Rebecca Ở Trang Trại Suối Nắng

Lượt đọc: 537 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Xxii Hoa Dại Và Hướng Dương

❊ ❊ ❊

“Các cậu thế nào rồi?” Huldah Meserve ngó vào phòng hỏi. “Dừng học một tí cho tớ vào thăm phòng được không? Này, tớ mới từ tiệm về mua được đôi găng tay này đây, mùa đông này nhất định tớ không đeo bao tay nữa đâu; trông quê chết. Năm nay là năm đầu của các cậu, mà các cậu còn kém tuổi tớ nữa, nên tớ đoán các cậu chả quan tâm, nhưng tớ mà không ăn mặc cho ra dáng một tí tớ không chịu được. Này, phòng của các cậu xinh không gì tả nổi đấy! Thế này chả phòng nào bì được rồi. Không biết cái gì khiến phòng này trông lộng lẫy thế nhỉ, cái rèm dài, hay là cái bình phong tao nhã, hay là cây đèn của Rebecca; nhưng đúng là các cậu rất khéo sắp xếp đấy. Tớ cũng thích có phòng xinh xắn, nhưng tớ chẳng có thời gian mà chăm sóc phòng; tớ lúc nào cũng bận bịu quần áo đến nỗi gần như lúc nào cũng phải đến trưa tớ mới dọn nổi cái giường; vả lại, chả có khách khứa nào ngoài mấy đứa bạn gái thì dọn cũng thế mà thôi. Khi nào tốt nghiệp xong, tớ sẽ sửa sang lại phòng khách ở nhà tớ sao cho thật vương giả. Tớ đã học được cách làm đề can dán tường rồi, tớ sẽ sơn lại phòng nữa rồi gắn thêm rèm trướng, vải phủ, bảng biển khắc trang trí, gối tựa xô pha, và xin mẹ nhóm lò sưởi để đón tiếp bạn bè vào buổi tối. Tớ hong chân ở chỗ cửa sưởi của các cậu được không? Tớ không đi nổi ủng trừ phi bùn tuyết cao đến đầu gối, chúng khiến chân trông to khủng khiếp luôn. Tớ vất vả lắm mới kiếm được đôi bốt gót Pháp này nên không định tùy tiện xỏ vào ủng để làm hỏng dáng của nó được. Tớ tin là bọn con trai để ý đến đôi bàn chân trước tiên. Hôm qua Elmer Webster giẫm lên chân tớ khi tớ vô tình để chân ra ngoài lối đi, sau buổi học cậu ấy xin lỗi và nói không thể đổ lỗi hết cho cậu ấy được, vì chân tớ nhỏ quá cậu ấy không trông thấy. Cậu ấy có tuyệt không? Tất nhiên đấy chỉ là cách nói khéo, vì suy cho cùng tớ cũng chỉ đi số hai thôi, nhưng cái gót kiểu Pháp và mũi giày nhọn đúng là khiến chân trông nhỏ hơn hẳn. Người ta cũng bảo lòng bàn chân lõm nhiều thì chân trông nhỏ hơn là lòng bàn chân đầy đấy. Trước tớ cứ nghĩ là chân mình có tật, nhưng ai cũng bảo nó đẹp tuyệt. Để chân các cậu ra đây cạnh chân tớ một tí đi, xem xem khác nhau thế nào nào; tớ không quan tâm lắm đâu nhưng mà để cho vui thôi.”

“Chân tớ để ở đây thấy thoải mái lắm rồi,” Rebecca lạnh lùng đáp lại. “Tớ không thể bỏ học đại số chỉ để đi đo lòng bàn chân được; tớ để ý thấy cậu có cái kiểu thò chân ra ngoài lối đi từ hồi có giày mới kia, chẳng trách mà bị giẫm lên.”

“Có lẽ ban đầu đôi này còn khá kích nên tớ cứ thấy tức tức chân, đi một thời gian mới ổn dần. Này, chẳng phải các cậu cũng có bao nhiêu đồ mới đấy sao?”

