Kỳ học mùa hè ở Wareham đã kết thúc, Huldah Meserve, Dick Carter và Living Perkins hoàn thành chương trình học, chỉ còn lại Rebecca và Emma Jane đại diện cho Riverboro trong năm học tiếp theo. Bà Delia Weeks từ Lewiston về thăm ngắn ngày và bà Robinson chuẩn bị liên hoan mừng sự kiện này bằng một bữa tiệc nhỏ. Ngày tổ chức tiệc nhằm đúng dịp dâu tây chín và có con gà trống cần được thịt. Bà Robinson giải thích chuyện này với chồng và đề nghị ông ăn tối ở cái bàn thợ mộc trong lán, vì bữa tiệc sẽ chỉ toàn phụ nữ.
“Được thôi; tôi cũng chẳng mất gì,” ông Robinson đáp. “Cứ cho tôi món đậu là xong, tôi chỉ cần thế thôi. Khi nào gà nuôi được mổ thì tôi muốn người khác ăn, chứ không phải tôi!”
Bà Robinson chỉ tiệc tùng một hai lần mỗi năm, và thường bà phải mệt lử đến vài ngày sau đó. Cuộc đấu tranh giữa thể diện và tính tằn tiện khiến bà căng thẳng vô cùng. Để duy trì chỗ đứng trong cộng đồng này, bà cần phải bày biện trang hoàng cho thật hoành tráng. Thế nhưng việc vung tiền chuẩn bị luôn dằn vặt bà từ giây phút bắt đầu trộn bột bánh vân cẩm thạch đến khi bữa tiệc thịnh soạn được bày ra.
Con gà đã luộc trong nước sôi âm ỉ từ sáng, nhưng sức chịu đựng của nó thật ngoan cường vì hình dáng nó vẫn chắc nịch đẹp đẽ y như khi mới được thả vào nồi.
“Nó sẽ không chịu nhừ cho đâu!” Alice lo lắng dòm vào nồi, “trông cứ y như là con bù nhìn ấy.”
“Để ta cho nó một nhát dao xem nó còn chịu không,” mẹ cô trả lời; “còn việc nó ra sao thì một đĩa đầy nước xốt sẽ làm bọn gà già trông khác ngay, rồi ta sẽ xếp bánh bao nhân mặn quanh đĩa; trông đầy đặn ngay, mặc dù thường thì hai thứ đó không đi với nhau.”
Con gà trống luộc đúng là rất đẹp trên đĩa viền bằng bánh bao, và khi Alice bê ra ai cũng khen tấm tắc. Cũng may, vì khi các quý bà quý cô bắt đầu ăn thì điệp khúc xuýt xoa dừng ngay tắp lự.
“Tôi mừng là bà về chơi đúng lúc Huldy tốt nghiệp, bà Delia ạ,” bà Meserve nói. Bà ngồi cuối bàn và giúp chia phần con gà trong khi bà Robinson rót cà phê ở đầu bàn. Bà đúng là mẹ Huldah, ăn mặc có khi thời trang nhất Riverboro; sức khỏe kém và váy áo chính là hai thứ yêu thích nhất trên đời của bà. Nghe đâu cái mái xoăn cầu kỳ của bà tốn đến năm đô la, mỗi năm hai lần lại phải đưa nó đến Portland để chỉnh sửa và uốn lại; nhưng rất khó để có thể xác định sự thật trong những chuyện này, và một nhàsử học có lương tâm luôn muốn cảnh báo cho độc giả nhẹ dạ không nên tiêm nhiễm những thứ tưởng là chân lý mà lại rất có thể là thứ trái ngược hoàn toàn với nó. Về vê bề ngoài của bà Meserve, bạn đã bao giờ lân la làm bạn với một đầu bếp và ngồi bên bàn bếp trong khi bà bày ra những chiếc bánh quỵ gừng? Rồi trong một khoảnh khắc thân tình lạ lẫm, bà làm cho bạn một chiếc bánh hình quý cô, dùng con dao cắt hình người thật khéo léo, và cuối cùng đặt hai quả lý chua đen lên làm mắt cho thành mặt người. Chỉ cần hình dung ra khuôn mặt của quý cô bánh gừng ấy là bạn sẽ biết ngay dung mạo của mẹ Huldah - cô Peter Meserve, như bà thường được gọi cùng một vài Peter Meserve khác nữa.
“Delia, bà thấy chiếc váy của Huldy thế nào?” bà vừa hỏi vừa kéo tanh tách chiếc vòng tay chun đen, một thói quen rất khó chịu.
