Ngày Rebecca đến là thứ Sáu, và thứ Hai tuần tiếp đó cô bé bắt đầu đi học ở ngôi trường giữa khu trung tâm Riverboro, cách nhà khoảng một dặm. Bà Sawyer mượn ngựa và xe chở hàng của hàng xóm chở cô đến trường, nói chuyện với cô giáo, cô Dearborn, lo chuyện sắm sách vở, và nói chung là khởi công con đường học vấn dài vô tận cho cô bé. Cô Dearborn, phải nói sơ qua là không được đào tạo gì đặc biệt về nghệ thuật giảng dạy. Cô phù hợp với nghề giảng dạy một cách tự nhiên, gia đình cô nói thế, và có lẽ vì lý do này mà cô, giống như vị mục sư làm gia sư cho Tom Tulliver[1], “bắt đầu công việc ấy với sự thống nhất về phương pháp và không phụ thuộc vào hoàn cảnh, mà đó chính là thứ tạo nên sự khác biệt trong hành vi loài vật dưới ảnh hưởng của sự giáo dục trực tiếp của Tự nhiên.” Bạn có nhớ chuyện một nhà tự nhiên học kể về một chú hải ly “một mình hì hục xây một con đập trong một căn phòng trên tầng ba giữa London cứ như thể chú ta đang dựng nó trên một cái hồ ở Bắc Canada vậy. Nhiệm vụ của chú ta là xây dựng, chứ chú không chịu trách nhiệm về việc không có nước hay đập không thể đi vào hoạt động”. Cùng với cung cách ấy, cô Dearborn đặt ra cái mà cô tha thiết tưởng tượng là nền móng cho những tâm hồn trẻ thơ.
Sau buổi đầu tiên đó, Rebecca đi bộ tới trường. Cô bé yêu lắm khoảng thời gian ấy trong ngày. Hôm nào sương không nặng hạt và trời đẹp, cô có thể tới lớp bằng con đường tắt qua rừng. Cô bé rẽ khỏi đường chính, chui qua hàng rào nhà bác Josh Woodman rồi xua lũ bò nhà bà Carter đi để đặt chân lên cánh đồng cỏ non có lối mòn chạy qua những vườn hoa mao lương vàng và hoa dại trắng, cùng những lùm cây lá mép trắng và bụi giả dương xỉ. Cô đi xuống ngọn đồi nhỏ, nhảy trên những phiến đá nối hai bờ suối, làm giật mình những chú ếch ngái ngủ đang chớp chớp mắt trong cái nắng sớm mai. Rồi tiếp theo là đến ‘khoảnh rừng’, hai chân cô bé bấm chặt xuống thảm lá thông nâu tron trượt; ‘khoảnh rừng’ ướt đẫm sương mai, và chứa đựng bao bất ngờ, - nấm mốc màu da cam và đỏ thẫm rực rỡ nở bung quanh những gốc cây bị đốn từ lâu, những thứ tuyệt đẹp ấy sinh sôi chỉ sau một đêm; và đôi khi còn có cả phép mầu là một bụi nấm hà hồ màu sáp, may mắn thay cô bé kịp nhìn thấy để không giẫm lên. Rồi cô leo bậc thang qua rào, đi qua một đồng cỏ tươi tốt, chui qua một hàng rào nữa, lại ra đường chính, và thế là đã đi hết được gần nửa dặm.
Tuyệt vời biết bao! Rebecca siết chặt cuốn Ngữ pháp của Quackenbos và Số học của Greenleaf với cảm giác hứng khởi vì đã thuộc bài. Tay phải vung vẩy hộp ăn trưa, cô bé thích thú khi nhớ rằng mình có hai chiếc bánh quy sô đa phết bơ và si rô, bánh sữa trứng nướng, bánh vòng và bánh quy gừng. Thỉnh thoảng cô bé đọc to một “đoạn” bất kỳ nào mà cô sẽ trình bày vào thứ Sáu tuần tiếp theo.
Một người lính của đoàn quân La Mã
chết mòn giữa Algiers,
Không bàn tay phụ nữ chút chăm,
không nước mắt phụ nữ xót thương.
