Maine có vẻ như trải dài đến bất tận. Tôi cảm nhận được tâm trạng của Peary[1] khi ông ta đến gần cái nơi mà ông ta cứ tưởng là Bắc cực. Nhưng tôi muốn đến hạt Aroostock, một hạt lớn phía bắc Maine. Có ba khu vực lớn trồng khoai tây là Idaho, hạt Suffolk ở Long Island và hạt Aroostock ở Maine. Tôi đã nghe nhiều người kể về Aroostock, nhưng chưa ai trong số họ từng đến đó. Người ta bảo rằng mùa màng tại đây được thu hoạch bởi người Canucks đến từ Canada. Những người này kéo qua biên giới đông nghịt vào mùa thu hoạch. Đường tôi đi kéo dài bất tận qua những cánh rừng và ao hồ còn chưa đóng băng. Tôi cố chọn những con đường nhỏ băng rừng, vốn không thuận lợi lắm cho tốc độ. Nhiệt độ dâng cao và trời mưa không ngừng nghỉ khiến các khu rừng ướt sũng. Charley lúc nào cũng nhớp nháp, chỉ thiếu điều phát mốc. Bầu trời mang một màu nhôm xám ẩm ướt và không có dấu hiệu nào của một tấm màn trong mờ, nơi mặt trời có thể đang trú ngụ. Vì vậy tôi không thể định được hướng đi. Qua một đoạn đường cong, tôi có thể đang đi về hướng đông hoặc hướng nam hoặc hướng tây, chứ không phải là hướng bắc như tôi muốn. Hồi tôi còn là một cậu bé Hướng đạo sinh, tôi cũng từng bị lừa bởi chuyện huyễn hoặc là những đám rêu mọc ở mặt bắc của cây cối. Thật ra rêu mọc ở mặt râm, và mặt này có thể là bất cứ nơi đâu. Tôi quyết chí mua một chiếc la bàn, nhưng trên con đường tôi đang đi làm gì có thị trấn kế tiếp nào. Màn đêm từ từ trườn xuống, mưa đánh trống trên chiếc mui xe bằng thép và các cần gạt kính chắn gió đánh những vòng cung sụt sùi. Những cây cao u tối chen chân trên đá sỏi dọc ven đường. Có vẻ như nhiều giờ đã qua đi kể từ khi tôi băng qua một chiếc xe, một ngôi nhà, một cửa hiệu, vì đi theo lối này thì đường quê đã hóa thành đường rừng mất rồi. Một nỗi cô đơn u uất bỗng xâm chiếm lấy tôi, hầu như là một nỗi cô đơn khủng khiếp. Charley, ướt mèm và lẩy bẩy, nằm co tròn trong góc cái ghế của nó và không chia sẻ gì. Tôi tấp xe vào phía sau lối vào một cây cầu bêtông, nhưng không thể tìm được một nơi bằng phẳng bên lề đường dốc tuột.
Ngay cả trong ca-bin cũng ảm đạm và ẩm ướt. Tôi vặn cao chiếc đèn măng-sông đốt bằng gas, thắp ngọn đèn dầu, rồi bật hai chiếc bếp lò để xua đi nỗi cô đơn. Mưa vẫn đánh trống trên chiếc nóc kim loại. Không có món gì trong kho thực phẩm của tôi là trông có thể nuốt nổi. Màn đêm buông xuống và các ngọn cây cũng sát vào nhau hơn. Giữa tiếng mưa đánh trống, tôi nghe đâu có những giọng nói, như thể một đám người đang thì thào, đang lầm bầm từ phía sau hậu trường. Charley liên tục ngọ nguậy. Nó không sủa để báo động, nhưng nó cứ gầm gừ và rên rỉ một cách khó chịu và điều này không giống nó chút nào. Nó không ăn bữa tối và nước uống cũng chẳng thèm đụng tới. Mà đó là một con chó vốn uống hàng chậu nước mỗi ngày và cần phải như thế vì sự bài tiết nữa. Tôi kháng cự quyết liệt nỗi cô đơn, làm hai phần sandwich bơ đậu phộng, rồi leo lên giường viết thư về nhà, cố xua đi sự đơn độc của mình. Rồi mưa bỗng ngừng rơi, nước trên cây nhỏ giọt, và tôi đã tưởng tượng ra cả một rừng những hiểm họa bí ẩn. Ồ, chúng ta có thể quy cho màn đêm những nỗi kinh hoàng, cho dù ta nghĩ mình có học hành và điều gì cũng biết, cho dù ta tin rằng bất cứ điều gì cũng có thể đo và đếm. Dù tôi vẫn biết chắc rằng những điều đen tối đang tích tụ trong tôi hoặc là không tồn tại hoặc là không nguy hiểm, thế nhưng tôi vẫn cứ sờ sợ. Tôi nghĩ màn đêm hẳn là rất khủng khiếp vào thời mà người ta biết có những thứ nguy hiểm chết người đang ở đó. Nhưng không, sai rồi. Nếu tôi biết chúng ở đó, tôi sẽ dùng vũ khí chống lại chúng, dùng bùa, dùng lời cầu nguyện, dùng một dạng thức nào đó để liên kết với những thế lực mạnh ngang bằng nhưng đứng về phía tôi. Việc biết rằng chúng không có ở đó làm cho tôi trở nên không phòng bị và có lẽ càng thêm phần sợ hãi.
Rất lâu trước đây, tôi từng sở hữu một trang trại nho nhỏ ở núi Santa Cruz tại California. Ở một chỗ nọ, khu rừng những cây madrone khổng lồ phủ tán lên một hồ trên núi thực thụ, một hồ nước đen nháy. Nếu như có một địa điểm ma ám nào đó thì đích thị là nơi này. Vẻ ma quái của nó đến từ ánh sáng leo lét lọt qua những khóm lá và nhiều khung cảnh rợn người. Có một người Philippines làm việc cho tôi, một người miền núi thấp, đen và lặng lẽ, hình như thuộc tộc người Maori. Có lần, do nghĩ rằng ông ta hẳn phải thuộc về một hệ thống bộ tộc vốn xem những thứ vô hình như một phần của thực tại, tôi bèn hỏi xem ông ta có sợ cái nơi ma ám đó không, đặc biệt là vào ban đêm. Ông ta nói là không sợ vì nhiều năm trước đây có một thầy phù thủy đã cho ông ta một món bùa để chống lại ma quỷ.
“Ông cho tôi xem món bùa đó đi”, tôi thỉnh cầu.
“Nó là bằng lời”, ông ta nói. “Nó thuộc dạng bùa chú”.
“Ông đọc nó cho tôi nghe được không?”
“Được chứ”, ông ta nói rồi bắt đầu lẩm bẩm. “In nomine Patris et Filii et Spriritus Sancti”.
“Nó có nghĩa là gì vậy?” tôi hỏi.
Ông ta nhún vai. “Tôi không biết”, ông ta nói. “Đó là bùa chú để xua ma quỷ nhờ vậy mà tôi không sợ chúng”.
Tôi đã dặm vào câu chuyện này những từ ngữ nghe như tiếng Tây Ban Nha giả cầy, nhưng nói tóm lại thì đó là món bùa của ông ta và nó linh nghiệm đối với ông ta.
Nằm trên giường trong màn đêm thổn thức, tôi cố tập trung vào việc đọc sách để giữ cho đầu óc khỏi u sầu, nhưng trong khi đôi mắt vẫn lướt qua các dòng chữ, đôi tai tôi vẫn lắng nghe màn đêm. Vừa lúc sắp thiếp đi, một âm thanh mới khiến tôi bừng tỉnh. Đó là tiếng bước chân rón rén đi trên sỏi, tôi đoán thế. Cạnh giường tôi có một đèn pin dài sáu mươi phân, dùng cho việc săn mèo rừng. Nó phát ra một chùm sáng cực mạnh, rọi xa đến ít nhất một cây số sáu. Tôi bật dậy khỏi giường, nhấc khẩu súng các-bin 30/30 treo trên vách rồi dỏng tai nghe qua cánh cửa của Rocinante. Và tôi nghe thấy tiếng chân đến gần hơn. Đến phiên Charley gầm lên lời răn đe của nó. Tôi mở cửa ra và lia ánh sáng vào màn đêm. Đó là một người đàn ông mang giày ống và khoác tấm vải bạt màu vàng. Ánh sáng làm ông ta khựng lại.