“Ý cậu là quà Giáng Sinh của bọn tớ ấy à,” Emma Jane lên tiếng. “Vỏ gối là của bác Cobb gái, thảm từ chị họ Mary của tớ ở Bắc Riverboro, giỏ đựng rác của Living và Dick. Bọn tớ tặng nhau cái tủ nhỏ và vỏ gối tựa, còn cái bình phong là quà chú Ladd tặng tớ.”

“Ôi, các cậu gặp được ông ta thật là may mắn quá! Chao ôi! Tớ ước tớ gặp được ai đó như thế. Ông ấy còn duy trì tình bạn bao lâu nữa chứ! Cái bình phong này che luôn cái giường đi nhỉ, tớ thấy phòng nào mà có giường chình ình là trông chả ra cái thể thống gì - nhất là lại phải cái phòng nào bừa bộn nữa thì càng tệ; bọn cậu còn có cả tường thụt để kê giường, mà đây là phòng duy nhất trong cả tòa nhà này như vậy đấy. Sao mới đến mà các cậu đã kiếm được phòng ngon thế?” cô hỏi vẻ bất bình.

“Lẽ ra là không đâu, nhưng vì Ruth Berry phải trở về tang cha. Phòng này trống, thế là cô Maxwell xin cho bọn tớ ở đây,” Emma Jane trả lời.

“Khiếp, năm nay cái bà Max vĩ đại và kênh kiệu kia hắc xì dầu chưa từng thấy,” Huldah nói. “Tớ hết muốn làm bà ấy hài lòng rồi, vì bà ấy chẳng biết công bằng là gì sất; đứa nào bà ấy quý thì bà ấy tốt với đứa đấy, còn đâu chẳng thèm đoái hoài gì đến bất kỳ đứa nào khác, ngoài mỉa mai người ta về những thứ chẳng liên quan gì đến bà ấy. Hôm qua tớ còn định bảo với bà ấy rằng việc của bà ấy là dạy tớ tiếng Latin, chứ không phải là ứng xử.”

“Tớ không muốn nghe cậu nói năng như thế về cô Maxwell.”

“Biết rồi, chả hiểu sao cậu lại chịu được bà ấy như thế.”

“Tớ không chỉ chịu được, mà tớ còn yêu quý cô ấy!” Rebecca hét lên. “Tớ không muốn nắng chiếu bỏng da cô, hay là gió thổi làm cô lạnh. Tớ muốn lấy một tảng đá cẩm thạch làm bục giảng cho cô và một chiếc ghế bọc nhung cho cô ngồi bên chiếc bàn bằng vàng.”

“Chà, đừng có ầm lên chứ! Cô ấy ngồi chỗ nào tớ cũng mặc; tớ còn phải nghĩ đến những việc hay ho hơn.”

“Giờ này cậu không phải học à?” Emma Jane cắt ngang cuộc tranh luận.

“Phải, nhưng hôm qua tớ đánh mất cuốn ngữ pháp Latin rồi; tớ để ngoài sảnh nửa tiếng, lúc đấy tớ đang nói chuyện với Herbert Dunn. Tớ không nói chuyện với anh ấy cả tuần rồi, còn phải trả anh ấy cái huy hiệu tốt nghiệp nữa. Anh ấy tức điên lên. Rồi khi tớ quay lại thì quyển sách đã biến mất. Tớ phải xuống thị trấn mua đôi găng tay và tới phòng thầy hiệu trưởng xem có ai trả lại sách chưa, thế nên chẳng việc gì phải vội vàng.”

