Rebecca Ở Trang Trại Suối Nắng

Lượt đọc: 535 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Xii “Thấy Kẻ Tử Vì Đạo Yếu Ớt”

❊ ❊ ❊

Khoảng thời gian này Rebecca đang đọc câu chuyện về cậu bé Spartan và cô bé hình thành tư tưởng rằng hình thức tự trừng phạt ở mức độ nhẹ có thể được áp dụng vào lúc nào đó khi cô tin tưởng đó là điều đáng làm. Nguyên nhân trực tiếp của quyết định này là một tai nạn đáng tiếc hơn bình thường, cho dù với cô thì luôn có hàng tá tai nạn mỗi ngày.

Hôm ấy, Rebecca diện bộ cánh đẹp đẽ nhất đến nhà bác Cobb uống trà; nhưng khi đi qua cầu, thấy choáng ngọp trước vẻ đẹp của dòng sông, cô bé bèn tì người lên thành cầu mới son để ngắm cho đã mắt dòng chảy hùng mạnh của thác nước. Tựa khuỷu tay lên thanh ngang cao nhất, và nghiêng thân mình mảnh khảnh về phía trước thật thoải mái, cô bé đứng đó mơ màng.

Con sông trên đập nước trong như gương với đủ vẻ yêu kiều của thiên đường màu xanh dương và hai bờ xanh lục soi bóng xuống mặt nước; thác nước là một kỳ quan cuộn chảy, cứ mải miết đổ mình không mỏi mệt trong những đợt tuôn trào lóng lánh ánh vàng rồi chìm nghỉm dưới lớp bọt trắng như tuyết. Lấp lánh trong ánh sáng mặt trời, lung linh dưới trăng đêm hè, lạnh lẽo và u xám dưới bầu trời tháng Mười một, nhỏ giọt cạn kiệt lên con đập trong những ngày hạn khô cháy của tháng Bảy, dềnh lên với sức mạnh bất kham sau những con mưa rào tháng Tư, biết bao nhiêu đôi mắt tuổi trẻ đã chăm chú nhìn sâu vào bí ẩn và uy nghi của những thác nước trên con sông ấy, và biết bao nhiêu trái tim tuổi trẻ đã mơ về tương lai khi tựa lên thành cầu, đã nhìn thấy “tương lai xán lạn” phản chiếu ở đó và cũng nhìn thấy nó nhòa dần đi trong “ánh sáng của những ngày bình thường”[1].

Rebecca chưa bao giờ đi qua đây mà không tựa vào thành cầu để suy nghĩ và mơ mộng, vào khoảnh khắc đặc biệt này cô bé đang trau chuốt lại lần cuối một bài thơ.

Hai cô gái bên bờ sông thơ thẩn

Giữa vùng Maine.

Một người tên gọi Rebecca,

Người kia Emma Jane.

“Mong đời tôi như sông,”

Emma Jane thủ thỉ,

“Tĩnh lặng và êm đềm,

Không vướng chút muộn phiền.”

“Tôi muốn làm giọt nước

Ở trong những thác ghềnh!

Làm dòng sông lặng lẽ,

Thì nỗi buồn dâng đầy!”

(Lời của Rebecca

Cô gái da bánh mật,

Hai cô là bạn thân

Không ruột rà máu mủ.)

Nhưng số phận, chao ôi!

Khéo ngoài tay chúng tôi;

Lặng thầm tôi phải sống,

Hối hả bạn đương đầu!

“Mình không thích câu ‘Hối hả bạn đương đầu’, nhưng mình chả nghỉ được gì khác. Ôi! Mùi son kinh quá đi! Ối! Son dính vào mình rồi! Chết thật! Dính khắp váy mình! Ôi bác Miranda sẽ nói gì đây!”

Đôi mắt tuôn trào những giọt nước mắt ân hận, Rebecca chạy như bay lên đồi, biết chắc rằng sẽ được thông cảm, và hy vọng trong nỗi tuyệt vọng rằng mình sẽ được giúp đỡ.

