Rebecca Ở Trang Trại Suối Nắng

Lượt đọc: 470 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Vii Những Bí Mật Của Riverboro

❊ ❊ ❊

Ông Simpson ít khi ở nhà, cũng bôi cái phương thức kỳ cục gì đó của việc buôn ngựa, hay là việc “đổi chác” dụng cụ nhà nông và các phương tiện đi lại đủ kiểu -những vụ kinh doanh mà khách hàng của ông ta không cố định được mấy nỗi. Sau mỗi vụ đổi chác thành công ông ta thường ngồi tù lúc dài lúc ngắn; bởi khi một người đàn ông nghèo không của cải không đất đai lại nhiễm cái thói đổi chác mãn tính, thì tự nhiên ông ta phải kiếm thứ gì đó để đổi; và vì chẳng có gì, nên hệ quả còn đương nhiên hơn nữa là ông ta phải đổi cái gì đó thuộc về nhà hàng xóm.

Lúc này ông Simpson đang vắng nhà vì ông ta đã đổi xe trượt tuyết của bà quả phụ Rideout lấy cái cày của ông Joseph Goodwin. Ông Goodwin mới chuyển đến Bắc Edgewood gần đây và trước đó chưa bao giờ gặp ông Simpson lịch thiệp cũng như khéo mồm. Cái cày của Goodwin ông Simpson đã nhanh như chớp đổi chác với một ông “tận mạn Wareham”, để lấy một con ngựa già mà chủ nó không cần đến, vì người đàn ông đó sắp rời thị trấn đến ở nhà con gái chừng một năm, ông Simpson vỗ béo con ngựa già trong vài tuần (vào lúc sớm mai hoặc đêm tối) luân phiên khắp các đồng cỏ các nhà hàng xóm, rồi đổi nó lấy chiếc xe một ngựa của một ông ở Milltown. Đúng lúc này bà quả phụ Rideout phát hiện ra chiếc xe trượt tuyết trong nhà để xe đã mất. Bà không dùng nó có đến mười lăm năm rồi và có lẽ cũng chẳng dùng đến trong mười lăm năm sau nữa, nhưng nó là tài sản của bà, và bà không định để mất nó một cách dễ dàng mà không chiến đấu đến cùng. Khi biết chiếc xe bị mất, bà nghĩ ngay đến ông Abner Simpson - âu cũng bởi cái chiều hướng ngờ vực ấy đã nằm trong căn cốt của người làng. Tuy nhiên, phức tạp là ở bản chất của vụ đổi chác này và sự vòng vèo của nó (một phần vì sự vắng mặt của chủ con ngựa, người đã đi về miền Tây mà không để lại địa chỉ nơi đến), cuối cùng cảnh sát trưởng phải mất vài tuần để chứng minh ông Simpson có tội cho thỏa lòng dân làng và bà quả phụ Rideout. Ông Abner thì thề thốt rằng mình hoàn toàn vô tội, đồng thời kể với hàng xóm là một gã tóc đỏ, sứt môi, mặc bộ cánh màu xám đã gọi ông ta một sóm tinh mơ nọ đề nghị đổi cho một chiếc xe trượt tuyết còn tốt lấy một máy ép nước táo mà ông ta để trước sân. Họ thương lượng và ông ta, Abner, đã phải trả thêm kẻ lạ mặt sứt môi bốn đô bảy mươi nhăm xu; ngay lập tức gã đàn ông bí ẩn kia hạ cái xe trượt tuyết xuống, bỏ máy ép lên xe ngựa đoạn đi mất dạng, không sủi chút tàm hoi từ đấy tới nay.

“Tôi mà tóm được tên trộm già chết tiệt ấy,” ông Abner hùng hồn tuyên bố, “tôi sẽ làm cho ra chuyện - ai lại tống cho tôi cái xe ngựa ăn cắp và lấy của tôi chỗ tiền với cái máy ép quả chứ, đấy là còn chưa kể đến thanh danh của tôi nữa!”

“Ông sẽ không bao giờ bắt được hắn đâu, Ab ạ,” cảnh sát trưởng nói. “Hắn đã biến mất cùng với cái máy ép táo và thanh danh với lại bốn đô bảy nhăm kia của ông rồi; chưa ai từng thấy những thứ đó ngoài ông, và ông cũng chẳng bao giờ thấy lại nữa đâu!”