Cô bé yêu sao nhịp điệu và tứ thơ ấy! Giọng trẻ con của cô rưng rưng làm sao khi tới phần điệp khúc:
Nhưng ta chẳng còn hạnh ngộ nữa nơi Bingen,
Hỡi Bingen yêu dấu của vùng Rhine[2].”
Phần điệp khúc ấy vang lên đẹp biết bao bên tai cô bé khi tiếng hát cao vút đầy tâm tư của cô ngân trong không gian trong trẻo sớm mai. Một bài nữa Rebecca yêu thích ngay từ đầu (chúng ta phải nhớ rằng hiểu biết về thế giới thơ ca của Rebecca gói gọn trong các cuốn tập đọc của nhà trường) là bài này:
Bác tiều phu, xin bác dừng tay!
Đừng chặt cây, dù một nhánh hao gầy!
Tuổi thơ tôi được nương nhờ bóng mát,
Tôi nguyện lòng bảo bọc cho cây.”[3]
Khi Emma Jane Perkins đi “đường tắt” cùng cô bé, cả hai thường diễn bài thơ thành kịch. Emma Jane luôn chọn vai bác tiều phu vì cô chẳng phải làm gì ngoài việc giơ cái rìu tưởng tượng lên. Có một lần cô đọc phần lời của nhân vật Tôi đầy mơ mộng nọ, cô tự nhận mình diễn “thật ngốc nghếch kinh khủng” nên không bao giờ chịu đóng lại vai ấy nữa, việc này thật ra lại khiến Rebecca ngấm ngầm sung sướng, vì cô bé thấy vai bác tiều phu quá tẻ nhạt đối với tham vọng lớn lao của mình. Cô bé đắm chìm trong lời van nài chất chứa xúc cảm của nhà thơ, cô nài nỉ bác tiều phu tàn nhẫn phải vung cái rìu thật là hung bạo để cô có thể nhập tâm hơn nữa vào lời thoại. Một sớm cao hứng hơn mọi ngày, cô bé còn quỳ xuống túm vạt váy của bác tiều phu mà khóc thút thít. Có điều cô bé nhận thấy ngay sự quá đà của mình và từ bỏ trò ấy ngay khi diễn xong.
“Không phải thế, thật là ngu ngốc quá đi, Emma Jane nhỉ, nhưng kiểu đó có thể sẽ hợp với câu chuyện này - chuyện ‘Cho con thêm ba hạt ngô’. Cậu làm mẹ, còn tớ sẽ làm đứa trẻ Ai Len đói khát. Vì Chúa hãy bỏ cái rìu xuống đi; cậu không còn là bác tiều phu nữa đâu!”
“Vậy tớ sẽ làm gì với đôi tay này đây?” Emma Jane hỏi.
“Làm gì cũng được,” Rebecca chán nản trả lời, “cậu chỉ là một bà mẹ thôi mà. Mẹ của cậu làm gì với tay của bà nào? Nào, bắt đầu đây!
Cho con thêm ba hạt ngô, mẹ ơi,
Chỉ ba hạt ngô thôi,
Để sinh mệnh mong manh được nối dài
Tới bình minh sớm mai.”
Những trò này khiến Emma Jane lúng ta lúng túng, nhưng cô bé là nô lệ của Rebecca và luôn nguyện làm theo mọi thứ, cho dù cô có thấy không thoải mái thế nào đi chăng nữa.
Ở chỗ hàng rào cuối cùng thỉnh thoảng hai cô bé gặp một trong hai đứa trẻ nhà Simpson. Gia đình chúng sống trên đường Đồng Dâu Đen trong ngôi nhà sơn đen có cánh cửa đỏ và nhà kho đỏ sau nhà. Rebecca cảm thấy mến nhà Simpson ngay từ lần đầu tiên, vì nhà ấy rất đông con và quần áo cũng vá chằng vá đụp y như chị em cô ở trang trại Suối Nắng.