Bác Cobb gái vừa liếc qua đã nắm ngay được tình hình. Bác tuyên bố mình có thể xóa được bất kỳ vết bẩn nào trên gần như mọi thứ vải; và khả năng đó được bác Jerry chứng thực bằng cách thề rằng mẹ nó có thể tẩy sạch được bất kỳ thứ gì. Năm thì mười họa bà cũng tẩy thủng cả vải ra cùng với vết bẩn, nhưng bà rất có nghề, mẹ nó ấy.

Rebecca cởi bộ váy dính son ra, choàng lên người chiếc áo choàng trúc bâu xanh của bác Cobb gái rồi đi sửa sang bàn tiệc. Còn bác Cobb đem chiếc váy đi ngâm phần dính son vào dầu thông.

“Đừng có bỏ ăn bỏ uống gì chí vì cái váy nhé,” bác Cobb gái nói nhỏ. “Ta có bánh quy kem và mật ong cho cháu đấy. Nếu dầu thông không được, ta sẽ thử phấn Pháp, ma nhê xít và nước xà phòng ấm. Nếu vẫn không được, thì bố nó phải chạy qua bên cửa hàng nhà Strout mượn cái món mà Marthy kiếm được ở Milltown về tẩy vết bánh lý chua trên váy cưới cô ấy đấy.”

“Ta vẫn chưa hiểu nổi cái vụ dính son này đâu nhé,” bác Jerry đùa giõn khi đưa mật ong cho Rebecca. “Nhất là khi mấy cái biển SƠN MỚI treo đầy trên cầu, ngay cả một tên ngốc bị mù cũng không thể không thấy cho được, ta thật không thể lý giải nổi việc cháu bị dính vào cái thứ rách việc kia.”

“Cháu không nhìn thấy mấy tấm biển,” Rebecca buồn bã nói. “Chắc tại cháu đang ngắm thác nước.”

“Thác nước có ở đó từ đời tám hoánh nào rồi, và ta đồ là nó còn ở đó mãi; việc gì mà cháu phải hấp tấp đến ngắm nó cho bằng được. Trẻ con rất hay vội vàng, mẹ nó ạ, nhưng tôi cho là mình phải kệ chúng thôi!” bác vừa nói vừa nháy mắt với bác gái.

Khi bữa tối đã xong, Rebecca nhất quyết đòi rửa và lau bát đĩa, trong khi bác Cobb gái vẫn xoay xở với cái váy bằng một sự tập trung cao độ, một điều phản ánh tầm nghiêm trọng của vấn đề. Rebecca chốc chốc lại rời chốt của mình ở chậu rửa bát để tới chúi người nhòm chậu giặt xem tiến độ công việc của bác gái, trong khi bác Jerry thỉnh thoảng lên tiếng góp ý.

“Chắc hẳn cháu đã nằm bò cả ra cầu ấy, cô bé ạ,” bác Cobb gái nói; “vì son không những trên hai cùi chỏ, cầu vai và thắt lung, mà gần như khắp cả phần trước cái váy.”

Khi chiếc váy bắt đầu trông khá hơn, tâm trạng của Rebecca cũng hào hứng lên nhanh chóng. Một lát sau đó cô bé phoi váy lên cho khô rồi vào phòng khách.

“Bác ơi, bác có tờ giấy nào không ạ?” Rebecca hỏi. “Cháu định viết lại bài thơ cháu làm khi nằm lên chỗ sơn ấy.”

Bác Cobb gái ngồi bên giỏ đồ khâu, bác Jerry thì lấy xuống một cái túi kẻ ô đựng đầy dây dợ và mải mê ngồi tháo các nút thắt - một thú vui ưa thích vào buổi tối của bác.

Rebecca nhanh chóng viết ra bài thơ với nét chữ học trò tròn trịa, thay đổi một số chỗ khi đã ngẫm nghĩ sáng suốt hơn.

Hai điều ước

REBECCA RANDALL

Bang Maine, bên bờ sông

Thẩn thơ hai cô gái.

Rebecca đen lắm,

Emma Jane thì không.

“Mong đời tôi như sông,”

Emma Jane thủ thỉ,

“Tịch lặng và êm đềm,

Chìm trôi hết muộn phiền.”

“Tôi muốn làm giọt nước

Gieo thân trong thác ghềnh!

Làm dòng sông lặng lẽ,

Ôi buồn mới mông mênh!”