Bà Simpson, người không nghi ngờ gì là nửa kia tốt đẹp của ông Abner, nhận việc giặt giũ và đi làm mỗi ngày, còn cả thị trấn đỡ đần cho việc ăn việc mặc của lũ trẻ. George, cậu con giai mười bốn tuổi cao lêu nghêu vụng về thì đi làm thuê vặt ở mấy trang trại loanh quanh, còn những đứa khác, Samuel, Clara Belle, Susan, Elijah và Elisha, thì đi học khi chúng có quần áo tử tế và không say sưa vào những trò khác.

Không có một bí mật nào tồn tại nổi trong những ngôi làng nằm bên bờ sông Pleasant[1]. Dân làng cũng có rất nhiều người chăm chỉ, nhưng cuộc sống trôi qua thật chậm chạp và yên bình, nên họ luôn có nhiều thời gian rỗi rãi dành cho chuyện phiếm - dưới gốc cây ban trưa trên đồng cỏ khô; trên cầu khi đêm xuống; quanh bếp lò của cửa hàng bách hóa vào buổi tối. Những chỗ tụ tập này là đất để bàn tán về các sự kiện đương thời từ góc nhìn của cánh đàn ông, trong khi các đội tập hát hợp xướng, các nhóm khâu vá, hội đọc sách, các buổi dã ngoại của nhà thờ, và những thứ tương tự, lại cho phía phụ nữ cơ hội thể hiện quan điểm. Tất cả những điều này được coi là rất bình thường, như một lề thói, nhưng thỉnh thoảng cũng có một người vô cùng nhạy cảm nào đó gay gắt phản đối, âu cũng là lẽ thường tình.

Ví như bà Delia Weeks, một bà cô không chồng có hàng may quần áo nhỏ; bà bị ốm, và mặc dù được tất cả bác sĩ trong vùng trông nom để mắt đến, vẫn yếu dần yếu mòn trước khi người anh họ Cyrus nhờ bà đến Lewiston trông nom nhà cửa. Bà đi, và trong vòng một năm đã trở thành một phụ nữ tràn trề súc sống, nhiệt tình và vui vẻ. Khi trở về thăm Riverboro một thời gian ngắn, người ta hỏi liệu bà có định nằm xuống ở một chốn không phải là nhà không.

“Chắc chắn là thế rồi, nếu tôi kiếm được bất kỳ chỗ nào khác,” bà thẳng thắn trả lời. “Tôi đã trở thành một bóng ma mòn mỏi ở nơi này, tôi cứ luôn phải cố gắng giữ lấy những bí mật của riêng mình, và chẳng bao giờ thành cõng cả. Đầu tiên người ta đồn rằng tôi muốn lấy ông mục sư, rồi khi óng ấy lấy bà vợ ở Standish người ta khẳng định là tôi đã rất thất vọng và suy sụp. Rồi suốt năm sáu năm họ đoán già đoán non là tôi đang cố kiếm một chân đi dạy học, mãi tới khi tôi hết hy vọng và quay ra làm may, thì họ lại thương hại tôi và thông cảm với tôi vì điều đó. Khi cha tôi mất tôi tự dặn mình không được cho ai biết tôi đã sống một mình ra sao, bởi điều đó khiến người ta giận dữ hơn bất cứ điều gì; nhưng rồi người ta vẫn có cách tìm ra, cho dù tôi đã gắng hết sức mình! Rồi còn cả em trai tôi là James, nó chuyển tới Arizona từ hồi mười sáu tuổi. Tôi kể toàn tin tốt của nó trong suốt ba mươi năm ròng, nhưng dì Achsy Tarbox có một người em họ tọc mạch đến Tombstone khám bệnh, bà ta viết thư cho một bác giám đốc bưu điện, hay một ông có chức có quyền nào đó, biết chuyện của Jim liền thư lại cho dì Achsy về nó và về chuyện nó khốn khổ ra sao. Tôi nhổ răng và làm lại răng mới người ta cũng biết; tôi đội tóc giả người ta cũng biết; người ta biết cả khi tay bán trái cây rong hỏi tôi làm vợ ba của hắn - tôi chẳng bao giờ kể cho họ, và cô có thể chắc chắn là anh ta cũng chẳng bao giờ kể, nhưng ở cái làng này chẳng cần kể thì người ta cũng biết; người ta chẳng làm gì cả ngoài việc đoán mò, và người ta đoán đúng tất tần tật. Tôi đã quá mệt mỏi với việc phải cố gắng đánh lạc hướng và qua mắt họ; và vào cái giây phút tôi tới được nơi mà tôi không còn ngày bị soi dưới kính hiển vi, đêm thì bị soi bằng kính thiên văn và được là chính mình mà không phải xin phép, tôi quyết đi ngay. Ông anh họ Cyrus đã già và cũng lắm chuyện lắm, nhưng ông ấy nghĩ rằng tôi cũng đẹp và nói tôi có mái tóc trông tuyệt lắm. Chẳng có người nào ở Lewiston biết về vị mục sư, di chúc của cha, hay là chuyện Jim làm, hay là tay bán trái cây dạo; dù có biết họ cũng chẳng quan tâm mà cũng chẳng nhớ nữa; vì, ơn trời, Lewiston là một nơi bận rộn!”