Huldah mặc một chiếc váy len vốn là màu ghi nhưng đã được nhuộm thành màu xanh dương. Cô đính thêm ba hàng viền trắng và khuy ngọc trai trắng lên chiếc áo khoác màu ghi, để cho nó trông “sành điệu” hơn. Cái mũ nỉ màu ghi có một chiếc lông chim trắng, và một tấm mạng mỏng trắng với những chấm bi to càng tôn làn da mịn màng của cô. Rebecca thấy búi tóc đỏ dưới cái mũ đáng yêu làm sao, và màu tóc phía trước do bị uốn sấy nhiều đã nhạt đi biết bao nhiêu. Chiếc áo khoác để hở khuy của cô làm lộ ra một loạt các đồ lưu niệm đính trên nền màu xanh dương của váy - một lá cờ Mỹ, một huy hiệu Câu lạc bộ Chèo thuyền Wareham, và một hai huy hiệu đoàn thể nào đó. Những đồ trang sức này minh chứng cho độ nổi tiếng của cô y như những vật kỷ niệm khi tham gia văn nghệ treo trong phòng một cô hoa khôi thời thượng. Từ lúc bước vào phòng cô liên tục tháo ra đính vào chiếc mạng mỏng, hy vọng rằng hai cô bạn sẽ hỏi về chiếc nhẫn mà tuần này cô đang đeo; nhưng dù cả hai đều nhận ra chiếc nhẫn mới ngay, thì có cả đàn ngựa hoang cũng không thể kéo nổi ra một câu hỏi từ miệng hai cô. Khao khát được hỏi thăm của Huldah quá lộ liễu. Với bộ cánh chải chuốt, những “gật đầu đưa cằm và nụ cười rạng rỡ,”[1] và tiếng cười khúc khích, Huldah rất giống với con vẹt trong thơ Wordsworth:

Tinh quái và vẹt ta luôn vui vẻ

Ham vui nên rất thích giao du

Khao khát là trung tâm vũ trụ

Thích được người ta thán phục mình!

“Thầy Morrison đoán là sách sẽ được trả lại, nên cho tớ mượn tạm một cuốn,” Huldah tiếp tục. “Thầy rất cáu vì tớ để sách ngoài sảnh. Còn có một quý ông rất tao nhã lịch thiệp trong văn phòng thầy, tớ chẳng biết là ai, hy vọng đó là thầy giáo mới, nhưng làm gì may mắn đến thế. Anh ấy trẻ lắm, không thể là phụ huynh được, là anh thì lại già quá, nhưng mà đẹp trai như tranh ấy, lại còn ăn mặc sành điệu vô cùng nữa chứ. Anh ấy nhìn tớ không rời một giây suốt lúc tớ ở trong ấy. Tớ xấu hổ đến nỗi thầy Morrison hỏi mà tớ chẳng trả lời được cho tử tế.”

“Chẳng bao lâu nữa cậu sẽ phải đeo mặt nạ nếu như cậu muốn được yên ổn, Huldah ạ,” Rebecca nói. “Anh ấy có đề nghị cho cậu mượn huy hiệu tốt nghiệp không, hay là anh ấy tốt nghiệp lâu quá rồi nên không còn đeo nữa? Mà thầy hiệu trưởng có xin cậu một lọn tóc để kẹp vào đồng hồ của thầy không thế?”

Những lời này được nói ra một cách vui vẻ, nhưng có những lúc Huldah không thể khẳng định được là Rebecca đang mỉa mai mình hay là đang ghen tị; cô cứ coi đó đơn giản là cảm giác ghen tị mà thôi, cũng là chuyện bình thường với một đứa con gái ít được chú ý đến.

“Anh ấy chẳng mang đồ trang sức gì ngoài cái ghim khăn mặt đá chạm và cái nhẫn tuyệt đẹp - cái loại là lạ quấn nhiều vòng quanh ngón tay ấy. Ôi trời, tớ phải chạy thôi! Đã hết một tiếng đồng hồ rồi ư? Có chuông học bài rồi!”