(Lời của Rebecca

Cô gái da bánh mật,

Hai cô là bạn thân

Chứ họ hàng không phải.)

Nhưng số phận, chao ôi!

Khéo ngoài tay chúng tôi;

Lặng thầm tôi phải sống,

Hối hả bạn đương đầu!

Cô bé đọc to lên, và hai bác Cobb nghĩ nó không chỉ rất đẹp, mà là một tuyệt tác.

“Tôi cho là ông nhà văn phố Congress ở Portland mà nghe được bài thơ của cháu thì sẽ rất ngạc nhiên cho xem,” bác Cobb gái nói. “Nếu như cháu có hỏi ta, thì ta nói rằng bài thơ này hay ngang với bài thơ của ông ấy, bài ‘Đừng buông những con số ai oán’[2]; nhưng dễ hiểu hơn nhiều.”

“Đến bố ta cũng chịu chả hiểu nổi ‘những con số ai oán’ là gì,” bác Cobb nói đầy chỉ trích.

“Vậy thì cháu đoán bác chưa bao giờ học phân số rồi!” Rebecca tỏ vẻ. “À, bác Jerry, bác Sarah, có cần làm thêm nữa không ạ, đặc biệt là cho khổ kết bài ấy, như người ta thường làm - thêm mấy câu có ‘tính chiêm nghiệm’ - để cho nó có kết thúc hay hơn?”

“Nếu cháu chỉ cần quay cái cán là nghiền được ra thơ, thì ta thấy làm càng nhiều càng hay chứ; nhưng ta thật khó hình dung làm sao cháu có thể có kết thúc hay hơn được nữa,” bác Cobb nhận xét.

“Cái kết này dở chết đi được!” Rebecca làu bàu. “Đáng ra cháu không được cho ‘tôi’ vào kia. Cháu đang làm thơ cơ mà. Không ai cần biết chính là cháu đang đứng bên sông; phải là ‘Rebecca’, hay là ‘cô gái da bánh mật’ và ‘Hối hả bạn đương đầu’ thì đúng là nghe chán chết. Có những lúc cháu nghĩ sẽ không bao giờ làm thơ nữa, viết được một bài vừa hay lại vần khó kinh lên ấy; nhưng cũng có lúc cứ tự nó tuôn ra thôi. Cháu đang nghĩ có thể như thế này thì hay hơn chăng?

Nhưng chao ôi, số phận!

Vốn nằm ngoài tay ta

Lòng phàm dẫu thiết tha

Phận đâu do mình muốn.

Cháu không biết thế hay hơn hay là dở hơn nữa. Giờ thì sửa đoạn cuối thôi!”

Sau vài phút thi sĩ ngẩng đầu lên, má đỏ hồng và lòng đầy hân hoan. “Dễ như không ấy ạ. Hai bác nghe nhé!” Và cô bé đọc chầm chậm, với giọng diễn cảm lâm ly:

Cười qua thu đến hạ,

Hay một kiếp lệ tràn,

Bởi Chúa đã định an

Thản nhiên con đón nhận.

Hai bác Cobb trao nhau ánh mắt lặng câm đầy khâm phục; thậm chí bác Jerry còn phải quay mặt về phía cửa sổ lén lau mắt bằng cái túi đựng dây.

“Làm thế nào cháu có thể viết được thế chứ?” bác Cobb gái thốt lên.

“Ôi, dễ ấy mà,” Rebecca trả lời; “những bài thánh ca ở nhà thờ đều như thế cả. Bác thấy đấy, có một tờ nguyệt san cho trường học in ở Trường Trung học Tư thục Wareham. Dick Carter bảo biên tập viên cho tờ ấy tất nhiên bao giờ cũng là nam sinh; nhưng anh ấy cho phép nữ sinh thử viết cho tờ ấy, và rồi sẽ chọn ra bài hay nhất. Dick nghĩ là cháu có thể được chọn.”

“Được chọn ấy à!” bác Jerry thốt lên. “Ta sẽ chẳng ngạc nhiên chút nào nếu cháu có phải viết bài cho toàn bộ tờ báo ấy; và cái đứa học sinh nam làm biên tập viên kia, ta cá với cháu là cháu có thể viết hay hơn cả nó dù có bị buộc quặt một tay ra đằng sau ấy chứ.”