“Tôi nghĩ bộ váy nó mặc hôm đấy là bộ đẹp nhất,” Delia trả lời; “và bài luận của con bé cũng thuộc hạng nhất. Buổi hôm đó có mỗi bài của con bé là hay, nó đọc vừa to vừa rõ, bọn tôi chẳng bỏ lỡ một chữ nào cả; trong khi hầu hết lũ con gái đều nói năng lúng búng như là ngậm cháo trong mồm ấy.”
“Đấy là bài luận nó viết để tham gia cuộc thi của Adam Ladd,” bà Meserve giải thích, “và người ta bảo lẽ ra nó phải được giải nhất, thay vì giải tư, nếu như nó viết về chủ đề khác. Ban giám khảo gồm ba mục sư và ba trợ tế, chẳng trách họ chọn ngay một bài nghiêm túc; bài của con bé sống động vui nhộn quá sức với họ mà.”
Chủ đề hấp dẫn của Huldah là Con trai, và rõ ràng cô có cả một kho kiến thức và kinh nghiệm để thừa sức viết thật thông thái về nó. Bài luận thu phục hầu hết thính giả, những người thích thú các câu đùa rẻ tiền và những lời bóng gió lóng lánh trong đó; tuy vậy xét từ khía cạnh văn chương thuần túy, còn nhiều thứ người ta phải trông đợi ở bài luận.
“Bài của Rebecca không được đọc, nhưng bài cái cậu đoạt giải cho nam sinh thì lại được đọc, sao thế nhỉ?” bà Robinson hỏi.
“Vì con bé chưa tốt nghiệp,” bà Cobb giải thích, “và không được tham gia vào chương trình của buổi lễ tốt nghiệp; bài của nó sẽ được in trên báo trường cùng với bài của Herbert Dunn.”
“Thế thì tốt, vì chừng nào chưa đọc tận mắt, tôi vẫn chưa tin là nó hay hơn bài của Huldy; xem ra có vẻ như giải thưởng đấy phải thuộc về học sinh lớp lớn.”
“Không đâu, Marthy à, trừ phi Ladd treo giải đó cho một trong hai lớp lớn muốn thi thố,” bà Robinson phản bác. “Nghe bảo họ đề nghị anh ta lên trao giải mà anh ta một mực từ chối. Kể cũng lạ, giàu có đến thế và đã chu du khắp đất nước rồi mà còn nhũn nhặn đến mức không muốn đi lên bục để trao giải.”
“Huldy nhà tôi có mà làm ngay được ấy chứ, chẳng phải chần chừ tí nào,” bà Meserve tự mãn nhận xét; một nhận xét có vẻ như chẳng trái ngược với bất kỳ một lời nào của những người xung quanh.
“Dù vậy thì cũng thật hoàn hảo rồi, ngài thống đốc tình cờ lại có mặt dự lễ tốt nghiệp của cháu gái,” Delia Weeks nói. “Chao! Ông ấy trông mới lịch lãm chứ! Họ bảo ông ấy chỉ cao có mét tám, nhưng nếu nói là tám mét thì cũng chẳng lấy làm khó tin, và lại còn nói rất hay nữa chứ.”
“Các bà có thấy Rebecca mặt tái xanh, run lẩy bẩy lúc cùng thằng Herbert Dunn đứng đó nghe ngài thống đốc khen ngợi hai đứa không? Ông ấy cũng đọc bài luận của con bé rồi, vì sau đó ông ấy viết cho hai cô Sawyer một lá thư về bài luận ấy đấy.” Những lời này là từ bác Cobb gái thông cảm và hiểu sự tình.
“Tôi thì nghĩ như thế thật ngốc nghếch, cứ toàn nói về con bé trong khi đấy chẳng phải là lễ tốt nghiệp của nó,” bà Meserve phản đối; “còn đặt tay lên đầu con bé các thứ nữa chứ, cứ như ông ta là giáo hoàng đang làm lễ giáng phúc ấy. Nhưng thôi! Tôi mừng là giải nhất dù sao cũng về Riverboro, Wareham thì chẳng kiếm đâu ra đứa học sinh nào xinh đẹp hơn Riverboro cả. Tôi đồ rằng tiền bạc của Adam Ladd thì nhiều vô kể. Năm mươi đô la ấy cũng đã đủ tươm rồi, vậy mà anh ta còn phải để vào trong mấy cái ví đẹp thế không biết.”
“Tôi ngồi xa quá đâm ra chả trông rõ gì cả,” Delia phàn nàn, “giờ thì Rebecca đã mang về khoe với mẹ nó mất rồi.”