Trường học nhỏ nằm trên đỉnh đồi có cột cờ trên nóc, hai cửa vào đằng trước một cho con trai và một cho con gái, bên này là đồng bãi nhấp nhô, bên kia là cánh rừng thông, xa xa là dòng sông lấp lánh như dát bạc. Trong trường lại không có lấy một cảnh gì đẹp đẽ. Tất cả đều đơn điệu xấu xí và khó chịu hết sức, bởi các làng dọc bờ sông đã tiêu tốn hết tiền của vào việc xây đi sửa lại những cây cầu nên phải hết sức hết kiệm đối với chuyện trường lớp. Bàn giáo viên nằm ở một góc trên bục; có cái bếp cả năm người ta không động đến quá một lần, một bản đồ nước Mỹ, hai bảng đen, một xô nước mười lít và một cái gáo dài để trên giá ở một góc, chỉ có hai mươi bàn học sinh dài bằng gỗ trong thời gian Rebecca học ở đó. Chỗ ngồi về cuối lớp cao dần lên, học sinh lớp cao hơn và chân dài hơn ngồi ở đó. Vị trí này rất được lũ học sinh thèm muốn, vì nó gần cửa sổ hơn mà lại xa giáo viên hơn.
Trường cũng chia lớp này lớp nọ, dù nhìn chung không học sinh nào học cùng một sách với học sinh khác, hay là nhập học với cùng trình độ ở một môn nào cả. Đặc biệt, Rebecca khó xếp lớp đến nỗi cô Dearborn sau nửa tháng trời cũng phải chào thua. Cô bé học đọc với Dick Carter và Living Perkins, những học sinh đã đủ trình độ học lên phổ thông; học số học với Thuthan Thimthơn nói ngọng; học địa lý với Emma Jane Perkins, và học ngữ pháp một mình sau giờ học với cô Dearborn. Dù đầu óc luôn tràn ngập những ý nghĩ tinh quái và những liên tưởng kỳ quặc, cô bé ban đầu lại viết văn khá tệ. Cái việc viết cho rõ ràng và đúng chính tả, cùng với khó khăn trong việc dùng dấu câu và viết hoa, làm cô bé khó mà thoải mái diễn đạt ý mình. Cô bé học lịch sử với lớp của Alice Robinson. Lớp này đang học tới phần Cách mạng, trong khi Rebecca được chỉ dẫn bắt đầu từ phần khám phá ra châu Mỹ. Sau một tuần cô bé đã nắm được tất cả các sự kiện cho đến tận giai đoạn Cách mạng, và sau mười ngày đã đến phần Yorktown, phần mà cả lớp rõ ràng là dành cho kỳ học hè. Thế rồi khi phát hiện rằng cố gắng học thêm nữa sẽ chỉ dẫn đến việc phải học bài với cậu anh cả nhà Simpson, cô bé cố tình giảm bớt tốc độ lại, bởi đường khôn ngoan sẽ không còn thú vị và nẻo khôn ngoan không còn được bình yên[4] nếu như người ta buộc phải đồng hành cùng Simpson Bập Bênh. Samuel Simpson thường bị gọi là Bập Bênh, bởi cái tính thiếu quyết đoán của mình. Dù là một vấn đề về sự thật hiển nhiên, về đánh vần, hay về ngày tháng, về việc chọn giữa đi bơi hay đi câu, về việc chọn sách ở thư viện trường Giáo lý hoặc chọn mua que kẹo ở quán trong làng, cậu ta vừa nghiêng về ý này đã ngay lập tức đổi sang ý kia. Bập Bênh xanh xao, tóc nâu nhạt, mắt xanh, lúc nào cũng lom khom rúm ró, và hễ lo lắng là lắp ba lắp bắp. Có thể bởi chính điểm yếu này mà tính cách quyết đoán của Rebecca hấp dẫn cậu, và mặc dù cô bé cứ lờ tít cậu đi đến phát bực mình, cậu vẫn không thể nào rời mắt khỏi cô được. Sự dứt khoát khi cô bé buộc lại sợi dây giày bị tuột, kiểu hất đuôi sam đen ra sau mỗi khi cao hứng, cung cách học hành của cô - sách trên bàn, tay khoanh lại, mắt dán lên bảng - tất cả đều tạo ra sức mê hoặc vĩnh cửu đối với Simpson Bập Bênh. Khi cô bé xin phép cô rồi tới chỗ xô nước trong góc lớp lấy gáo múc nước uống, một sức mạnh vô hình đã dựng Bập Bênh dậy để ra uống theo. Không chỉ vì có thứ gì đó kiểu như gần gũi khi cậu được uống nước ngay sau cô, mà còn có một niềm vui sướng pha lẫn lo sợ khi được đụng mặt cô và nhận lấy ánh nhìn lạnh lùng ghét bỏ từ đôi mắt tuyệt đẹp đó.