“Ông muốn gì?” tôi hỏi.
Ông ta có vẻ như sững sờ. Phải mất một lúc, ông ta mới trả lời. “Tôi muốn về nhà. Tôi sống ở bên đường phía trên kia”.
Tôi chợt nhận ra toàn bộ cái sự tình xuẩn ngốc, những mẫu hình lố bịch đã lớp lớp chồng chất lên. “Ông thích uống cà phê không, hay chút rượu cũng được?”
“Không, trễ lắm rồi. Xin ông đừng rọi cây đèn đó vào mặt tôi nữa, tôi sẽ đi khỏi ngay”.
Tôi tắt đèn và ông ta cũng biến mất, nhưng khi đi qua, giọng ông ta vọng lại, “Tò mò một chút, ông làm gì ở đây vậy?”
“Cắm trại”, tôi nói, “chỉ là ở qua đêm”. Rồi tôi leo lên giường và lập tức ngủ say.
Mặt trời đã lên cao khi tôi thức dậy và thế giới đã được tái tạo, rực rỡ. Có bao nhiêu loại ngày là có bấy nhiêu thế giới, và giống như viên ngọc bích thay đổi màu sắc để thích ứng với thiên nhiên hàng ngày, tôi cũng y như thế. Những sợ sệt ban đêm cùng nỗi cô đơn đã rời xa đến mức tôi khó mà nhớ ra.
Ngay cả Rocinante – trông dơ bẩn và bám đầy lá thông là thế – cũng chồm lên đường một cách đầy hân hoan. Giờ đây đã có nhiều cánh đồng xen kẽ những chiếc hồ và khu rừng. Đó là những cánh đồng đất xốp hợp cho việc trồng khoai tây. Những xe tải đuôi phẳng chất chồng những thùng khoai tây rỗng di chuyển đầy trên đường, và những máy đào khoai tây đang xới lên hàng dãy dài những củ có vỏ ngoài màu tái xám.
Trong tiếng Tây Ban Nha có một từ mà tôi không tìm ra từ tương ứng trong tiếng Anh. Đó là động từ vacilar, hiện tại phân từ là vacilando. Nó hoàn toàn không có nghĩa là lắc lư, vacillating. Khi ai đó đang vacilando thì có nghĩa là người đó đang đi đâu đấy nhưng không quan tâm lắm đến việc mình có đến được nơi nào đó hay không, mặc dù cũng có hướng đi hẳn hoi. Bạn của tôi, Jack Wagner, thường ở trạng thái này tại Mexico. Ví như chúng tôi muốn đi tản bộ trên các con đường của Mexico City nhưng không phải là đi ngẫu nhiên. Chúng tôi sẽ chọn một thứ gì đó không tồn tại ở nơi ấy và rất cần mẫn đi tìm nó.
Tôi muốn đến nóc nhà của Maine để khởi đầu cuộc hành trình của tôi trước khi rẽ sang hướng tây. Điều này có vẻ như làm cho cuộc hành trình trở nên có tính toán, vì mọi thứ trên thế giới này đều phải được tính toán, nếu không thì tư duy của con người sẽ bác bỏ chúng. Nhưng thêm vào đó, chúng phải có mục đích nếu không thì lương tri của con người sẽ xa rời chúng. Nếu như tôi chưa bao giờ thấy củ khoai tây, trạng thái vacilador của tôi hẳn đã chẳng bị ảnh hưởng gì. Sau này hóa ra tôi đã thấy nhiều khoai tây hơn mức cần thiết. Tôi thấy cả những ngọn núi khoai tây, cả những đại dương khoai tây, nhiều khoai tây hơn cả mức mà bạn nghĩ dân số thế giới có thể tiêu thụ hết trong vòng một trăm năm.
Tôi thấy nhiều người thu hoạch khoai là dân di cư ở khu vực này: người Ấn, người Philippines, người Mexico, người Oklahoma rời khỏi bang của họ. Ở bang Maine này có rất nhiều người Canada gốc Pháp qua biên giới để tham gia mùa thu hoạch. Tôi chợt nghĩ, giống như người Carthage[2] dùng lính đánh thuê để chiến đấu cho họ, người Mỹ chúng ta đang đưa vào những lính đánh thuê để làm những công việc nặng nhọc và thấp kém của chúng ta. Tôi hy vọng đất nước chúng ta ngày nào đó sẽ không tràn ngập những người quá kiêu hãnh hoặc quá lười nhác, quá yếu đuối không thể cúi xuống đất và nhặt lên những thứ chúng ta ăn.
Dân Canuck là những người khắc khổ. Họ kéo đến cắm trại theo từng gia đình và nhóm gia đình, thậm chí có khi cả dòng tộc: đàn ông, đàn bà, thanh niên, thiếu nữ và cả con nít nữa. Chỉ có những đứa bé còn đang bú là không tham gia vào việc nhặt khoai tây và bỏ khoai vào những chiếc thùng. Người Mỹ lái những chiếc xe tải, dùng tời quay và một loại cần trục nhỏ để chất những chiếc thùng lên xe. Rồi họ lái xe đi giao khoai tây tại các nhà kho có những ụ đất đắp cao xung quanh để ngừa khoai đông cứng.
Kiến thức của tôi về dân Canuck gốc Pháp là từ các bộ phim thường có Nelson Eddy và Jeanette MacDonald đóng, trong đó câu “By Gar”[3] được dùng rất nhiều lần. Cũng lạ, nhưng tôi chưa từng nghe một người nhặt khoai tây nào nói “By Gar”, và họ thì hẳn là có xem mấy bộ phim này và biết thế nào là đúng. Đàn bà và con gái mặc quần tây bằng vải nhung và áo len dài tay rất dày. Họ phủ lên đầu những chiếc khăn choàng màu sáng để tóc đỡ bám những bụi bặm mà chỉ cần một cơn gió thoảng qua cũng làm cho bốc cao. Hầu hết những người này đi bằng xe tải lớn phủ bạt vải dầu, nhưng cũng có người đi bằng xe rơ-moóc và một số ít đi loại xe có ca-bin gắn bên trên giống như Rocinante. Về đêm, một số người ngủ trong xe tải và xe trailer, nhưng cũng có cả những túp lều dựng lên ở những nơi dễ chịu, và mùi hương từ ngọn lửa bếp cho thấy rằng họ không hề đánh mất cái biệt tài nấu súp của người Pháp.
May thay, những túp lều, xe tải và hai chiếc xe rơ-moóc nằm cả ở bên rìa một chiếc hồ xinh đẹp và trong trẻo. Tôi đậu Rocinante cách đó chừng một trăm mét, nhưng cũng ở mép hồ. Rồi tôi đi đun cà phê và đem cái thùng rác – xô giặt đồ của tôi ra. Nó đã xóc nảy trong suốt hai ngày, và giờ thì tôi mang đồ ra xả ở bên hồ. Thái độ đối với người lạ diễn biến một cách kỳ lạ. Tôi ở hướng thuận gió từ lều trại và mùi thơm món súp lan đến chỗ tôi. Những người này cũng có thể là sát nhân, hung bạo, cục súc, nửa người nửa ngợm hay tất cả những gì xấu xa nhất, nhưng tôi lại thấy mình đang nghĩ, “Họ mới có duyên làm sao, tao nhã làm sao, đẹp đẽ biết ngần nào. Giá như tôi được làm quen với họ”. Và tất cả cũng chỉ vì cái mùi súp thơm tho đó.
Khi cần thiết lập quan hệ với người lạ thì Charley luôn là sứ giả của tôi. Tôi thả nó ra và nó liền giạt về phía mục tiêu, hay nói đúng hơn là phía mà mục tiêu đang nấu bữa tối. Tôi gọi nó về để nó khỏi làm phiền những người hàng xóm – et voilà![4] Một đứa bé sẽ làm được điều đó, nhưng một con chó thì còn làm tốt hơn.
