhà cô Dearborn cũng đau đầu, cả buổi chiều và tối đó không dậy nổi khỏi giường. Còn bà mẹ đến dự buổi hôm đó ngồi ở ghế đầu thì trán rịn đẫm mồ hôi lạnh khi phải nghe đi nghe lại những đoạn ngập ngừng lúng búng đã quá quen thuộc. Đôi khi có đứa khóc òa lên gục vào lòng mẹ và mẹ phải bế ra ngoài, hôn nựng con không xong thì phải tét vào đít nó; nhưng dù trong trường hợp nào thì sự thất bại càng làm tăng thêm nỗi đáng sợ và u ám của sự kiện đó. Sự xuất hiện của Rebecca không hiểu sao đã truyền cảm hứng mới cho những buổi chiều đáng sợ từ trước đến nay này. Cô bé đã dạy Elijah và Elisha Simpson đọc được ba đoạn thơ với vẻ hài hước khiến cho bản thân chúng, cô giáo, và cả lớp ai ai cũng thấy vui vẻ; trong khi Susan nói ngọng được dành riêng cho một bài thơ vui trong đó cô bé đóng vai một đứa trẻ nói ngọng. Emma Jane và Rebecca thì diễn một đoạn đối thoại, và việc diễn chung khiến Emma Jane cảm thấy tự tin và phấn chấn hẳn lên. Thực tế, cô Dearborn đã tuyên bố vào sáng cái ngày thứ Sáu ấy rằng các phần trình diễn hứa hẹn là sẽ rất thú vị nên cô đã mời bà vợ ông bác sĩ, bà vợ ông mục sư, hai thành viên trong hội đồng trường, và một vài bà mẹ nữa. Cô giao cho Living Perkins trang trí một bảng còn Rebecca trang trí cái bảng còn lại. Living, họa sĩ đỉnh cao của lớp, chọn vẽ bản đồ Bắc Mỹ. Rebecca thích vẽ những thứ ít thực tiễn hơn, và rất nhanh, trước ánh mắt mê mẩn của cả lớp, hiện ra dưới những ngón tay khéo léo của cô bé là một lá cờ Mỹ vẽ bằng phấn đỏ, trắng và xanh biển, mỗi ngôi sao ở đúng vị trí của nó, mỗi sọc ngang bay phấp phới trong gió nhẹ. Bên cạnh đó là hình nữ thần Columbia, bắt chước hình trên nắp hộp xì gà đựng bút màu.
Cô Dearborn rất vui sướng. “Cô đề nghị cả lớp hoan hô Rebecca vì đã vẽ một bức tranh đẹp tuyệt - bức tranh khiến cả lớp chúng ta có thể tự hào!”
Tất cả học sinh vỗ tay nhiệt tình, và Dick Carter còn vừa vẫy tay vừa hò hét.
Trái tim Rebecca muốn nhảy tưng lên vì xốn xang hạnh phúc, cô ngỡ ngàng khi thấy nước mắt mình ngân ngấn. Cô bé gần như không thấy nổi đường về chỗ ngồi, bởi suốt cuộc đời bé nhỏ, cô đơn, tăm tối của cô, cô chưa hề được ai vỗ tay hoan hô riêng một mình mình, chưa hề được ngọi khen, hay được tôn vinh, như trong cái khoảnh khắc tuyệt vời đáng kinh ngạc này. Nếu như “sự cao quý nhen nhóm thêm cao quý[1]” thì lòng nhiệt thành cũng tạo ra lòng nhiệt thành, và trí tuệ cùng tài năng khơi nguồn cho trí tuệ và tài năng. Alice Robinson đề nghị cả lớp hát bài “Muôn năm lá cờ Đỏ-Trắng-Xanh”! Và khi cá lớp hát đến phần điệp khúc, tất cả đều chỉ về lá cờ của Rebecca. Dick Carter gọi ý Living Perkins và Rebecca Randall nên ký tên dưới hình vẽ của mình, để các khách đến thăm biết được ai đã vẽ chúng. Huldah Meserve xin phép lấy cành khô lấp đầy các lỗ lớn trên tường thạch cao và lấy hoa dại cắm vào xô nước. Tâm trạng Rebecca hân hoan quá đỗi nên không còn để ý được đến những điều thực tế ấy. Cô bé ngồi yên lặng, trái tim ngập tràn hạnh phúc và biết ơn đến nỗi cô hầu như không nhớ nổi lời thoại của mình. Vào giờ chơi cô bé rất yên lặng khiêm tốn, mặc dù cô mới đạt được một thành công lớn, ngoài ra thì nhìn chung sự vụ Smellie-Randall đã được cho qua trong không khí êm đềm và Minnie gom cành phong che lại cái bếp lò xấu xí dưới sự chỉ đạo của Rebecca.