Có một bữa hè oi bức, Rebecca khát quá thể không chịu được nữa. Cô bé phải xin phép đến lần thứ ba thì cô Dearborn mới gật đầu, nhưng cô nhướng mày khó chịu khi Rebecca đến gần bàn uống nước. Có bé vừa đặt gáo lại chỗ cũ, Bập Bênh ngay lập tức giơ tay xin phép cô giáo, và cô Dearborn mệt mỏi gật đầu.
“Có chuyện gì thế hả, Rebecca?” cô hỏi.
“Sáng nay em ăn cá thu muối ạ,” Rebecca trả lời.
Xem ra đâu có gì buồn cười trong câu trả lời ấy, chỉ là một câu trình bày sự việc thôi, nhưng những tiếng cười khúc khích không nén nổi râm ran khắp lớp học. Cô Dearborn không thích đùa cợt cũng như không bao giờ đùa và không hiểu những lời đùa cợt, nên mặt cô đỏ ửng lên.
“Tôi nghĩ tốt nhất là em ra đứng cạnh xô nước năm phút đi, Rebecca; có thể em sẽ đỡ khát đấy.”
Trái tim Rebecca đập loạn xạ. Cô mà phải đứng ở góc lớp cạnh xô nước để cho các bạn nhìn vào chằm chằm ư! Cô bé vô thức tỏ thái độ bất đồng và bước thêm một bước về chỗ ngồi, nhưng đã bị cô Dearborn ra lệnh bằng giọng nghiêm hơn trước.
“Ra đứng cạnh xô nước, Rebecca! Còn Samuel, hôm nay em đã xin đi uống nước mấy lần rồi?”
“Đây là lần thứ t… t… tư ạ.”
“Đừng có động vào cái gáo. Cái lớp này chiều nay chẳng làm được việc gì ngoài uống nước cả; làm sao mà còn thời gian học hành được nữa. Chắc sáng em cũng lại ăn món gì muối phải không, Samuel?” cô Dearborn chất vấn với vẻ châm chích.
“Em ăn cá th… th… thu, y… y như Reb… b… becca.” (Cả lớp rúc rích những tiếng cười không nén nổi.)
“Tôi biết ngay mà. Ra đứng phía bên kia xô nước đi, Samuel.”
Mái đầu Rebecca cúi xuống đầy xấu hổ và phẫn nộ. Cuộc đời thật đen tối quá sức chịu đựng. Hình phạt đã tồi tệ rồi, mà còn bị phạt chung với Simpson Bập Bênh thì thật quá giới hạn chịu đựng của con người ta.
Hát đồng ca là phần cuối cùng của buổi chiều, và Minnie Smellie chọn bài “Nào ta hãy cùng tới bên sông”? Đó là một lựa chọn độc ác và dường như có liên quan mơ hồ tới hoàn cảnh hiện tại cùng những sự kiện xảy ra trước đó; dù sao đi nữa, cái cách các học sinh gào đi gào lại lời mời gọi ở phần điệp khúc chắc chắn cũng có một lý do nào đó:
Nào ta hãy cùng tới bên sông,
Con sông xinh đẹp, được không?
Cô Dearborn vừa liếc trộm mái đầu cúi gằm của Rebecca đã phát hốt lên. Khuôn mặt đứa trẻ tái nhợt trừ hai gò má đỏ rực. Nước mắt đọng trên mi, hơi thở gấp gáp, còn bàn tay cầm khăn run như chiếc lá trước gió.