Sự việc xảy ra một cách trôi chảy như người ta có thể trông đợi ở một kịch bản đã được thử nghiệm và diễn tập kỹ lưỡng. Tôi gửi sứ giả của mình đi và uống tách cà phê trong lúc chờ đợi nó làm nhiệm vụ. Rồi tôi lần đến khu lều trại để trấn an những người hàng xóm về sự quấy quả của con chó hư đốn. Họ là những người trông tử tế, gồm chừng một chục người không kể trẻ em. Ba cô bé xinh đẹp luôn miệng cười khúc khích, hai cô vợ đẫy đà và cô vợ thứ ba thậm chí còn đẫy đà hơn với đứa con nhỏ, một vị cao niên, hai người anh rể và hai thanh niên đang trên đường trở thành những người em rể. Người thủ lĩnh – dĩ nhiên vẫn giữ sự tôn kính đối với vị cao niên kia – là một người đàn ông điển trai khoảng ba mươi lăm tuổi, có đôi bờ vai rộng, mềm mại, làn da màu kem ưng ửng đỏ như của một cô gái và mái tóc đen dợn sóng.
Con chó không hề làm phiền gì, anh ta nói thế. Sự thật là họ đã nhận ra nó là một con chó đẹp mã. Dĩ nhiên là tôi phải ca cẩm về những khiếm khuyết của nó với tư cách là người chủ, nhưng quả là nó có một ưu thế hơn hẳn những con chó khác: nó được sinh ra và lớn lên ở Pháp.
Nhóm người bỗng nhiên thấy thân thuộc. Ba cô bé xinh đẹp cười khúc khích và lập tức bị chỉnh đốn bởi cặp mắt xanh như nước biển của người thủ lĩnh, hậu thuẫn bởi tiếng xuỵt của vị cao niên.
Thật không? Ở Pháp là ở đâu?
Ở Bercy, ngoại ô Paris, họ có biết nơi đó không?
Không, đáng tiếc là họ chưa bao giờ đặt chân lên quê cha đất tổ.
Tôi hy vọng họ sẽ sửa chữa được điều đó.
Qua điệu bộ của Charley, hẳn họ đã nhận ra rằng nó mang quốc tịch Pháp. Họ đã quan sát chiếc roulotte[5] của tôi với vẻ tán thưởng.
Tôi đơn giản là cảm thấy rất thoải mái. Nếu họ ưng thì tôi sẵn lòng giới thiệu nó cho họ xem.
Tôi đã rất tử tế. Hẳn là họ rất hài lòng.
Nếu bạn nghĩ cứ nghe thấy ngữ điệu lên giọng ở cuối câu là cuộc trò chuyện đang diễn ra bằng tiếng Pháp thì bạn lầm to. Người thủ lĩnh nói bằng một thứ tiếng Anh thuần khiết và cẩn trọng. Từ tiếng Pháp duy nhất mà anh ta sử dụng là roulotte. Giữa họ với nhau thì họ trao đổi bằng tiếng Canuck. Dẫu sao thì tiếng Pháp của tôi cũng tệ. Không, ngữ điệu lên ở cuối câu chỉ là một phần, một mảng của sự long trọng trong việc thiết lập quan hệ. Tôi triệu Charley lại gần mình. Liệu tôi có thể mời họ đến chơi sau khi họ dùng xong bữa tối, mà tôi ngửi thấy mùi trên bếp lửa?
Họ rất hân hạnh.
Tôi dọn dẹp ca-bin, hâm nóng và ăn món bò nấu ớt đóng hộp của mình, kiểm tra xem bia có lạnh không, và thậm chí còn hái một bó lá mùa thu, cắm nó vào một chai sữa đặt lên bàn. Xấp ly giấy được lôi ra sử dụng cho dịp này dù chúng đã bị cuốn từ điển rơi xuống đè dẹp lép ngay từ ngày đầu lên đường, còn với những tấm lót ly thì tôi dùng khăn giấy gấp. Khả năng xoay xở của người ta khi chuẩn bị một bữa tiệc thật là đáng ngạc nhiên. Rồi Charley sủa đón họ, và tôi trở thành chủ tiệc trong chính căn nhà của mình. Sáu người có thể chen chúc quanh chiếc bàn của tôi, và họ đã thu xếp được. Hai người khác đứng cạnh tôi và cửa hậu đầy ắp những khuôn mặt trẻ thơ. Họ là những người rất dễ thương nhưng cũng rất màu mè. Tôi khui bia cho người lớn và nước ngọt cho bọn nhóc bên ngoài.
Sau những lời mào đầu nhất định, những người này bắt đầu kể tôi nghe đôi chút về chính bản thân họ. Mỗi năm họ đều qua biên giới để thu hoạch khoai tây. Mọi người đều làm việc nên họ có được một khoản tiền nho nhỏ để cầm cự qua mùa đông. Họ có gặp rắc rối gì ở biên giới với những người bên cơ quan di trú không? Không. Luật lệ hình như được nới lỏng trong mùa thu hoạch. Hơn nữa, đường họ đi đã được bôi trơn bởi các nhà thầu mà họ phải thối lại một phần trăm nho nhỏ từ thu nhập của họ. Gã này thu tiền trực tiếp từ các chủ trang trại. Trong nhiều năm qua, tôi có quen biết một số người di cư: người Oklahoma, người Mexico và những người da đen chuyển đến New Jersey và Long Island. Và, ở bất cứ nơi đâu, tôi đều thấy một gã thầu đứng phía sau để bôi trơn con đường của họ, đổi lấy một khoản tiền lễ tạ. Suốt nhiều năm qua, các chủ trang trại đã tìm cách lôi kéo thêm lao động mà họ cần để hạ thấp phí lương. Điều này hình như không còn đúng nữa, vì các cơ quan chính phủ chỉ cho vào một lượng lao động vừa đủ với nhu cầu cần thiết, và một dạng lương tối thiểu nào đó đã được thiết lập. Cũng có những trường hợp người di cư bị cái nghèo và những nhu cầu bức thiết đẩy đến chỗ phải di chuyển và làm những việc theo mùa.
Chắc chắn những vị khách của tôi tối hôm đó không phải là bị ngược đãi mà cũng chẳng phải là bị lùa vào. Tốp người này đã bỏ lại trang trại nhỏ của chính họ tại tỉnh Quebec, cho nó nghỉ đông, và vượt qua bên giới để kiếm một khoản tiền bỏ túi nho nhỏ. Họ thậm chí còn mang theo cả một ít cảm giác hội hè, tương tự như những người thu hoạch hoa bia và dâu tây đến từ London và các thành phố miền Trung nước Anh. Những người này rất khắc khổ, tiết chế, và có khả năng tự lập rất cao.
Tôi khui thêm bia. Sau một đêm cô đơn u uất, tôi cảm thấy thật dễ chịu khi được quây quần bởi những con người nhiệt thành, thân thiện nhưng cẩn trọng. Tôi mở chiếc giếng phun những cảm xúc tốt đẹp và làm một bài phát biểu nho nhỏ bằng thứ tiếng Pháp giả cầy của mình. Nó mở đầu như sau: “Messy dam. Je vous porte un cher souvenir de la belle France – en particulier du Departement de Charente”.[6]
Họ có vẻ sửng sốt nhưng quan tâm. John, người thủ lĩnh, chậm rãi dịch lời nói của tôi bằng thứ tiếng Anh trường trung học rồi chuyển nó lại tiếng Pháp Canada. “Charente ư?” anh ta hỏi. “Tại sao lại Charente?” Tôi cúi xuống mở một ngăn kéo dưới bồn rửa chén và nhấc ra một chai brandy quý rất nhiều tuổi được mang theo để dùng cho những dịp đám cưới, bị bỏng lạnh, hay nhồi máu cơ tim. John nghiên cứu chiếc nhãn với sự quan tâm đầy háo hức mà một tín đồ Cơ đốc ngoan đạo có thể dành cho các bí tích. Và lời lẽ của anh ta cũng đầy tôn kính: “Chúa ơi!” anh ta thốt lên. “Tôi quên mất. Charente – đó là nơi xuất xứ của Cognac”. Rồi anh ta đọc cái năm khai sinh ra chai rượu và khe khẽ lặp lại những từ đầu tiên ban nãy.