Rebecca căng tai ra khi nghe những lời đó của Huldah. Cô bé nhớ đến một cái nhẫn rất đặc biệt, thuộc về một người duy nhất trên đời này (ngoài cô Maxwell nhé) có thể khiến cô mơ mộng - chú Aladdin. Cảm nhận của cô với anh, và của cả Emma Jane nữa, là sự đan xen giữa niềm ngưỡng mộ vừa lãng mạn vừa thành kính đối với chính anh và lòng biết ơn nồng nhiệt với những món quà đẹp đẽ của anh. Kể từ khi hai cô bé gặp được anh, chưa một Giáng Sinh nào trôi qua mà anh không nhớ tới hai cô; những món quà được lựa chọn với khiếu thẩm mỹ và sự cẩn thận hiếm có. Emma Jane chỉ mới gặp anh hai lần, nhưng anh đã đến thăm ngôi nhà gạch vài lần rồi, và Rebecca cũng hiểu thêm về anh hơn. Cũng chính cô bé là người luôn gửi cho anh những lá thư cảm ơn và tốn nhiều công viết sao cho thư của Emma Jane thật khác thư của mình. Thỉnh thoảng anh gửi thư từ Boston hỏi thăm tình hình Riverboro, và cô bé lại gửi hàng mấy trang giấy kể lể những chuyện trẻ con và kỳ quặc, đôi chỗ viết thêm những đoạn thơ mà anh đọc đi đọc lại rất thích thú. Nếu như người lạ mặt mà Huldah kể là chú Aladdin, liệu chú có đến thăm cô không, để cô và Emma Jane được cho chú thấy căn phòng đẹp đẽ của hai cô cùng bao nhiêu món quà của chú?

Khi đã ổn định cuộc sống trọ học ở Wareham, cả hai đều cảm thấy chưa bao giờ sung sướng đến thế. Thực tế mùa đông đầu tiên này là quãng thời gian hạnh phúc và bình yên nhất trong suốt đời đi học của Rebecca - một mùa đông mà mãi về sau cô vẫn nhớ đến. Cô bé và Emma Jane ở chung phòng, cả hai gom góp chút tài sản ít ỏi lại để trang hoàng cho căn phòng thật xinh đẹp và ấm cúng. Căn phòng ban đầu đã sẵn có thảm đỏ nhuộm sợi tươi tắn và bộ bàn ghế giường tủ bằng gỗ sồi. Phần còn lại, Rebecca lên ý tưởng, Emma Jane tìm đồ về thực hiện ý tưởng ấy, một phương pháp phân công vô cùng hợp lý. Cha bà Perkins vốn là chủ một cửa hàng tạp hóa, khi mất đi ông để lại cho cô con gái đã lập gia đình toàn bộ hàng hóa mình có. Mật mía, dấm, và dầu hỏa đủ cung cấp cho cả gia đình tới năm năm, tầng áp mái nhà Perkins vẫn là một kho báu cất trữ các loại vải ca rô, cốt tông, và đồ thêu thùa khâu vá. Thế là nhờ có Rebecca tác động vào, bà Perkins đã làm rèm cửa dài và trang trí diềm bằng vải trúc bâu rồi buộc lại bằng dải vải cốt tông Thổ Nhĩ Kỳ màu đỏ. Có hai tấm khăn trải bàn cùng tông màu, và mỗi cô bé có một góc học riêng. Sau khi nịnh nọt chán chê, Rebecca đã được phép mang đến cây đèn quý giá, thứ có thể khiến bất cứ căn phòng nào cũng trở nên sang trọng, và khi những món quà Giáng Sinh vừa rồi của chú Aladdin được gửi đến - tấm bình phong Nhật Bản cho Emma Jane và một giá sách nhỏ gồm tác phẩm của các thi hào Anh cho Rebecca - thì các cô tuyên bố rằng như thế thật thú không kém gì đi lấy chồng và được quản lý gia đình.