“Em có thể về chỗ, Rebecca,” cô Dearborn nói sau khi dừng bài hát đầu tiên. “Còn Samuel, đứng nguyên đó cho đến khi tan lớp. Và cô phải nói điều này, các em, rằng cô bảo Rebecca đứng bên xô nước chỉ là để bạn bỏ thói quen uống liên tục, một việc hoàn toàn do thiếu suy nghĩ và do thích đi đi lại lại trong lớp chứ chẳng vì cái gì khác. Hôm nay hễ Rebecca xin lên uống nước là cả lớp này lại theo đuôi nhau lên uống. Cô hiểu bạn khát thật, và cô phải nói rằng lẽ ra cô đã phạt các em vì bắt chước bạn, chứ không phải phạt bạn vì tội đầu têu. Alice, chúng ta sẽ hát bài gì bây giờ?”
“Bài ‘Chiếc xô gỗ sồi cũ kỹ’ đi ạ.”
“Alice, chọn bài nào đỡ ướt át hơn đi, và chuyển chủ đề đi thôi. À, bài ‘Lá cờ lấp lánh sao’[5] nếu các em thích, không thì bài khác cũng được.”
Rebecca ngồi sụp xuống ghế và lôi cuốn sách nhạc ra. Lời giải thích trước lớp của cô Dearborn đã giảm bớt sức nặng đè lên trái tim cô bé, và cô cảm thấy lòng tự trọng được nâng lên chút xíu.
Ngụy trang bên dưới lời bài hát nghe thật dễ chịu, đồ lễ của sự cảm thông và tôn trọng bắt đầu được bày ra trước điện thờ của cô bé. Living Perkins chả có khiếu hát hò thả một miếng đường nhựa phong vào lòng Rebecca khi đi ngang qua cô lên bảng vẽ bản đồ bang Maine. Alice Robinson lăn một cây bút chì đá mới tinh trên sàn chỗ Rebecca, trong khi bạn cùng bàn của cô, Emma Jane, đã vo được một đống nho nhỏ những viên giấy tròn và ghi là “Đạn dành cho kẻ ai cũng biết là ai đấy”.
Tất cả trở nên sáng sủa hẳn lên, và khi còn lại một mình học ngữ pháp với cô giáo, cô bé gần như đã trấn tĩnh lại được, và còn trấn tĩnh hơn cô Dearborn nữa. Bước chân lộp cộp cuối cùng vọng lại ngoài hành lang, cái ngoái đầu đầy ăn năn của Bập Bênh bị bướng bỉnh đáp trả bằng thái độ đầy lạnh nhạt.
“Rebecca, cô không định phạt em nặng như thế,” cô Dearborn nói, bản thân cô cũng mới mười tám tuổi, và suốt một năm đi dạy vừa rồi cô chưa gặp đứa trẻ nào như Rebecca.
“Em chưa hề bỏ một câu hỏi nào cả ngày hôm nay, cũng chẳng nói chuyện riêng,” kẻ tội đồ giận lẫy, “và em không cho là mình phải bị bêu xấu chỉ vì uống nước.”
“Em đã đầu têu cho các bạn khác, hoặc có vẻ là như thế. Em làm gì các bạn cũng làm theo, cho dù em cười, trả lời sai, ghi bài, xin ra khỏi lớp, hay là uống nước; và việc ấy cần phải dừng lại.”
“Sam Simpson là kẻ chuyên bắt chước!” Rebecca phản ứng dử dội. “Em không phiền gì việc phải đứng một mình trong góc lớp - tức là không phiền mấy; nhưng em không thể chịu được việc phải đứng chung với cậu ta.”
“Cô thấy là em không thể chịu được rồi, đó là lý do cô bảo em về chỗ, và để mình bạn ấy đứng góc lớp. Nên nhớ rằng em là người mới ở đây, và mọi người để ý hơn đến việc em làm, cho nên em cần phải cẩn thận hơn. Nào hãy xem phần đặt câu đi nào. Đặt cho cô câu có từ ‘có thể’.”
“Em đã có thể vui vẻ.
Cô đã có thể vui vẻ.
Cậu ấy, cô ấy, hoặc nó đã có thể vui vẻ.”