Anh ta chuyển cái chai cho vị cao niên ngồi trong góc, và ông lão mỉm cười ngọt lịm đến mức lần đầu tiên tôi thấy được ông ta thiếu mất chiếc răng cửa. Người anh rể gừ gừ ở trong họng như một con mèo đực vui sướng và các cô có bầu thì líu lo như những con chim chiền chiện hót dưới mặt trời. Tôi đưa cho John cái mở nút chai và lấy ly tách ra: ba chiếc tách cà phê bằng nhựa, một chiếc ly đựng mứt, một chiếc ca đựng đồ cạo râu và vài lọ thuốc miệng rộng. Tôi dốc hết thuốc men ra một chiếc chảo và lấy nước từ vòi, rửa cho sạch cái mùi mầm lúa mì. Món cognac quả là rất rất ngon, và ngay từ tiếng thì thầm “Santé”[7] và tiếng cụng ly đầu tiên, bạn có thể cảm nhận tinh thần “tứ hải giai huynh đệ” dâng cao, cho đến khi tràn đầy trong Rocinante – và cả “tứ hải giai huynh muội” nữa chứ.
Họ khước từ ly thứ hai còn tôi cố nài. Và lần rót thứ ba dựa trên cơ sở là rượu chẳng còn nhiều nhặn gì cho cam. Và với việc chỉ còn vài giọt để chia vào cái vòng thứ ba ấy, phép lạ của con người đầy hoan hỉ tràn ngập trong Rocinante. Phép lạ đó có thể ban phúc cho một ngôi nhà hay một chiếc xe. Chín con người đang tụ tập giữa sự im lặng tuyệt đối, và chín phần rời này tạo thành một tổng thể cũng chắc chắn như đôi tay và đôi chân là một phần của tôi vậy, vừa tách biệt lại vừa không tách biệt. Rocinante đã nhận được sự ban phúc mà nó sẽ giữ lấy mãi mãi.
Một sự gắn kết như thế thì không thể kéo dài mãi và chẳng nên kéo dài. Vị cao niên ra hiệu. Các vị khách của tôi luồn lách nhau rời khỏi chỗ ngồi chen chúc quanh chiếc bàn, và lời từ biệt vang lên rất ngắn gọn và trang trọng, như nó cần phải thế. Rồi họ bước vào màn đêm, con đường về nhà của họ được soi sáng bởi thủ lĩnh John, người mang chiếc đèn bão bằng thiếc. Họ bước đi trong im lặng, bên những đứa bé buồn ngủ chân loạng choạng, và tôi không bao giờ còn gặp lại họ nữa. Nhưng tôi thấy mến họ vô cùng.
Tôi không hạ chiếc giường của tôi xuống vì tôi muốn khởi hành từ rất sớm. Tôi cuộn mình nằm phía sau chiếc bàn và ngủ một chút cho đến khi bình minh chập choạng đến, Charley nhìn vào mặt tôi và nói “Phù”. Trong khi đun cà phê, tôi làm một tấm biển nhỏ bằng bìa cứng và cắm nó vào chai brandy rỗng. Khi đi ngang khu lều trại, tôi dừng lại và đặt chiếc chai ở nơi mà họ thấy được. Tấm biển ghi: “Enfant de France, Mort pour la patrie”.[8] Rồi tôi lái xe đi, càng khẽ khàng càng tốt. Ngày hôm đó tôi dự định lái sang phía tây một chút rồi đi quãng đường dài xuống phía nam, xuôi theo con sông dài của Maine. Có những khoảnh khắc còn quý báu hơn cả cuộc đời, và những khoảnh khắc đó luôn thắp sáng những hồi ức. Sáng hôm đó tôi cảm thấy mình rất may mắn.
Trong một cuộc hành trình như thế này, sự kiện đó có quá nhiều điều để suy ngẫm và những nghĩ suy cứ nhào trộn như một nồi súp thịt đun chậm. Có những người sính bản đồ, niềm vui của họ là phung phí sự chú tâm vào những tấm giấy màu thay vì những miền đất đầy màu sắc mà họ đi qua. Tôi từng nghe những du khách như thế kể rằng họ nhớ rõ từng số đường, từng cột cây số, từng miền quê nho nhỏ. Một loại du khách khác luôn muốn biết đích xác mình đang nơi nào trên bản đồ vào mọi thời điểm, cứ như là có một dạng an toàn nào đó qua những đường vẽ màu đỏ và đen, qua những dấu chấm, những đường ngoằn ngoèo màu xanh để chỉ hồ và những bóng đổ để chỉ núi. Tôi thì không như thế. Tôi bẩm sinh là người lạc đường và cũng chẳng lấy gì làm vui vẻ khi được tìm ra. Tôi chẳng định ra được gì nhiều từ những hình thù biểu tượng cho lục địa hay quốc gia. Hơn nữa, ở đất nước ta, những con đường cứ luôn luôn thay đổi, tăng lên, rộng ra hoặc bỏ phế, đến mức người ta phải mua bản đồ đường sá giống như mua nhật báo vậy. Nhưng kể từ khi tôi biết niềm đam mê của những tay sính bản đồ, tôi có thể kể rằng, ở Maine, tôi đã di chuyển lên phía bắc, đi theo hoặc song song với Quốc lộ 1, đi qua Houlton, Mars Hill, Presque Isle, Caribou, Van Buren, rồi rẽ sang hướng tây, vẫn trên Quốc lộ 1, đi qua Madawaska, Upper Frenchville, và Fort Kent, rồi đi hướng chính nam trên đường Xa lộ 11 của bang, qua Eagle Lake, Winterville, Portage, Squa Pan, Masardis, Knowles Corner, Patten, Sherman, Grindstone, và đến Millinocket.
Tôi có thể kể ra như thế vì trước mắt tôi có một tấm bản đồ, nhưng những thứ mà tôi nhớ thì chẳng liên quan gì đến những con số, những đường kẻ màu hay những đường vẽ ngoằn ngoèo. Tôi đã liệng tấm bản đồ đó đi như một mẩu bánh mì và sẽ không mắc thói quen dùng đến nó. Điều mà tôi nhớ là những con đường dài trong sương, những trang trại và nhà cửa gồng mình trước mùa đông, cái chất giọng Maine vừa bẹt vừa gọn ở các cửa hiệu ngã tư đường, nơi tôi thường dừng lại để mua thêm đồ dự trữ. Tôi nhớ những con hươu băng ngang đường trên bộ móng lanh lợi và nhảy như có lò xo gắn dưới chân khi Rocinante đi qua. Tôi nhớ những chiếc xe chở cây gầm rú. Và tôi luôn luôn nhớ cái khu vực bát ngát ấy đã từng có nhiều người sống hơn nhiều, vậy mà giờ đây bị bỏ hoang, mặc cho sự lấn át của rừng, thú vật, trại gỗ và cái lạnh. Những thị trấn lớn đang ngày càng lớn hơn còn các làng mạc thì ngày càng nhỏ hơn. Những cửa hàng thôn – dù là hàng thực phẩm hay tạp phẩm, hay ngũ kim, hay quần áo – không cách gì cạnh tranh nổi với các siêu thị và chuỗi cửa hàng. Hình ảnh đầy luyến tiếc và quý giá của chúng ta về những cửa hàng tạp phẩm nông thôn, những cửa hàng mộc mạc nơi mà các tiểu điền chủ thạo tin thường tụ tập để bày tỏ chính kiến và hình thành nên tính cách dân tộc... đã biến mất một cách rất nhanh chóng. Những người từng bảo vệ các pháo đài gia đình chống lại gió và thời tiết, chống lại tai ương, giá rét, hạn hán và những loài côn trùng gây hại, nay co cụm lại trước bầu vú bận rộn của các thành phố lớn.
Người-Mỹ-mới tìm thấy sự thách thức và tình yêu của mình ở những con đường nghẹt thở, ở những khung trời đầy sương khói, ngột ngạt bởi những thứ a-xít mà nền công nghiệp thải ra, ở những tiếng rít của bánh xe và ở những ngôi nhà nằm san sát nhau... trong khi các làng mạc nhỏ thì cứ héo hắt và chết dần chết mòn. Tôi phát hiện ra rằng điều này đúng ở cả Texas lẫn Maine. Clarendon nhường bước cho Amarillo cũng chắc chắn như Stacyville của Maine bị Millinocket hút hết sinh khí. Đó là nơi mà cây cối bị đốn ngã, không khí phảng phất mùi hóa chất, các con sông bị ngạt thở và nhiễm độc, còn các con đường thì nhung nhúc những giống người mới lúc nào cũng sung sướng và hối hả. Tôi không nói điều này với tinh thần phê phán mà xem nó đơn giản chỉ là sự quan sát. Và tôi tin chắc rằng, giống như những quả lắc lắc tới rồi cũng phải lắc lui, sẽ đến lúc nào đó các thành phố phình to này sẽ nứt ra như một chiếc tử cung và rải những đứa con của nó trở về vùng nông thôn. Lời tiên tri này được căn cứ theo khuynh hướng của sự giàu có: sự giàu có đi đến đâu thì cái nghèo đi theo đến đó, hay cố gắng bám theo.