“Cái ví của nó là kiểu ví lưới vàng có quai đeo bằng dây xích,” bà Perkins nói, “trong có năm đồng vàng trị giá mười đô. Của thằng Herbert Dunn thì là cái ví da xịn.”
“Rebecca sẽ ở lại trang trại bao lâu nhỉ?” Delia hỏi.
“Khi nào xong đám cưới Hannah, và việc nhà ổn định lại sau khi Hannah đi,” bà Perkins trả lời. “Đáng ra Hannah nên đợi thêm một thời gian nữa mới phải. Aurelia không đồng ý chuyện nó đi lấy chồng khi Rebecca còn đang đi học, nhưng nó cứng đầu như lừa ấy, con bé Hannah chỉ làm theo ý nó chứ chẳng cần biết gì đến mẹ. Nó đã khâu khâu vá vá suốt cả năm nay rồi; cái tấm vải cốt tông thô xấu xấu là, thế mà nó cắm đầu khâu rồi làm viền rồi gấp nếp, cặm cụi muốn mù cả mắt. Các bà có nghe chuyện cái chăn mà nó làm không? Màu trắng, có một chùm nho to ở chính giữa, chần tay bằng đê khâu. Rồi một chuỗi hình tròn viền quanh chùm nho, mỗi hình tròn to bằng cái ống chỉ thôi. Đường viền tiếp theo hình bằng ly rượu xêrét, viền cuối cùng bằng ly rượu pooctô, ngoài cùng là các hàng chỉ khâu thẳng tắp; con bé sẽ đem nó đi trưng bày ở hội chợ quận đấy.”
“Lẽ ra nó nên đi may vá mà kiếm tiền, thay vì cứ đi làm mù mắt với cái trò chần chần vá vá chăn phủ giường ấy,” bác Cobb gái nói. “Chẳng mấy chốc cái khoản thế chấp ấy cũng bị tịch thu để thế nợ và bà Randall cùng lũ trẻ con sẽ ra đứng đường.”
“Chẳng phải người ta nói có nhiều khả năng đường sắt sẽ chạy qua nhà bà ấy à?” bà Robinson hỏị. “Nếu đúng thế thì bà ấy sẽ được trả đúng giá trị trang trại, có khi còn hơn nữa. Adam Ladd nắm một phần cổ phiếu, và mọi thứ mà anh ta tham gia đều thành công cả. Người ta sẽ tranh luận về vụ này vào khoảng tháng Tám, nhưng tôi ủng hộ Ladd chứ không phải mấy người làm luật chừng nào anh ta còn tin là anh ta đúng.”
“Rebecca bây giờ sẽ có một ít quần áo mới đây,” Delia nói, “Chúa mới hiểu con bé cần quần áo mới đến thế nào. Tôi thấy hình như chị em nhà Sawyer càng ngày càng bủn xỉn thì phải!”
“Tiền thưởng của Rebecca không dùng để mua quần áo mới cho con bé đâu,” bà Perkins nhận xét, “vì nó đã gửi số tiền ấy ngay ngày hôm sau để trả lợi tức cho trang trại rồi.”
“Con bé đáng thương!” Delia Weeks thốt lên.
“Có sa vào cái lối tiêu tiền ngu ngốc thì cũng là cái giống nhà nó vậy thôi,” bà Robinson quả quyết. “Tôi nghĩ con bé may quá khi vớ được giải thưởng đấy để mà trả lãi, nhưng có lẽ nó cũng giống như cả họ Randall ấy; dễ được, dễ mất.”
“Cứ như nhà Sawyer còn khiếp hơn,” bà Perkins vặn lại; “có vẻ họ ưa thói tiết kiệm hơn bất cứ thứ gì khác trên đời, và kể từ dạo Mirandy bị sốc thì bà ấy lại càng tiết kiệm tợn.”
“Tôi thì chả tin đấy là sốc; vì rõ ràng bà ấy chưa bao giờ khỏe mạnh và khôn khéo như bây giờ; nhà tôi đã xảy ra ba vụ sốc khủng khiếp nhất từng có ở dọc bờ sông này, thế nên tôi biết rõ các triệu chứng của nó còn hơn cả bác sĩ ấy chứ.” Bà Peter Meserve lắc đầu vẻ hiểu biết.