Cô Dearborn cho lớp nghỉ lúc mười hai giờ kém mười lăm, để những bạn nhà gần trường có thể về thay đồ. Emma Jane và Rebecca gần như chạy hết quãng đường về, vì quá vui sướng, chỉ dừng lại thở trước khi leo bậc thang qua rào.
“Liệu bác Mirandy có cho cậu mặc đồ đẹp nhất không, hay chỉ bộ váy trúc bâu vàng thôi?”
“Tớ nghĩ tớ sẽ hỏi bác Jane,” Rebecca đáp. “Ôi! Giá như bộ váy hồng của tớ xong rồi! Tớ phải để bác Jane thùa khuyết giúp!”
“Tớ sẽ xin mẹ cho đeo cái nhẫn đá đỏ của mẹ,” Emma Jane nói. “Nó sẻ lấp lánh trong nắng đẹp tuyệt vời khi tớ chỉ tay lên lá cờ. Tạm biệt, đừng chờ tớ nhé, có thể tớ sẽ được đi nhờ.”
Rebecca thấy cửa hông khóa, nhưng cô bé biết chìa khóa ở dưới bậc thềm, tất nhiên ai ở Riverboro cũng biết, vì mọi người hầu như đều làm như thế. Cô bé mở cửa vào phòng ăn thì thấy phần ăn trưa của mình trên bàn và một tờ giấy bác Jane viết rằng hai bác đã đi Moderation với bà Robinson bằng cái xe ngựa bốn chỗ của bà ấy. Rebecca nuốt ực một miếng bánh mì bơ, và chạy như bay lên cầu thang trước vào phòng mình. Trên giường là chiếc váy ca rô hồng đã được đôi tay yêu thương của bác Jane hoàn tất. Có thể nào, liệu cô bé có dám mặc mà không xin phép hay không? Dịp này có xứng để mặc đồ mới không, hay hai bác nghĩ cô bé phải để đến buổi hòa nhạc ở nhà thờ mới được mặc?
“Mình sẽ mặc,” Rebecca nghĩ vậy. “Các bác chẳng ở đây cho mình hỏi, và có thể các bác cũng chẳng để tâm tí gì chuyện ấy; rốt cuộc thì cũng chỉ là một bộ váy ca rô thôi mà, cũng chẳng quan trọng cho lắm nếu như không phải là vì nó mới tinh, và không có vải viền, và không phải là màu hồng.”
Cô bé gỡ hai bím tóc đuôi sam, chải mượt những gọn tóc xoăn rồi lấy ruy băng buộc lại, đoạn thay giày, mặc vào bộ váy xinh đẹp, cố cài hết các khuy trừ ba khuy giữa, dành để nhờ Emma Jane.
Rồi mắt cô bé bắt gặp chiếc dù hồng yêu quý của mình, đúng bộ luôn, và lũ con gái còn chưa được thấy nó bao giờ. Cũng không hợp với chốn trường lớp cho lắm, nhưng cô chẳng cần mang nó vào phòng làm gì; cô sẽ cuộn nó vào giấy, chỉ cần khoe với chúng bạn thôi, rồi lại mang về. Cô bé liếc vào chiếc gương dưới phòng khách và thấy như có điện giật. Cứ như thể không còn thứ quần áo nào đẹp hơn chiếc váy kẻ ca rô hồng tuyệt trần ấy! Ánh mắt long lanh, gò má ửng hồng, suối tóc óng ả, tất cả bị lu mờ đi trước vẻ yêu kiều không gì sánh nổi của bộ váy áo màu hoa hồng. Trời ạ! Đã một giờ kém hai mươi, không khéo cô bé sẽ muộn mất. Cô nhảy chân sáo ra khỏi nhà lối cửa hông, ngắt một đóa hồng từ bụi hoa trước cổng, và xử lý quãng đường một dặm từ ngôi nhà gạch đến lớp học trong nháy mắt. Cô gặp Emma Jane, cũng rực rỡ và hổn hển không kém, ở cửa lớp.