Vài năm trước đây, ở Abercrombie and Fitch, tôi có mua một còi gia súc, một thứ kèn xe hơi điều khiển bằng cần gạt mà khi dùng sẽ nhại theo được mọi cảm xúc của loài bò, từ tiếng kêu ngọt ngào của nàng bò tơ hay mơ mộng đến tiếng gầm của chú bò đực vào thời kỳ sung mãn của đời bò. Tôi có cái thiết bị đó trên Rocinante, và nó rất ư là hiệu nghiệm. Khi nó phát ra âm thanh, mọi con bò trong tầm nghe đều ngóc đầu lên từ đám cỏ và đi về phía tôi.
Trong cái rét căn cắt của một buổi chiều Maine, tôi lê lết trên một con đường rừng đầy ổ gà và chợt thấy bốn nàng nai sừng tấm đang di chuyển một cách trịnh trọng qua mũi xe của tôi. Khi tôi đến gần, chúng chạy rầm rập bằng nước kiệu. Tôi bất giác nhấn vào chiếc cần của còi gia súc và một tiếng rống cất lên như tiếng con bò Miura đực đang lấy đà để vọt lên trong lần tán tỉnh đầu tiên của nó. Các nàng nai đang sắp sửa biến vào rừng thì nghe thấy âm thanh đó và dừng lại, ngoái đầu nhìn. Rồi chúng lao về phía tôi với tốc độ tăng dần và với điều mà, với tôi, giống như là tình yêu trong ánh mắt. Nhưng có đến bốn tình yêu cả thảy, mỗi tình yêu cân nặng dễ đến gần nửa tấn! Mặc dù luôn ủng hộ tình yêu ở dưới mọi dạng thức, tôi vẫn phải đạp ga chuồn gấp khỏi đám tình yêu đó. Tôi nhớ lại câu chuyện của nhà văn Fred Allen vĩ đại. Nhân vật của ông là một người đàn ông Maine đang kể về chuyện săn nai sừng tấm. “Tôi ngồi trên khúc cây, thổi chiếc tù và gọi nai rồi chờ đợi. Bất chợt, tôi cảm thấy có gì đó giống như một chiếc khăn tắm nóng hổi ấp lên cổ và đầu tôi. Thế đây thưa ông, một con nai sừng tấm cái đang liếm láp tôi và trong ánh mắt của nó tôi thấy sự nồng nàn”.
“Thế anh có bắn nó không?” người đối thoại hỏi anh ta.
“Không thưa ông. Tôi chuồn khỏi đó thật lẹ, nhưng thỉnh thoảng tôi vẫn nghĩ ở đâu đó tại Maine có một con nai cái với trái tim tan vỡ”.
Từ Maine mà đi xuống thì cũng xa như khi đi lên, có thể là xa hơn. Tôi có thể và lẽ ra phải đi đến Vườn quốc gia Baxter State, nhưng tôi không làm thế. Tôi đã lang thang quá lâu, trời thì đang trở lạnh và tôi đã bắt đầu nhìn thấy Napoleon ở Moscow và quân Đức ở Stalingrad[9]. Cho nên tôi khôn ngoan rút lui – Brownville Junction, Milo, Dover-Foxcroft, Guilford, Bingham, Skowhegan, Mexico, Rumford, tôi đi vào con đường mà tôi đã từng sử dụng để tới White Mountains. Có thể là tôi yếu đuối, nhưng tôi không muốn rách việc. Các con sông chứa đầy cây gỗ, từ bờ này nối bờ kia suốt hàng dặm. Chúng đang chờ đến phiên mình được đưa tới lò mổ để cống hiến trái tim gỗ của chúng, để giúp các thành trì của nền văn minh chúng ta như các tạp chí Time và Daily News có thể tồn tại và bảo vệ chúng ta khỏi sự thiếu hiểu biết. Các thị trấn công nghiệp, với tất cả sự kính trọng, là những ổ sâu mọt. Bạn ra khỏi miền quê thanh thản và bất chợt bị xô, bị kéo bởi cơn bão giao thông gầm rú. Mất một lúc, bạn chiến đấu để quờ quạng mở đường giữa cái đám điên loạn những khối kim loại xô đẩy nhau, và rồi bất chợt tất cả như lắng xuống và bạn lại đang ở giữa thôn quê thanh thản và yên ắng. Không có ranh giới và không có sự chồng lấn. Nó mang vẻ bí ẩn, nhưng là một bí ẩn tốt đẹp.
Trong khoảng thời gian ngắn từ khi tôi đến đây lần trước, cây ở White Mountains đã thay lá và trở nên tơi tả. Lá đang rơi, cuốn thành những đám mây tối, còn các cây thông trên sườn núi thì phủ đầy tuyết. Tôi lái nhanh và nóng nảy, mặc cho Charley bực bội. Nhiều lần nó nói “Phù” với tôi mà tôi vẫn giả điếc phớt lờ khi băng qua cái hình ngón tay cái giương lên của New Hampshire. Tôi muốn tắm một cái, muốn một cái giường mới, muốn uống gì đó và muốn có một giao tiếp thương mại giữa người và người. Và tôi định sẽ tìm những thứ đó bên bờ sông Connecticut. Quả là rất lạ, khi bạn dựng lên một mục tiêu nào đó, thật khó mà không bám riết theo nó cho dù là nó bất tiện và thậm chí không thích hợp. Đường đi dài hơn là tôi tưởng và tôi đã mệt mỏi lắm rồi. Tuổi tác của tôi lên tiếng khi tôi lưu ý đến đôi vai đau nhức, nhưng tôi đã nhắm đến sông Connecticut và tôi phớt lờ cả sự mệt mỏi, và điều này là cực kỳ dại dột. Trời đã gần tối khi tôi tìm ra cái nơi mong muốn không xa Lancaster, New Hampshire. Con sông rộng rãi và rất đẹp, có cây cối bao quanh, và thảm cỏ ven sông cũng thật là dễ chịu. Gần bờ là thứ mà tôi đang thèm muốn: một dãy những ngôi nhà nhỏ tinh tươm màu trắng tọa lạc trên thảm cỏ xanh chạy ra đến bờ sông, và một văn phòng nhỏ, gọn ghẽ cùng một phòng ăn với tấm biển hướng ra lộ ghi những lời chào đón: “Mở cửa” và “Còn chỗ”. Tôi đánh Rocinante rẽ khỏi mặt đường rồi mở cửa xe để Charley ra ngoài.
Ánh sáng chiều phản chiếu trên các cửa sổ của văn phòng và phòng ăn. Cả cơ thể tôi nhừ tử vì đường sá khi tôi mở cửa bước vào. Chẳng có ma nào ở đó cả. Sổ đăng ký nằm chỏng chơ trên bàn, những chiếc ghế trống không ở trước quầy bán thức ăn, các loại bánh bọc trong màng nhựa, chiếc tủ lạnh kêu o o, vài chiếc đĩa bẩn ngâm nước xà-bông trong bồn rửa bằng inox và một vòi nước nhỏ giọt chậm chạp xuống đó.
Tôi rung chiếc chuông nhỏ trên bàn rồi cất tiếng gọi, “Có ai đó không?” Không có tiếng trả lời, không gì cả. Tôi ngồi xuống ghế chờ người quản lý trở vào. Treo trên tấm bảng là những chìa khóa có đánh số để vào những căn nhà nhỏ màu trắng. Ánh sáng ban ngày đã lụi tàn, bên trong trở nên tối đen. Tôi ra ngoài để gọi Charley về và kiểm tra lại cái ấn tượng của tôi về những từ “Mở cửa”, “Còn chỗ” trên tấm biển. Giờ đây trời đã tối lắm rồi. Tôi mang đèn pin ra, đi tìm trong văn phòng thử xem có tấm giấy nào ghi dòng chữ “sẽ trở lại sau mười phút”, nhưng chẳng thấy gì cả. Tôi thấy mình giống Peeping Tom[10] một cách kỳ lạ. Tôi không thuộc về nơi này. Tôi bèn ra ngoài, đưa Rocinante khỏi lối đi vào khu nhà, cho Charley ăn, pha cà phê và chờ đợi.