Bà Delia Weeks có thể đã thổi phồng sự việc ít nhiều, nhưng rất dễ hình dung là Rebecca cũng như tất cả trẻ em Riverboro đã được nghe chuyện cái xe trượt tuyết bị mất của bà quả phụ Rideout và mối hồ nghi về việc ông Abner Simpson có dính dáng tới nó.

Ở một trường làng bình thường thì lấy đâu ra chuyện lịch sự với tế nhị, đám học sinh xì xào với nhau đủ những loại câu đố và vè về nhà Simpson mỗi khi lũ trẻ nhà ấy không có mặt.

Rebecca Randall cũng chơi cùng hội ấy, sự liên quan của cô bé trong những chuyện này cũng chẳng khác nào chúng bạn, vậy nên khó có thể hiểu tại sao cô bé lại ghét thói nói xấu và tránh xa nó một cách vô thức như vậy.

Trong số những đứa bé gái đồng trang lứa ở Riverboro có một đứa đặc biệt với cái tên rất phù hợp với tính người là Minnie Smellie[2], chẳng ai ưa nó cả. Con bé có đôi mắt như mắt chồn, tóc vàng, chân dài, và tính tình thì là sự kết hợp giữa một con vẹt và một con cừu. Mọi người nghi con bé nhìn trộm bài ở bảng của những đứa con gái khác, dù chưa bao giờ bắt quả tang. Rebecca và Emma Jane luôn biết rõ hôm nào nó mang bánh nhân hoa quả hay bánh bông lan trong hộp đồ ăn trưa, vì thể nào hôm đó con bé cũng sẽ từ bỏ lũ bạn đông vui đi kiếm một chỗ kín đáo trong rừng, rồi lát sau quay trở lại với một nụ cười tươi trên khuôn mặt đầy thỏa mãn.

Một hôm sau bữa trưa kín đáo đó, Rebecca không thể nhịn được nữa, thấy Minnie ngồi xuống với lũ bạn, cô bé bèn hỏi, “Cậu đỡ đau đầu chưa, Minnie? Để tớ lau mứt dâu trên miệng cho.”

Sự thật là chẳng có vết mứt dâu nào cả, nhưng cái khăn tay tội lỗi của Minnie nhanh như cắt được đưa lên lau cái miệng trên khuôn mặt đỏ như gấc của nó.

Ngay buổi chiều hôm đó Rebecca thú nhận với Emma Jane rằng cô bé cảm thấy xấu hổ vì trò quỷ của mình. “Tớ có ghét cái kiểu của nó,” cô bé khẳng định, “nhưng tớ thấy có lỗi khi để cho nó biết mình nghi ngờ nó; thế nên tớ đã cho nó mẩu san hô tớ vẫn cất trong cái ví đính cườm; cậu biết cái đó không?”

“Tớ thấy cho nó chả đáng, nó tham lam chết đi được,” Emma Jane nhận xét.

“Tớ biết thế, nhưng như thế tớ cảm thấy dễ chịu hơn,” Rebecca rộng rãi, “với lại tớ đã giữ mẩu san hô hai năm nay rồi, nó còn bị vỡ nữa nên cũng chẳng đẹp được như lúc đầu.”