Cuộc viếng thăm của Huldah là vào thứ Sáu, và cứ ngày này từ ba đến bốn ruỡi Rebecca được tự do làm một việc mà cô bé háo hức trông đợi suốt cả tuần. Cô luôn chạy dọc lối mòn đầy tuyết xuyên qua rừng thông sau truờng phổ thông để tới một con phố yên ắng, rồi đi thẳng tới ngôi nhà lớn màu trắng nơi cô Maxwell sống. Người hầu đa nhiệm mở cửa cho cô; cô bỏ mũ và cởi áo choàng ra treo ngoài sảnh, để đôi ủng và ô cẩn thận vào góc nhà và mở cánh cửa tới thiên đường. Hai bên tường phòng khách của cô Maxwell là các tủ sách lớn, và Rebecca được phép ngồi bên lò sưởi xem sách thỏa thích khoảng một tiếng hoặc hơn thế. Rồi cô Maxwell từ trường về và cuộc trò chuyện quý giá diễn ra trong khoảng nửa tiếng trước khi Rebecca tới ga gặp Emma Jane để bắt tàu về Riverboro. Nơi ấy, cô bé sẽ nghỉ ngơi suốt thứ Bảy và Chủ nhật, được giặt giũ, là ủi, khâu vá, kiểm tra, được khen ngợi và khiển trách, răn đe và khuyên nhủ đủ cho tuần tiếp theo.

Thứ Sáu tuần này cô bé vùi mặt vào khóm hoa phong lữ đang nở rộ trên giá trồng hoa của cô Maxwell, chọn lấy cuốn Romola trên giá sách, ngồi xuống bên cửa sổ với một niềm thỏa mãn vô bờ bến. Chốc chốc cô bé lại liếc mắt nhìn đồng hồ, không quên cái ngày cô mải mê đắm vào thế giới của David Copperfield đến nỗi tâm trí không còn chỗ cho chuyến tàu về Riverboro nữa. Cô bé Emma Jane không thấy bạn đâu thì đâm ra lo lắng không chịu về trước, bèn chạy từ ga về nhà cô Maxwell tìm bạn. Chỉ còn một chuyến tàu nữa, mà nó dừng ở một ga quá Riverboro những ba dặm, thế là hai cô bé về đến nhà thì trời đã tối om, rã rời sau chuyến đi bộ trong tuyết lạnh.

Sau khi đọc được ba mươi phút cô bé liếc ra ngoài cửa sổ và thấy hai dáng người bước ra từ lối mòn trong rừng. Búi tóc rực màu và chiếc mũ đỏm dáng chỉ có thể là của một người duy nhất; và người đồng hành của cô, khi cả hai tiến lại gần ngôi nhà, hóa ra không ai khác chính là chú Aladdin. Huldah nâng chiếc váy thật thanh nhã và lựa chỗ đặt chân thật an toàn cho đôi giày cao gót của mình, đôi má cô ửng hồng, đôi mắt long lanh dưới tấm voan trắng chấm đen.

Rebecca bỏ chỗ ngồi bên cửa sổ lại chỗ tấm thảm bên lò sưởi đang rừng rực cháy và tựa đầu lên chiếc ghế nghỉ lớn. Cô thấy hoảng sợ trước cơn giông bão trong tim mình trước sự xuất hiện đột ngột của nó, cũng như trước cảm xúc đầy lạ lẫm đang trào dâng. Ngay lập tức cô bé thấy mình không chịu nổi việc phải chia sẻ tình bạn của chú Aladdin với Huldah: Huldah quá rực rỡ, nồng nhiệt và xinh đẹp, vui vẻ và phóng khoáng, và là một người bầu bạn tuyệt vời! Cô vẫn luôn vô tư chấp nhận Emma Jane trong mối quan hệ quý giá ấy, nhưng có lẽ cô vô tình tự nhận thấy Emma Jane chỉ luôn đứng ở vị trí thứ hai trong mối quan tâm của chú Aladdin; nhưng suy cho cùng, cô là ai mà lại mong đứng ở vị trí đầu tiên chứ?

Bất chợt cánh cửa khẽ mở và ai đó nhìn vào, ai đó nói rằng: “Cô Maxwell nói tôi có thể tìm thấy cô Rebecca Randall ở đây.”

Rebecca giật nảy mình trước âm thanh đó và đứng bật dậy, hào hứng nói, “Chú Aladdin! Ôi! Cháu biết chú đã ở Wareham, nhưng cháu nghĩ chú không có thời gian để thăm chúng cháu.”

“‘Chúng cháu’ sao? Các bác không ở đây đấy chứ? Ồ, ý cô là cô con gái ông thợ rèn giàu có ấy hả, cái cô bé mà tôi không bao giờ nhớ nổi tên được. Cô ấy cũng ở đây sao?”