“Mirandy khôn khéo chứ,” bác Cobb gái nói, “nhưng các bà xem, bà ấy ở rịt trong nhà và kín mồm kín miệng chưa từng thấy; không thể hiện một mảy may tự hào về giải thưởng của Rebecca, mặc dù nó gần như khiến ông Jeremiah nhà tôi phát điên lên. Tôi như muốn độn thổ lúc ông ấy hét ‘Hoan hô!’ và vung cái mũ rơm lên khi ngài thống đốc bắt tay Rebecca. May là ông ấy không chen vào được sâu bên trong, phải đứng chỗ cửa, chứ không thì cũng thành trò hề cho thiên hạ. Tôi thì tôi đoán là…” - đến đoạn này tất cả các quý bà ngừng ăn, ngồi ngay lên nghe chuyện - “…hai cô Sawyer bị mất tiền. Họ biết gì về kinh doanh đâu nào, chưa bao giờ biết, mà Mirandy thì giữ mồm giữ miệng quá cơ, đã thế lại còn ngang bướng, nên không chịu hỏi kinh nghiệm ai bao giờ.”
“Tôi thì vẫn nghe hơi nồi chõ họ giữ chủ yếu là công trái, mà công trái thì mất tiền thế nào được. Jane có khoảnh đất rừng thừa kế, còn Mirandy thì có ngôi nhà gạch. Có khi bà ấy không chịu nổi việc năm mươi đô la của Rebecca đem tiêu vào khoản thế chấp kia chứ không phụ vào tiền học phí ấy nhỉ. Càng nghĩ tôi càng thấy Adam Ladd hẳn là nhắm món tiền ấy vào Rebecca ngay từ đầu rồi.” Tâm trí mẹ Huldah hướng ngay về việc quyền lợi của con gái bị tước mất.
“Chao ơi, Marthy, nói gì mà buồn cười thế!” bà Perkins thốt lên; “bà không nghĩ là anh ta còn biết trước cả việc giám khảo chọn bài nào đấy chứ; và sao anh ta lại phải trao thêm năm mươi đô la giải thưởng cho một học sinh nam nữa, nếu như không phải là để giúp trường? Suốt năm năm anh ta tặng Rebecca quà Giáng Sinh gì thì cũng tặng Emma Jane thứ tương tự; con người anh ta là thế.”
“Lúc nào đó anh ta sẽ quên béng đi một trong hai đứa mà chỉ cho quà đứa kia, hoặc là bỏ rơi cả hai đứa và cho quà một đứa khác!” Delia Weeks nhận định, với vốn kinh nghiệm năm mươi năm làm bà cô của mình.
“Có vẻ thế đấy,” bà Peter Meserve tán thành, “mặc dù dễ thấy là anh ta không phải kiểu đàn ông thích kết hôn. Có những tay đàn ông lấy vợ năm một lần nếu như các bà vợ chết kịp, và lại có những tay thì hình như chỉ thích sống một mình.”
“Nếu Ladd mà theo đạo Mormon thì tôi nghĩ anh ta có thể lấy tất cả phụ nữ vừa độ tuổi ở Bắc Riverboro này, mấy người chị em họ tôi nói thế đấy,” bà Perkins nhận xét.
“Xem chừng chẳng cô nào ở Bắc Riverboro lọt nổi vào mắt xanh anh ta,” bà Robinson phản đối; “nhất là khi hình như anh ta đã chọn được ai đó ở Boston rồi. Tôi cho là Marthy nói phải khi cho rằng có những tay đàn ông không thích kết hôn.”
“Tôi là chẳng có tin kẻ nào như thế sất vào cái lúc nửa kia của họ xuất hiện!” bác Cobb gái vui vẻ cười. “Người ta không thể nói trước được cái gì hay ai đó có thể khiến họ hài lòng. Các bà biết con ngựa cứng đầu của Jeremiah chứ, con Buster ấy? Nó không chịu để ai lắp hàm thiếc cho đâu. Nó chống lại cả Jerry và cả tôi nữa, mãi nó mới chịu thua đấy. Rebecca chẳng biết gì về những trò của nó, thế rồi hôm nọ con bé vào lắp cương. Tôi theo ngay đằng sau vì biết là thể nào nó cũng gặp rắc rối với cái dây cương, và tôi thề rằng nếu không phải vì con bé đang vỗ về mõm con Buster và nói chuyện với nó thì lúc con bé đưa tay vào mõm con ngựa và con ngựa há thật là to, tôi lại cứ tưởng nó sắp nuốt chửng con bé đấy. Con ngựa chép miệng một cái như thể cái hàm thiếc là viên đường vậy. ‘Chao, Rebecca,’ tôi bảo con bé, ‘sao cháu dụ được nó đeo hàm thế?’ ‘Cháu có làm gì đâu,’ con bé trả lời, ‘hình như nó muốn đeo đấy chứ; chắc nó đã chán ở trong chuồng nên muốn ra ngoài hít thở không khí trong lành rồi.’”