“Chúng ta có thể xin cháu bài thơ này để cho vào trong cuốn Kinh Thánh của gia đình được không?” bác Cobb gái hỏi đầy trân trọng.

“Ôi! Bác thích thật ạ?” Rebecca hỏi. “Được chứ ạ! Cháu sẽ chép một bản thật sạch sẽ đẹp đẽ bằng mực tím và bút xịn. Nhưng cháu phải đi xem cái váy tội nghiệp của cháu đã.”

Đôi vợ chồng già đi theo Rebecca vào bếp. Chiếc váy đã khô, và nói thật thì nhờ bác Sarah nên nó đã khá hơn một chút; nhưng màu đã bị phai đi vì cọ xát, các họa tiết thì mờ đi, và đôi chỗ có vài vệt lờ mờ màu đất. Cuối cùng mọi người cũng chỉ còn biết mang nó đi là cho thật phẳng phiu. Xong xuôi đâu đấy hai bác giục Rebecca mặc lên, để xem liệu những vết kia còn rõ nữa hay không.

Đúng là còn, khổng thể chối cãi được, dù đối với đôi mắt vô ý nhất. Rebecca xem xét một lượt, đoạn vừa lấy mũ treo trên móc cạnh cửa ra vào vừa nói, “Cháu nghĩ cháu phải về thôi. Chúc hai bác ngủ ngon! Nếu có bị mắng thì cháu cũng mong là không bị mắng nhiều.”

“Tội nghiệp con bé xui xẻo!” bác Jerry thốt ra khi nhìn dõi theo cô xuống chân đồi. “Mong là con bé để ý một chút đến con đường dưới chân nó; nhưng tôi thề rằng nếu con bé mà là con chúng ta thì muốn mắng nó ta củng phải để nó đổ hết cả son đầy ra nhà đã rồi mới mắng. Đây là bài thơ con bé để lại. Đọc to lên đi, mẹ nó. Chà chà!” bác vừa nói vừa bật cười khe khẽ, châm chiếc tẩu lõi ngô; “tôi có thể hình dung ngay cái cảnh đuôi áo của thằng bé biên tập viên kia bay tung lên lần cuối khi cu cậu chạy quắn vào rừng, trong khi Rebecky đàng hoàng ngồi xuống cái ghế xoay của cậu ta! Tôi hoi thắc mắc không hiểu công việc biên tập kia chính xác là làm cái gì; nhưng con bé sẽ biết làm ngay ấy mà, Rebecky ấy. Và con bé sẽ biên tập cho ra biên tập chứ lại!

Bởi Chúa đã định an

Thản nhiên con đón nhận.

Chao ôi, mẹ nó ạ! Chuẩn quá đi, giống như là sách Phúc Âm vậy. Bà nghĩ làm sao mà con bé có thể nghĩ ra được như thế?”

“Con bé ngần ấy tuổi thì chưa thể tự nghĩ ra được,” bác Cobb gái nói; “hẳn nó đoán thế thôi. Chúng ta vẫn biết được một số thứ kể cả khi không ai nói cho mà, Jeremiah.”

Rebecca chịu trận mắng mỏ (rất đáng phải gánh chịu) như một người lính. Trận mắng ấy thật rõ nhiều, và bà Miranda đay nghiến, ngoài bao nhiêu những đay nghiến khác, rằng một đứa trẻ đầu óc trên mây đến thế thì chắc chắn lớn lên sẽ thành một kẻ đần độn suốt ngày thò lò mũi xanh mà thôi. Cô bé bị cấm đến tiệc sinh nhật Alice Robinson, và bị bắt phải mặc cái váy ấy, cái váy dính bẩn và đầy vết sờn xước ấy, cho đến khi hỏng. Sáu tháng sau bác Jane xoa dịu nỗi đọa đày ấy bằng cách may cho cô bé một cái váy ngoài vải sọc nổi có viền đăng ten, cắt rất khéo léo để che hết các vết bẩn. Thật may là bác sẵn sàng chữa cháy cho kẻ tội đồ nhỏ đáng thương sau những hậu quả của tội lỗi đó.