“Rebecca Randall!” Emma Jane thốt lên, “trông cậu đẹp như tranh ấy!”
“Tớ á?” Rebecca cười khúc khích. “Vớ vẩn! Chỉ là bộ váy ca rô hồng chứ có gì đâu.”
“Không phải ngày nào cậu cũng xinh đẹp,” Emma Jane nhất quyết; “nhưng cậu trông vẫn khác thế nào ấy. Thấy cái nhẫn đá đỏ này không; mẹ tớ đã cọ bằng xà phòng đấy nhé. Làm thế quái nào mà bác Mirandy lại cho cậu mặc bộ váy mới toanh thế hả?”
“Cả hai bác đi vắng nên tớ không hỏi xin ai cả,” Rebecca lo lắng đáp. “Sao thế? Cậu có nghĩ hai bác sẽ không cho phép không?”
“Chẳng phải bác Mirandy lúc nào cũng không cho phép sao?” Emma Jane hỏi.
“Ph… ải; nhưng chiều nay rất đặc biệt - gần bằng buổi hòa nhạc ở trường Giáo lý còn gì.”
“Ừ,” Emma Jane tán đồng, “tất nhiên rồi; trên bảng có tên cậu, chúng mình thì chỉ lên lá cờ, lại cả màn hội thoại hấp dẫn của bọn mình, và tất cả mọi thứ nữa chứ.”
Chiều hôm ấy là một chuỗi thành công vang dội cho tất cả những ai liên quan. Không có thất bại thật sự nào cả, không nước mắt, không bậc cha mẹ nào phải hổ thẹn vì con. Cô Dearborn nghe rất nhiều lời ngợi khen về khả năng dạy dỗ của mình, và băn khoăn không rõ chúng dành cho cô hay, ít nhất một phần, dành cho Rebecca. Đứa trẻ ấy không làm gì nhiều hơn một vài đứa khác, nhưng cô bé bằng cách nào đó luôn nổi bật. Sau này trọng các buổi văn nghệ của làng Rebecca có muốn chìm khuất cũng không được nữa; vị trí ấy đơn giản là không chịu chấp nhận cô. Kẻ thù tệ nhất của cô bé cũng không thể nói rằng cô thích chơi trội được. Cô bé luôn xông xáo và không bao giờ ngượng ngùng; không tìm cách phô trương nhưng cũng không chút dè dặt, thậm chí cô còn hào húng lôi cuốn người khác vào cuộc vui. Nếu MacGregor ngồi chỗ nào nơi đó sẽ là đầu bàn[2], thì tương tự, nơi nào Rebecca đứng cũng trở thành trung tâm của sân khấu. Giọng kim trong vắt của cô bé cao vút lên trên tất cả các giọng khác trong dàn đồng ca, và dù có thế nào thì ai cũng phải nhìn cô bé, quan sát điệu bộ của cô, cách hát bằng cả tâm hồn, và niềm nhiệt thành không thể kiềm chế của cô.
Cuối cùng tất cả cũng kết thúc, Rebecca thả bước trên đường về mà cảm tưởng như thể mình sẽ không bao giờ bình tâm và điềm đạm lại được nữa. Tối nay không còn bài nào phải học, và cái viễn cảnh phải giúp bác làm mứt sáng hôm sau cũng chẳng đáng sợ với cô - nỗi sợ hãi không dám ho he trước ánh sáng chói lọi đang ngập tràn tâm hồn cô. Mây kéo dày đặc trên trời, nhưng cô bé chẳng lo sợ mà còn mừng vì có thể giương cái ô lên. Cô bé vẫn đi trên mây, và có cảm giác mình không hề thuộc về một gia đình bình phàm nào cả, cho đến khi cô bước vào trong sân ngôi nhà gạch và trông thấy bác Mirandy đứng ngay ở cửa. Thế là thoắt một cái cô bé rơi bịch xuống đất.
❀ ❀ ❀
[1] Câu thơ của James Russell Lowell, nhà thơ lăng mạn người Mỹ.
[2] Câu thành ngữ của Anh. McGregor trong câu này được cho là Rob Roy McGregor, nhân vật huyền thoại được xem như Robin Hood của Scotland sống vào đấu thế kỷ XVIII.