Tôi có thể đơn giản lấy đi một chìa khóa, để lại trên bàn một lời nhắn nói rằng tôi đã làm như vậy, rồi tôi mở cửa một trong những căn nhà nhỏ. Nhưng làm vậy là không phải, tôi không thể làm vậy được. Trên xa lộ có vài chiếc xe chạy ngang và băng qua cây cầu, nhưng chẳng chiếc nào rẽ vào đây. Các cửa sổ văn phòng và lưới sắt của chúng ánh lên dưới đèn pha của những chiếc xe đến gần, để rồi lại chìm vào bóng tối. Tôi đã lên kế hoạch phải ăn một bữa tối nhẹ rồi lăn đùng ra giường đánh một giấc thật đã. Tôi dọn giường, chợt nhận ra mình cũng chẳng đói lắm. Rồi tôi nằm xuống. Nhưng giấc ngủ không đến với tôi. Tôi nghe ngóng người quản lý có trở lại hay không. Cuối cùng, tôi thắp chiếc đèn măng-sông đốt gas và thử đọc sách, nhưng do cứ nghe ngóng nên không sao tập trung được. Cuối cùng, tôi lơ mơ ngủ, choàng dậy trong bóng tối, nhìn ra ngoài – không có gì cả, không có ai. Giấc ngủ ngắn của tôi đầy trằn trọc và khó khăn.
Đến rạng sáng tôi thức dậy chuẩn bị một bữa sáng lâu lắc, chậm chạp, tiêu tốn thời gian. Mặt trời ló dạng, hiện lên bên cửa sổ. Tôi dẫn Charley đi dạo dọc bờ sông rồi quay về, thậm chí còn cạo râu và tắm táp trong chiếc chậu. Giờ thì mặt trời đã lên cao hẳn. Tôi đi đến văn phòng và bước vào. Chiếc tủ lạnh vẫn chạy o o. Chiếc vòi vẫn nhỏ chậm rãi xuống bồn nước xà-bông. Một con ruồi béo mới nở, cặp cánh nặng trĩu, đang cáu kỉnh bò trên tấm màng nhựa bọc bánh. Đến chín giờ rưỡi, tôi lái xe đi mà vẫn không thấy ai tới, không có gì chuyển động. Các tấm biển vẫn ghi là “Mở cửa” và “Còn trống”. Tôi lái xe băng qua cây cầu sắt, làm khua rầm rĩ những tấm lót bằng thép. Cái nơi trống vắng kia làm tôi rất phiền não, và mỗi lần nghĩ đến nó thì cảm giác này lại trỗi dậy.
Trong những hành trình dài, sự ngờ vực luôn đồng hành cùng tôi. Tôi luôn thấy ngưỡng mộ những phóng viên khi họ đổ bộ xuống một khu vực, nói chuyện với những người then chốt, nêu ra những câu hỏi chính yếu, lấy các mẫu ý kiến, rồi lập ra một bài phóng sự ngăn nắp, vốn rất giống như một tấm bản đồ đi đường. Tôi ghen tỵ với kỹ thuật của họ, nhưng đồng thời vẫn không tin rằng họ phản ánh đúng thực tế. Tôi cảm thấy thực tế quá phong phú. Thứ mà tôi viết ra ở đây chỉ đúng đến khi nào có ai đó đi qua cùng con đường và dàn xếp lại thế giới theo phong cách riêng của chính họ. Trong phê bình văn học, người phê bình chỉ có một lựa chọn là biến nạn nhân được họ chú ý thành thứ gì đó cùng kích cỡ và hình thù với chính họ.
Và trong cuốn sách này, tôi sẽ không đánh lừa bản thân bằng ý nghĩ rằng tôi đang ghi lại những thứ bất biến. Cách đây rất lâu, tôi đã đến thành phố cổ Prague[11] và cùng lúc đó Joseph Alsop, nhà viết phê bình nổi tiếng về các nơi chốn và sự kiện, cũng có mặt ở đấy. Ông ta diễn thuyết để huấn thị cho cử tọa, các viên chức, các vị đại sứ. Ông ta đọc các báo cáo, thậm chí cả những chữ và số in nhỏ, trong khi tôi, với cung cách bệ rạc của mình, đi lang thang theo chân các nghệ sĩ, những người du mục, những kẻ lêu lổng. Joe và tôi trở về Mỹ trên cùng một chuyến bay, và trên đường về ông ta kể tôi nghe về Prague. Prague của ông không hề liên can gì đến cái thành phố mà tôi vừa thấy và nghe. Nó đơn giản không là cùng một nơi, thế mà cả hai chúng tôi đều là người chân thật, không ai nói dối cả, cả hai đều là người quan sát giỏi theo mọi chuẩn mực... Và chúng tôi đã đem về nhà hai thành phố khác nhau, hai sự thực khác nhau. Vì lý do đó tôi không thể bình luận về câu chuyện này như về một nước Mỹ mà bạn sẽ tìm thấy. Có quá nhiều thứ để nhìn, nhưng con mắt buổi sáng sẽ định hình một thế giới rất khác với con mắt buổi chiều, và chắc chắn là con mắt rã rời của chúng ta vào buổi tối sẽ chỉ có thể định ra một thế giới ban đêm rã rời.
Sáng Chủ nhật ở thành phố Vermont, ngày cuối cùng của tôi ở New England, tôi cạo râu, đóng bộ vào, đánh bóng đôi giày, và tìm kiếm một nhà thờ để đi lễ. Tôi đã bỏ qua nhiều nhà thờ vì những lý do mà giờ đây tôi không nhớ, nhưng khi vừa nhìn thấy nhà thờ John Knox, tôi liền tạt vào một con đường bên hông, đậu Rocinante ở một nơi khuất, dặn dò Charley trông chừng nó, rồi đạo mạo bước đến ngôi nhà thờ ốp ván trắng đến lóa mắt. Tôi chọn chỗ ngồi ở phía sau của cái nơi thờ phụng bóng loáng và không tì vết này. Những bài kinh cầu nguyện rất phù hợp, lôi kéo được sự chú ý của Thượng đế đến một vài sự yếu đuối và xu hướng thiếu thánh thiện mà tôi biết là mình có và, chỉ là giả định, những người tụ tập ở đây cũng có.
Buổi lễ đã đem đến vài điều tốt đẹp cho trái tim tôi, và hy vọng là cả tâm hồn tôi nữa. Đã lâu lắm rồi tôi không nghe một cách tiếp cận như thế. Thói quen của chúng ta ngày nay, ít ra tại các thành phố lớn, là đi tìm sự xưng tội tâm lý, theo đó những tội lỗi của ta không thực sự là tội lỗi mà chỉ là những tai nạn gây ra bởi các thế lực vượt ngoài tầm kiểm soát của chúng ta. Trong ngôi nhà thờ này thì không có sự vớ vẩn như thế. Vị mục sư, một con người gang thép với đôi mắt thép và cách nói giống như một chiếc khoan khí nén. Ông ta mở đầu bài kinh cầu nguyện của mình bằng lời trấn an rằng chúng tôi là một lũ người đáng thương. Mà ông ta nói đúng. Chả quan trọng là chúng ta bắt đầu như thế nào, chính do những nỗ lực màu mè của mình mà từ đấy chúng ta sa ngã. Rồi, sau khi đã làm cho chúng tôi nhũn như chi chi, ông ta bắt tay vào bài thuyết giáo hoành tráng, một bài thuyết giáo về sự trừng phạt vĩnh hằng trong địa ngục. Sau khi chứng minh rằng chúng tôi, hay có lẽ chỉ một mình tôi, chẳng tốt đẹp quái gì, ông ta vẽ lên với một sự lạnh lùng chắc chắn điều gì có khả năng sẽ xảy đến với chúng tôi nếu như chúng tôi không thực hiện vài sự tái tổ chức cơ bản mà ngay cả khi đó ông ta cũng chẳng ban cho chúng tôi chút ít hy vọng nào. Ông nói về địa ngục cứ như một chuyên gia. Không phải là thứ địa ngục lãng mạn của những ngày hậu thế, mà là thứ địa ngục đun nóng – nấu kỹ, xúc tiến bởi các kỹ thuật gia của diêm vương. Con người của Chúa này đã dẫn dắt tới mức độ làm chúng tôi có thể thấu hiểu được: một ngọn lửa than bừng cháy, gió được quạt vào dư dả, và nguyên một đội những quỷ sứ lò cao toàn tâm toàn ý với công việc, và đối tượng của công việc ấy chính là tôi.