Miếng san hô đã phần nào phục vụ được mục đích làm lành, cho đến một chiều nọ Rebecca về nhà theo đường tắt sau khi ở lại trường để học ngữ pháp như mọi khi. Xa xa đằng trước, bên kia hàng rào, cô bé nom thấy chị em nhà Simpson vừa mới đi tới khoảnh rừng nhỏ. Bập Bênh không có trong nhóm ấy, nên cô bé nhanh chân bước để được đi cùng về nhà. Chúng nhanh chóng đi khuất tầm mắt, nhưng khi sắp bắt kịp chúng, cô bé nghe thấy ở hàng cây trước mặt giọng hát của Minnie Smellie cao vống lên, và cả tiếng một đứa trẻ đang khóc nức nở. Clara Belle, Susan và hai đứa song sinh đang chạy vội trên lối mòn, và Minnie thì vừa nhảy nhót vừa hát tướng lên:

“Sao xe trượt tuyết yêu Simpson đến thế?”

Lũ trẻ háo hức hỏi cô;

“Chao, bởi Simpson yêu xe lắm mà,”

Cô giáo trả lời ngay như vậy.

Bóng dáng lũ trẻ nhà Simpson và vạt áo rách rưới cuối cùng của chúng thoắt cái đã mất hút trên đường. Tiếng một hòn đá nhỏ do “đứa song sinh hung hăng” Elijah ném roi xuống phá vỡ cái yên bình của khu rừng trong phút chốc, nhưng nó không chạm được tới khu vực một trăm mét quanh Minnie, kẻ vừa mới hét tướng “Lũ tù tội!” và sung sướng quay lại thì gặp Rebecca đang đứng im như tượng trên đường với ánh mắt báo cho Minnie biết rằng đã đến lúc nó phải đền tội.

Khuôn mặt của Minnie trông không được hay ho cho lắm, vì cảnh tượng một kẻ hèn nhát bị bắt quả tang làm điều sai trái thật không đẹp đẽ gì.

“Minnie Smellie, nếu - như - tôi - bắt - được - cậu - hát - như - thế - với - anh - em - nhà - Simpson - lần - nữa, cậu biết tôi sẽ làm gì không?” Rebecca nén giận hỏi.

“Tao không biết và tao không thèm biết,” Minnie đáp vẻ khoái trá, cho dù trông mặt thì rõ là đang nói dối.

“Tôi sẽ lấy lại miếng san hô, và tôi nghĩ là tôi sẽ còn tát cậu nữa đấy!”

“Thách mày!” Minnie trả miếng. “Mày động đến tao là tao mách mẹ tao và cô giáo cho mày biết mặt!”

“Cậu có mách mẹ cậu, mẹ tôi, mách cả họ hàng nhà cậu, cả tổng thống nữa thì tôi cũng cóc sợ,” Rebecca nói, thêm dũng cảm nhờ những từ ngữ cao quý đang tuôn ra. “Cậu có nói với cả thị trấn, cả quận York này, cả bang Maine và… và cả nước này tôi cũng cóc sợ!” cô bé huếnh lên. “Giờ thì biến về nhà đi và nhớ những lời tôi nói. Nếu cậu còn làm thế nữa, và đặc biệt là nếu còn nói ‘Lũ tù tội’, tòi sẽ cho cậu biết tay nếu thấy cần phải làm thế.”

Sáng hôm sau vào giờ ra chơi Rebecca để ý thấy Minnie thêu dệt câu chuyện ấy với Huldah Meserve. “Nó dọa tớ,” Minnie thì thầm, “nhưng tớ chẳng bao giờ tin lời nó nói.”

Câu thứ hai được nói ra với chủ đích để người khác nghe thấy, vì Minnie thỉnh thoảng cũng có chút gan dạ khi được luật lệ và quy định bảo vệ.

Khi Rebecca trở về chỗ ngồi, cô bé xin phép cô Dearborn gửi một mẩu giấy cho Minnie Smellie và được cô đồng ý. Mẩu giấy ấy thế này:

Trong cả đám con gái nhỏ nhen

Nhỏ nhen Bốc mùi chẳng ai bằng.

Tôi sẽ lấy lại quà đã tặng

Rồi giã cho nó câm họng.

Tái bút: Giờ thì tin chưa?

R. RANDALL

Hiệu quả của bài vè thật đáng thuyết phục, và nhiều ngày sau đó hễ Minnie gặp anh em nhà Simpson nơi nào cách ngôi nhà gạch cả dặm con bé cũng rùng mình và khóa chặt mồm miệng.

❀ ❀ ❀

[1] Sông ở bang Maine, là nơi câu chuyện này diễn ra.

[2] Nhỏ nhen Bốc mùi.

Người dịch: Phạm Minh Điệp
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Kate Douglas Wiggin

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.