“Vâng, cậu ấy là bạn cùng phòng với cháu,” Rebecca trả lời, thầm nghĩ tiếng chuông tận số của chính mình đã vang lên, khi chú còn quên cả tên Emma Jane.

Ánh sáng trong phòng dịu đi, lò sưởi lách tách vui vẻ, và họ nói về đủ thứ chuyện, cho đến khi cảm giác thân quen và gần gũi len lỏi trở lại chiếm ngự trái tim Rebecca. Adam đã không gặp cô bé mấy tháng rồi, có biết bao nhiêu chuyện cần kể về trường học từ góc nhìn của cô; anh cũng đã hỏi thăm qua thầy Morrison về chuyện học hành của cô.

“Chà, cô Rebecca bé nhỏ ạ,” cuối cùng anh nói, như tự đánh thức chính mình, “tôi phải tính đến chuyện đánh xe về Portland thôi. Ngày mai có một cuộc họp ban giám đốc đường sắt, tôi luôn tận dụng cơ hội ấy để về thăm trường và góp ý kiến về các vấn đề của trường, giáo dục và tài chính.”

“Cháu hình dung chú là ủy viên của trường thì thấy hơi buồn cười,” Rebecca ngẫm ngợi. “Cháu không thấy hợp cho lắm.”

“Cô thật là một cô bé thông thái và tôi hoàn toàn đồng ý với cô,” anh trả lời; “sự thực là,” anh nói thêm, vẻ trầm ngâm, “tôi đồng ý làm ủy viên trường vì người mẹ đáng thương của tôi, bà đã có những năm tháng hạnh phúc cuối cùng ở trường này.”

“Thế thì chắc phải lâu lắm rồi!”

“Để xem nào, tôi ba mươi hai; chỉ mới ba hai thôi, mặc dù tóc đã có vài sợi bạc. Mẹ tôi lấy chồng một tháng sau khi tốt nghiệp; và bà chỉ sống đến khi tôi mười tuổi; phải, hồi mẹ tôi học ở đây là đã lâu lắm rồi, mặc dù tôi nghĩ khi ấy trường mới chỉ mười lăm hai mươi năm tuổi thôi. Cô có muốn xem hình mẹ tôi không, cô Rebecca?”

Cô gái nhỏ khẽ đón lấy chiếc khung ảnh gập bằng da, mở ra và thấy một khuôn mặt tinh khôi như đóa hoa cúc trắng hồng, rất đỗi ngây thơ, rất đỗi đa cảm, làm trái tim người ta không khỏi xốn xang. Rebecca thấy mình như lớn hơn, từng trải hơn, và trong lòng trỗi dậy bản năng làm mẹ. Khoảnh khắc ấy cô mong mỏi được vỗ về và nâng đỡ tâm hồn mong manh trong trẻo ấy.

“Ôi, một khuôn mặt dịu dàng tinh khiết như hoa vậy!” cô bé thì thầm.

“Bông hoa đã phải hứng chịu đủ mọi thứ bão giông”, Adam đau đớn. “Thời tiết khắc nghiệt đã bẻ cong cành hoa mảnh mai, vùi bông xuống đất đen. Tôi chỉ là một đứa trẻ và đã không thể làm gì để bảo vệ và nuôi dưỡng cành hoa ấy, không một ai đứng ra che chắn cành hoa ấy trước những nghiệt ngã của giông bão. Giờ đây tôi có được thành công, tiền bạc và quyền lực, tất cả những thứ sẽ giúp bà sống vui và hạnh phúc, nhưng đã quá muộn. Bà mất vì thiếu tình yêu và sự chăm sóc, gần gũi và yêu thương, và tôi không bao giờ quên được điều đó. Những gì tôi đạt được ngày hôm nay đôi lúc như là vô dụng, vì tôi không thể nào chia sẻ được cùng bà nữa!”