Tôi bắt đầu cảm thấy cực kỳ dễ chịu. Những năm gần đây, Chúa đã trở thành một người bạn thân của chúng ta, rao giảng về cảm giác thống nhất, và điều đó đã tạo ra một sự trống rỗng giống như khi người cha chơi bóng với con trai. Nhưng vị Thánh Vermont này đã quá quan tâm đến tôi đến nỗi đã gặp nhiều rắc rối khi xua đuổi địa ngục ra khỏi tôi. Ông ta đã nâng những tội lỗi của tôi lên một viễn cảnh mới. Cho dù chúng là nhỏ bé, là trung bình hay tệ hại và tốt nhất nên quên đi, vị mục sư đã đem đến cho chúng một tầm cỡ, một sự sung mãn, một chân giá trị. Nhiều năm rồi tôi không nghĩ nhiều lắm về bản thân mình, nhưng nếu những tội lỗi của tôi có được tầm cỡ ấy thì quả là cũng có cái để tự hào. Tôi chưa từng là một cậu bé hư nhưng là một gã tội lỗi xếp hạng đầu, và tôi lại còn đang tăng hạng nữa chứ.
Tôi cảm thấy tinh thần mình phấn chấn đến mức đã bỏ năm đô-la vào chiếc đĩa, và sau đó, trước cổng nhà thờ, tôi nồng nhiệt bắt tay ông mục sư và tất cả những người nào có thể trong giáo đoàn. Điều đó tạo cho tôi cái cảm giác đáng yêu là đang làm việc xấu, và đến tận thứ Ba cảm giác này mới kết thúc hoàn toàn. Tôi thậm chí còn suy nghĩ có nên đánh Charley hay không, để cả nó cũng được hưởng đôi chút thỏa mãn. Bởi Charley cũng chỉ kém tội lỗi hơn tôi một chút thôi. Trên những chặng đường khắp đất nước, tôi đều ghé nhà thờ vào ngày Chủ nhật. Mỗi tuần là một trường phái giáo lý khác nhau, nhưng không nơi đâu tôi tìm được cái chất lượng như của vị mục sư ở Vermont. Ông ta đã hun đúc một tôn giáo sinh ra để trường tồn, chứ không tạo ra sự lỗi thời được giản lược cho dễ hiểu.
Tôi vào đến bang New York tại Rouses Point và cố ở càng gần hồ Ontario càng tốt, vì tôi dự định sẽ đến thăm thác Niagara – tôi chưa từng đến đó – rồi luồn sang Canada, đoạn từ Hamilson đến Windson, bỏ lại hồ Erie ở phía nam, rồi xuất hiện trở lại ở Detroit – một kiểu đi tắt, một thắng lợi nho nhỏ về mặt địa lý. Dĩ nhiên, chúng ta ai cũng biết rằng mỗi bang của chúng ta đều là cá biệt và tự hào về điều đó. Không hài lòng chỉ với cái tên riêng của mình, các bang thường gắn cho mình những danh hiệu mang tính mô tả: Empire State[12], Garden State[13], Granite State[14]. Những danh hiệu đó được gắn vào một cách kiêu hãnh và hiếm khi được nói giảm. Nhưng giờ đây lần đầu tiên tôi nhận ra rằng mỗi bang còn có phong cách văn xuôi riêng của nó, mà bằng chứng rõ nét là qua những tấm biển báo trên xa lộ. Chỉ cần vượt qua biên giới giữa các bang là ta nhận ra ngay sự thay đổi ngôn ngữ. Các bang New England sử dụng một dạng chỉ dẫn rất súc tích,một phong cách vắn tắt, kiềm chế, không lãng phí một từ một chữ nào. Bang New York thì suốt ngày quát tháo vào mặt bạn. Làm thế này. Làm thế kia. Ôm tay trái. Ôm tay phải. Cứ vài dặm lại là một mệnh lệnh rất đế chế. Ở Ohio, các biển hiệu nghe hiền hòa hơn. Chúng đưa ra những lời khuyên thân thiện, gần với một lời gợi ý. Một số bang sử dụng phong cách khoa trương khiến bạn rất dễ dàng đi lạc. Có những bang nói cho bạn biết bạn có thể kỳ vọng thấy gì trong các điều kiện đường sá ở phía trước, nhưng một số bang khác lại để bạn tự mình khám phá ra. Hầu hết các bang đều bỏ trạng từ, dùng tính từ. Lái chậm. Lái an toàn.
Tôi là người say mê đọc những tấm biển, và tôi đã phát hiện trong các tấm biển lịch sử những áng văn ca ngợi tinh thần của bang, đạt đến đỉnh cao vinh quang và đỉnh cao trữ tình. Sau này tôi đã rất hài lòng khi xác định được rằng những bang nào có lịch sử ngắn ngủi nhất và có ít sự kiện làm chấn động thế giới nhất thì lại có nhiều tấm biển lịch sử nhất. Một số bang miền Tây thậm chí còn tìm thấy vinh quang ở những kẻ sát nhân đã bị lãng quên và những tay cướp ngân hàng. Những thị trấn không muốn lãng quên đã tìm cách vinh danh những đứa con nổi tiếng của mình, nhờ đó mà khách du lịch đã được hiểu dụ bằng các tấm biển và biểu ngữ đại loại như: Nơi sinh của Elvis Presley, của Cole Porter, của Alan P. Huggins.
Chuyện đó dĩ nhiên chẳng có gì mới mẻ. Tôi nhớ là các thành phố nhỏ thời Hy Lạp cổ đại vẫn tranh cãi gay gắt với nhau đâu mới chính là nơi sinh của Homer[15]. Theo trí nhớ của tôi thì cả một cộng đồng phẫn nộ đã đòi bắt Red Lewis[16] về quê nhà để trát hắc ín, gắn lông gà chỉ vì ông đã viết cuốn Main Street. Và ngày nay thì chính Sauk Centre đã tự vinh danh mình vì đã sản sinh ra Lewis. Với tư cách một dân tộc, chúng ta luôn đói khát lịch sử giống như nước Anh khi mà Geoffrey xứ Monmouth[17] đã dựng đứng lên câu chuyện lịch sử về các vì vua Anh. Nhiều vị vua trong số này đã được ông sáng chế ra để phục vụ cho nhu cầu đang tăng cao. Còn với tư cách các bang và các cộng đồng, cũng như với tư cách cá nhân người Mỹ thì cơn đói khát này là nhằm tạo ra sự liên kết đoan chính với quá khứ. Các nhà phả hệ học đã bới tìm cả trong những mảnh vụn của tổ tiên để lục ra những hạt giống của sự vĩ đại. Không lâu trước đây, người ta đã chứng minh rằng Dwight D. Eisenhower[18] là hậu duệ của một nhánh hoàng tộc Anh, một bằng chứng nếu như cần thiết ai đó phải là hậu duệ của ai đó. Cho nên cái thị trấn nhỏ nơi tôi sinh ra, mà theo trí nhớ của ông ngoại tôi đã xuất phát từ một tiệm rèn nằm giữa một đầm lầy, đang tổ chức những hội hè linh đình hàng năm để tưởng niệm cái quá khứ vinh quang của các quý tộc Tây Ban Nha và các công nương ăn hoa hồng. Trong khi đó, ký ức của công chúng đã xóa đi những bộ lạc da đỏ nhỏ sống cách biệt, ăn sâu bọ và châu chấu vốn là những người định cư đầu tiên thực thụ của chúng ta.