“ ‘Cậu ấy’ hay ‘cô ấy’ đã có thể vui vẻ bởi đó là giống đực và giống cái, nhưng có thể nào lại là ‘nó’ đã vui vẻ được không?” cô Dearborn hỏi, cô vốn rất thích chẻ sợi tóc làm tư.
“Sao không được ạ?” Rebecca hỏi lại.
“Vì ‘nó’ là giống trung.”
“Ta có thể nói, ‘Mèo con có thể đã vui vẻ nếu khi ấy nó biết mình sẽ không bị chết đuối’ không ạ?”
“Đư… ợc,” cô Dearborn dè dặt trả lời, không bao giờ cảm thấy tự tin cho lắm trước những lời phản bác của Rebecca; “có điều mặc dù chúng ta thường dùng ‘nó’ trong trường hợp một em bé, một chú gà, một con mèo con, thì thật ra chúng vẫn hoặc là giống cái hoặc là giống đực, chứ không phải giống trung.”
Rebecca ngẫm nghĩ một hồi rồi hỏi, “Hoa thục quỳ có phải giống trung không ạ?”
“Ồ phải chứ, tất nhiên rồi, Rebecca.”
“Vậy thì, ta có thể nói ‘Cây thục quỳ đã có thể hân hoan vui sướng khi thấy mưa rơi, nhưng có một nụ thục quỳ bé nhỏ yếu ớt đang vươn ra từ thân cây và cây sợ rằng cơn mưa có thể làm đau nụ hoa; thế nên cây thục quỳ hơi lo sợ một chút, thay vì hân hoan vui sướng?”
Cô Dearborn bối rối đáp, “Tất nhiên rồi, Rebecca, cây thục quỳ không thể lo lắng, vui vẻ, hay là sợ hãi được, thực sự là thế.”
“Em nghĩ là chúng ta không biết chắc được điều đó,” đứa trẻ đáp lại; “nhưng dù sao em vẫn nghĩ là có. Giờ em phải làm gì tiếp đây ạ?”
“Chia thức giả định, thời quá khứ hoàn thành của động từ ‘biết’.”
“Nếu tôi biết trước.
Nếu bạn biết trước.
Nếu anh ấy biết trước.
Nếu chúng ta biết trước.
Nếu các bạn biết trước.
Nếu họ biết trước.”
“Ôi, đấy là cái thời đáng buồn nhất,” Rebecca than thở; “chẳng có gì ngoài NẾU, NẾU, NẾU! Và nó khiến người ta cảm thấy rằng nếu như người ta biết TRƯỚC được thì mọi chuyện đã có thể tốt hơn!”
Cô Dearborn chưa từng nghĩ đến điều đó, nhưng khi ngẫm lại cô tin rằng thức giả định đúng là một thức “đáng buồn” và “nếu” đứng là một từ đáng buồn vô cùng.
“Cho cô vài ví dụ về thức giả định đi, Rebecca, rồi chúng ta sẽ kết thúc buổi học hòm nay,” cô nói.
“Nếu trước đó em không mê món cá thu thì em đã không khát nước,” Rebecca vừa nói với một nụ cười tinh quái, vừa gấp cuốn ngữ pháp lại. “Nếu đúng là cô yêu quý em, cô đã không bắt em đứng vào góc lớp. Nếu Samuel không khoái làm trò quỷ cậu ta đã không đi theo em tới chỗ xô nước.”
“Và nếu Rebecca tôn trọng quy tắc của trường học, cô bé đã kiềm chế cơn khát,” cô Dearborn kết lại với một nụ hôn và hai cô trò chia tay không còn một chút giận hờn.
❀ ❀ ❀
[1] Nhân vật trong cuốn tiểu thuyết The Mill on the Floss (Nhà máy xay bột bên dòng Floss) của George Eliot.
[2] Nguyên văn Bingen on the Rhine, một thị trấn Tây Đức và cũng là tên một bài thơ của Caroline Norton.
[3] Bài thơ “Woodman, spare that tree” (Bác tiều phu, xin bác dừng tay) của George Pope Morris.
[4] Ví von mượn từ Kinh Thánh: Đường khôn ngoan là đường thú vị, nẻo khôn ngoan là nẻo bình yên (3:17 sách Châm ngôn).
[5] Quốc ca Mỹ.