Đây là một chú Aladdin thật mới, thật khác, khiến trái tim Rebecca trào lên lòng cảm thương và đồng cảm. Câu chuyện này giải thích vẻ mệt mỏi trong mắt chú, và phảng phất đâu đây ngay khi chú vui vẻ nói cười.

“Cháu mừng là cháu đã được biết chuyện,” cô bé nói, “và thật hay khi cháu được thấy bà trong hình ảnh một cô gái buộc dải mũ trúc bâu trắng dưới cằm với lọn tóc xoăn vàng và đôi mắt xanh dương. Hẳn bà đã hạnh phúc lắm. Ước gì bà được sống mãi như thế, để thấy chú lớn lên mạnh giỏi. Mẹ cháu thì bận bịu và buồn rầu suốt, nhưng một lần khi mẹ nhìn em John cháu nghe mẹ nói, ‘Thằng bé bù đắp cho tất cả.’ Đó là những gì mẹ chú sẽ nghĩ về chú nếu như bà còn sống - và có lẽ ngay bây giờ bà cũng nghĩ như thế.”

“Cô thật là biết an ủi người khác, Rebecca ạ,” Adam nói, đoạn đứng dậy.

Khi Rebecca đứng dậy, những giọt nước mắt vẫn còn rung rinh đọng trên mí mắt, anh nhìn cô bất chợt như nhận ra điều gì.

“Tạm biệt!” anh nói, nắm lấy đôi tay mảnh mai rám nắng và thốt lên như thể mới gặp cô lần đầu, “Chao, cô Bạch Tuyết-Hồng Đỏ nhỏ bé đang lớn lên thành một cô gái khác! Đốt dầu hằng đêm học cho hết chương trình bốn năm trong vòng ba năm lẽ ra phải khiến đôi mắt mờ đi và đôi má nhợt nhạt, vậy mà đôi mắt Rebecca vẫn rực sáng và đôi má vẫn tươi tắn hồng hào! Hai bím tóc dài luồn vào nhau thành chữ u màu đen phía sau lưng và buộc bằng hai chiếc nơ lớn! Cô ấy cao sắp đến vai tôi rồi. Không thể vô lý như thế được! Làm sao chú Aladdin sống nổi khi không có người bạn nhỏ thân thiết này đây! Ông ta không thích các cô gái trưởng thành với những chuỗi hạt và áo quần đẹp đẽ; họ chỉ làm ông ấy sợ hãi và ngán ngẩm thôi!”

“Ôi, chú Aladdin!” Rebecca phấn chấn thốt lên vì tin lời trêu đùa của anh; “cháu còn chưa được mười lăm, và phải ba năm nữa cháu mới là người trưởng thành; xin đừng vội thất vọng về cháu!”

“Tôi sẽ không như thế đâu; tôi hứa đấy,” Adam nói. Ngừng lại một chút, anh nói “Rebecca, cô gái trẻ với bộ tóc đỏ xinh đẹp và kiểu cách thành thị kia là ai thế? Cô ấy đưa tôi qua đồi; cô biết tôi đang nói ai chứ?”

“Chắc là Huldah Meserve; chị ấy cũng ở Riverboro.”

Adam đưa một ngón tay nâng cằm Rebecca lên và nhìn vào mắt cô; đôi mắt dịu dàng, trong trẻo, vô tư, và vẫn trẻ con như hồi cô mới mười tuổi. Anh nhớ đến đôi mắt xanh dương kia đầy thách thức với cái liếc mắt khêu gợi qua đôi mi nhắm hờ nằm dưới cặp mày cong cong, bắn sang anh những ánh nhìn như mũi tên. Đoạn anh nghiêm giọng nói, “Đừng học theo cô ấy, Rebecca ạ; hoa dại mọc trên cánh đồng bên Suối Nắng không thể nằm chung một bó với hướng dương sặc sỡ được; chúng ngọt ngào hơn, thơm hơn, và trong sáng hơn nhiều.”

❀ ❀ ❀

[1] Lấy từ bài thơ L’Allegro của John Milton.

Người dịch: Phạm Minh Điệp
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Kate Douglas Wiggin

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.