Tôi thấy điều này thật thú vị, nhưng nó khiến ta đặt nghi vấn liệu lịch sử có còn là sự ghi nhận lại thực tế hay không. Tôi nghĩ những điều này trong khi đang đọc các tấm biển lịch sử khắp đất nước. Tôi nghĩ huyền thoại quả đã xua tan thực tế. Ở một mức độ rất thấp, điều kế tiếp là quy trình của một huyền thoại. Khi thăm lại cái thị trấn nơi tôi sinh ra, tôi đã nói chuyện với một ông lão rất già từng biết tôi lúc còn bé. Ông ta nhớ như in đã từng thấy tôi, một cậu bé tóc chỏm, đang lẩy bẩy bước đi qua ngôi nhà của ông vào một sáng giá lạnh, chiếc áo khoác ngoài thùng thình được thắt lại nơi bộ ngực nhỏ bé bằng kim gài áo ngựa. Ở chừng mực nho nhỏ nào đó, đấy chính là hiện thân của huyền thoại: một cậu bé nghèo khổ vươn lên đến vinh quang, dù dĩ nhiên là chỉ ở quy mô giới hạn. Mặc dù vậy, tôi vẫn không tài nào nhớ ra giai thoại này. Tôi biết nó không thể là sự thật. Mẹ tôi vốn có sự đam mê trong việc khâu những chiếc nút. Với bà, một chiếc nút bị bung ra còn tệ hại hơn cả sự luộm thuộm. Đó là một tội lỗi. Tôi mà lấy kim đính chiếc áo khoác của mình thì mẹ sẽ mắng tôi té tát. Câu chuyện đó không thể là sự thật, nhưng ông già kia thích nó quá nên tôi không thể nào thuyết phục được ông là nó sai, vì vậy tôi cũng không cố thử. Nếu thị trấn quê tôi muốn tôi dùng kim gài áo ngựa thì không gì có thể thay đổi câu chuyện đó, kể cả sự thật.
Trời đổ mưa ở bang New York, Bang Đế chế. Mưa lạnh và không thương xót, như cách mà người chuyên viết về những tấm biển xa lộ sẽ mô tả. Quả thật cơn trút nước buồn thảm đã làm cho cuộc viếng thăm dự kiến của tôi đến thác Niagara có vẻ như không còn cần thiết nữa. Do đó mà tôi đi lạc một cách vô vọng trên những con đường của một thị trấn nhỏ nhưng kéo dài bất tận, nằm đâu đó gần Medina, tôi nghĩ vậy. Tôi nép xe vào lề đường, lấy ra cuốn bản đồ đường sá. Nhưng để biết mình đang đi đâu, bạn cần phải biết mình ở đâu trước đã, mà tôi thì chẳng biết mô tê gì. Các cửa sổ xe đều đóng chặt và đục ngầu bởi nước mưa. Chiếc đài trên xe đang phát ra những âm thanh êm dịu. Bất chợt, có tiếng gõ vào cửa sổ, một người đàn ông vặn cửa mở ra rồi trườn vào chiếc ghế cạnh tôi. Ông này có khuôn mặt đỏ nhừ, hơi thở nồng nặc mùi whisky. Quần ông ta được kéo lên bởi những sợi dây đeo màu đỏ, trùm qua chiếc áo lót màu xám phủ kín cổ.
“Tắt cái của nợ đó đi”, ông ta nói, rồi tự tay tắt chiếc đài của tôi. “Con gái tôi thấy ông qua cửa sổ”, ông ta nói tiếp. “Nó nghĩ là ông gặp rắc rối”. Ông ta nhìn những bản đồ của tôi. “Liệng béng mấy thứ này đi. Nói xem, ông muốn đi đâu?”
Tôi không hiểu vì lý do gì một người đàn ông lại không thể trả lời một câu hỏi như thế bằng sự thật. Sự thật là tôi đã rời khỏi xa lộ lớn số 104 và đi vào những con đường nhỏ hơn vì có quá đông xe và những chiếc xe đi qua làm bắn hàng đống nước lên tấm kính chắn gió của tôi. Tôi muốn đến thác Niagara. Cớ sao tôi không thể thú nhận điều đó? Tôi nhìn xuống bản đồ và nói, “Tôi muốn đến Erie, Pensylvania”.
“Tốt”, ông ta nói. “Giờ thì liệng mấy cái bản đồ đó đi. Ông vòng xe lại, qua hai cái đèn giao thông thì đến đường Egg Street. Đến đó thì rẽ trái, rồi đi chừng hai trăm mét trên đường Egg thì gặp một góc cua và rẽ sang tay mặt. Con đường đó khá ngoằn ngoèo, nó dẫn tới một cầu vượt, nhưng đừng đi lối đó. Đến đó ông rẽ trái và đánh vòng như thế này này, hiểu chưa? Như thế này”. Tay ông ta vẽ ra một đường cong. “Bây giờ, khi đường vòng thẳng ra thì ông sẽ đến ba nhánh đường. Có một căn nhà lớn màu đỏ ở nhánh bên tay trái, ông đừng đi lối đó. Đi theo nhánh bên tay mặt ấy. Ông hiểu ra chưa nào?”
“Tất nhiên”, tôi nói. “Dễ thôi mà”.
“Thế thì lặp lại thử, để tôi xem ông có đi đúng đường không”.
Tôi đã thôi lắng nghe kể từ đoạn đường vòng. Tôi bèn nói, “Hay là ông lặp lại lần nữa có được không?”
“Tôi cũng nghĩ vậy. Vòng xe lại đi qua hai đèn giao thông ra đến đường Egg Street, rồi rẽ trái đi hai trăm mét thì rẽ mặt ở góc cua trên con đường ngoằn ngoèo cho đến khi ông ra đến cầu vượt, nhưng đừng đi lối đó”.
“Tôi rõ cả rồi”, tôi nói nhanh. “Cảm ơn ông đã chỉ đường”.
“Chết tiệt”, ông ta nói, “Tôi còn chưa đưa ông ra khỏi thị trấn nữa mà”.
Thế đấy, ông ta định đưa tôi ra khỏi thị trấn bằng một lộ trình mà nếu tôi nhớ nổi, chứ chưa nói là theo nổi, thì Mê cung ở Knossos[19] cũng sẽ chỉ giống như một con đường thông suốt mà thôi. Khi rốt cuộc đã hài lòng vì được cảm ơn, ông ta bước ra và đóng sầm cửa lại. Nhưng vì sự nhút nhát trong giao tiếp xã hội mà tôi đã vòng lại thật, biết rằng ông ta sẽ canh chừng tôi qua cửa sổ. Tôi lái xe qua khoảng hai khu đất rồi lọ mọ trở về với cái xa lộ 104 kia, bất kể nó có đông xe hay không.
❀ ❀ ❀
[1] Nhà thám hiểm người Mỹ Robert Edward Peary.
[2] Một dân tộc ở Bắc Phi từng tiến hành nhiều cuộc chiến xâm lược khoảng thế kỷ thứ 7 trước Công nguyên. Danh tướng Hannibal từng tấn công vào bán đảo Ý, đe dọa đế chế La Mã.
[3] Uyển ngữ của “By God”, tức “Nhân danh Chúa”.
[4] Tiếng Pháp, có nghĩa là “Thế là xong!”
[5] Nhà lưu động.
[6] Tiếng Pháp giả cầy, có nghĩa “Thưa các ông các bà. Tôi xin đem đến cho quý vị một kỷ niệm đẹp về nước Pháp – đặc biệt là vùng Charente”.
[7] Chúc sức khỏe.
[8] Con của nước Pháp, Chết vì tổ quốc.
[9] Napoleon thất bại ở Moscow và quân Đức thất bại ở Stalingrad đều một phần vì cái lạnh.
[10] Một biệt danh ám chỉ người nhòm lén qua lỗ khóa. Nó xuất phát từ một huyền thoại về nàng Godiva, theo đó một người đàn ông tên Tom ngắm lén nàng khỏa thân, kết cục là bị mù và chết.
[11] Thành phố cổ kính ở Đông Âu, nay là thủ đô của Cộng hòa Séc.
[12] Chỉ bang New York. Empire: Đế chế.
[13] Chỉ bang New Jersey. Garden: Vườn.
[14] Chỉ bang New Hampshire. Granite: đá gra-nít.
[15] Nhà văn Hy Lạp cổ đại, tác giả của các trường ca Iliad và Odyssey.
[16] Nhà văn Mỹ.
[17] Thầy tu và người viết sử biên niên, người được cho là đã dựng lên câu chuyện về vua Arthur của nước Anh.
[18] Tổng thống thứ 34 của Mỹ giai đoạn từ 1953 đến 1961.
[19] Thành phố trên đảo Crete – đảo lớn nhất của Hy Lạp – nơi có một cung điện cổ với những hành lang như mê cung.