Khi Rebecca nghe xong án phạt và trở về phòng mình ở phía Bắc căn nhà, cô bé bắt đầu suy nghĩ. Nếu như có gì đó cô không mong trở thành, thì chính là một đứa đần độn, đặc biệt là một đứa đần độn thò lò mũi xanh; và cô kiên quyết tự phạt mình mỗi lần phạm phải cái mà cô cho là nỗi phiền toái thật sự với người họ hàng đáng kính của mình. Cô không bận lòng chuyện phải tránh xa nhà Alice Robinson. Cô đã nói với Emma Jane rằng bữa tiệc sẽ như một buổi dã ngoại ở nghĩa địa, vì nhà Robinson đã xoay xở hết sức để ngôi nhà của họ trông chẳng khác nấm mồ là mấy. Trẻ con thường phải vào nhà bằng cửa sau, và bị yêu cầu đứng lên giấy báo khi tới nhà đấy chơi, thế nên các bạn nài nỉ Alice là hãy “đón tiếp” trong nhà kho hoặc chuồng ngựa khi nào có thể. Bà Robinson không chỉ “ngăn nắp khủng khiếp” mà còn “hà tiện khủng khiếp”, thế nên đồ ăn thức uống rất có thể chỉ là kẹo bạc hà và nước giếng.

Sau khi xem xét các giá trị tương quan giữa một tấm vải dệt từ lông ngựa mặc vào người với một hòn sỏi để trong giày, cô bé quyết định bỏ qua cả hai hình thức hành xác ấy. Tấm vải dệt từ lông ngựa thì không kiếm đâu ra được, còn sỏi sẽ bị bà bác có đôi mắt tinh tường phát hiện ngay, ngoài ra việc đó cản trở một cách ngu ngốc tới những hoạt động của một người phải làm việc nhà và đi bộ một dặm rưỡi đến trường học.

Cố gắng thử nghiệm tự hành xác đầu tiên không được thành công cho lắm. Cô bé đã ở nhà không đi dự buổi hòa nhạc ở trường Giáo lý, một buổi lễ mà, vì chưa từng biết đến buổi lễ nào hấp dẫn hơn, cô bé rất mê. Hậu quả của việc cô vắng mặt là hai đứa trẻ thường dựa dẫm vào cô để được nhắc bài (cô bé thuộc bài của đám trẻ ấy hơn cả chúng) đã không được tích sự gì. Lớp mà cô bé dự phải lần lượt đọc một chương khó trong Kinh Thánh, và đám học trò mất cả buổi chiều khốn khổ dựa vào chỗ ngồi để tính toán phần mình phải đọc, tập đọc các đoạn nhất định sẽ rơi vào mình. Chúng quá ngốc nghếch nên không hiểu được rằng sự vắng mặt của Rebecca sẽ khiến tất cả mọi thứ lộn tùng phèo, và cú đòn giáng mạnh xuống khi những đứa ít có khả năng xoay xở với những cái tên như Jebusite, Amorite, Girgashite, Hivite và Perizzite thì lại vớ phải đúng những từ ấy.

Việc tự trừng phạt, như vậy, để có mức độ vừa phải và phù hợp, phải bắt đầu từ trong nhà, giống như làm từ thiện, nhưng không như từ thiện, nó chỉ được kết thúc ở phạm vi trong nhà mà thôi. Rebecca ngồi bên của sổ, lơ đãng nhìn quanh phòng. Cô phải từ bỏ một thứ gì đó, và nói thật là cô chẳng có gì nhiều để mà từ bỏ, hầu như chẳng có thứ gì - phải rồi, cái đó có thể được, cái dù hồng đáng yêu. Cô bé không thể giấu nó trên gác mái, bởi trong một vài phút yếu lòng chắc chắn cô sẽ lại lấy ra. Cô sợ mình không đang tâm đập tan nó ra thành từng mảnh. Anh mắt cô di chuyển từ chiếc dù tới những cây táo trong vườn hông nhà, và rơi xuống nơi thành giếng. Chỗ đó được đấy; cô sẽ quàng món đồ yêu thích nhất của mình xuống nước sâu thăm thẳm. Như thường lệ, hành động nhanh chóng nối tiếp quyết định. Cô bé mò xuống dưới nhà trong đêm, lẻn ra cửa trước, tiến đến nơi cúng tế, nhấc nắp giếng lên, rùng mình một cái dứt khoát và lấy hết sức mình quẳng chiếc dù xuống. Vào cái khoảnh khắc rũ bỏ tối quan trọng ấy, cô bé thây được an ủi rất nhiều khi nhớ rằng mình rất giống với những bà mẹ Hindu dâng con mình cho cá sấu sông Hằng.

Cô bé ngủ ngon và tỉnh giấc đầy sảng khoái, như cái cảm giác mà một linh hồn đã thoát bỏ được tội lỗi bao giờ cũng phải có nhưng thỉnh thoảng mới thật sự có. Tuy nhiên sau bữa sáng hôm ấy, có một vấn đề lớn nảy sinh là kéo nước rất khó khăn. Rebecca, sau khi tự trừng phạt mình và tinh thần lên rất cao, đã tới trường. Abijah Flagg được gọi tới. Anh nâng nắp giếng lên xem xét thì thấy ngay cái lý do gây rắc rối nọ, và với sự tinh khôn của dân Yankee anh đã lấy được nó lên. Hóa ra tay cầm bằng ngà của chiếc dù mắc vào xích kéo, và khi anh kéo nước, vật tế thần bé nhỏ của con tim ăn năn kia bị lôi lên, bẻ cong, những cái gọng cắm vào thành giếng và mắc vào một cái rễ cây. Cũng chẳng cần phải nói rằng không một nhà ảo thuật, dù chuyên nghiệp đến cỡ nào, có thể thực hiện được kỳ công này, trừ phi được sức mạnh của bóng đêm giúp đỡ; nhưng một đứa trẻ không may mắn trong việc làm việc tốt thì chỉ cần phẩy tay một cái là xong.

Chúng ta sẽ kéo tấm màn che lại cái cảnh diễn ra sau khi Rebecca từ trường về. Quý vị độc giả có thể đã lớn tuổi, có thể là người có tài ăn nói, khéo léo trong lập luận; nhưng ngay cả như thế quý vị vẫn có thể nao núng khi nghĩ tới việc phải giải thích diễn biến tâm lý quanh co vòng vo dẫn quý vị đến chỗ ném chiếc dù hồng yêu mến của mình xuống giếng của Miranda Sawyer. Có thể quý vị cảm thấy chẳng khác nào bàn luận về hiệu quả của việc tự trừng phạt tinh thần với một người mím chặt môi lại và nhìn quý vị với đôi mắt vô cảm, không chịu thấu hiểu! Lý lẽ thông thường, sự đúng đắn và logic đều xếp hàng đứng về phía bà bác Miranda. Khi cô bé Rebecca tội nghiệp bị dồn tới chân tường, phải thừa nhận những lý do đằng sau việc hy sinh chiếc dù của mình, bác cô nói, “Nghe này Rebecca, cô lớn quá rồi ta không thể đánh được, mà ta cũng chả thèm đánh; nhưng khi cô nghĩ rằng cô bị phạt thế còn chưa đủ, thì cứ nói với ta, và ta sê cố nghĩ thêm cho cô vài hình phạt nữa. Ta không thông minh bằng một số người, nhưng ta có thể làm được việc đó; và dù là cái gì đi nữa, thì nó cũng không phải thứ trừng phạt luôn cả cái nhà này, để rồi bắt họ phải uống nước có bụi ngà, mùn gỗ và giẻ rách.”

❀ ❀ ❀

[1] Từ trong bài thơ “Intimations of Immortality” (Sự bất tử được báo trước) của William Wordsworth.

[2] Câu đầu tiên trong bài thơ “A Psalm of Life” của Henry Wadsworth Longfellow, nguyên văn là Tell me not, in mournful numbers. Từ number(s) có nghĩa chính là con số, một nghĩa hiếm gặp nữa là lời (thơ). Bởi vợ chồng bác Cobb hiểu theo nghĩa thứ nhất nên thấy câu thơ tối nghĩa.

Người dịch: Phạm Minh Điệp
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Kate Douglas Wiggin

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.