Trong lịch sử văn học Mỹ, hiếm thấy tác giả nào có những suy nghĩ kiên định về bản chất và số phận tổ quốc mình như John Steinbeck. Như Walt Whitman từng nói trong phần giới thiệu của ông cho tập thơ Lá cỏ,[1] “Nước Mỹ về cơ bản là một bài thơ vĩ đại nhất”. Steinbeck dĩ nhiên đã tin vào điều này. Trong nhiều cuốn sách, bắt đầu bằng tuyển tập truyện đầu tiên Những cánh đồng của thiên đường (1932),[2] ông đã làm nổi bật một hình ảnh đáng nhớ về đồng bào của mình trong môi trường sống tự nhiên của họ.
Tác giả hiển nhiên là một người viết tiểu thuyết nổi tiếng. Những cuốn tiểu thuyết như Thị trấn Tortilla Flat (1935),[3] Trong trận chiến mơ hồ (1936)[4], Về Chuột và người (1937), [5] Chùm nho phẫn nộ (1939),[6] Phố Cannery Row (1945),[7] Phía đông vườn địa đàng (1952),[8] và Mùa đông bất mãn (1961)[9] đã trở thành một phần của ký ức tập thể lâu nay của nước Mỹ. Khởi đầu từ những phiên bản điện ảnh quy mô lớn dựa trên tiểu thuyết của Steinbeck vào đầu thập kỷ 1930 – như bộ phim kinh điển Chùm nho phẫn nộ của đạo diễn John Ford – một loạt phiên bản nhạc kịch khác đã xuất hiện, bao gồm một vở diễn Broadway của Rodgers và Hammerstein với cái tên Ống sáo trong mơ,[10] vốn dựa trên tác phẩm Ngày thứ năm ngọt ngào (1954),[11] tiểu thuyết cuối cùng của Steinbeck với bối cảnh Monterey.
Vào thời điểm Steinbeck nhận được giải Nobel văn học vào năm 1962, chỉ có năm người Mỹ từng có được vinh dự này. Trong lễ nhận giải ở Stockholm, ông đã đọc một bài diễn văn đầy nhiệt huyết, trong đó ông phát biểu như sau: “Nhiệm vụ cổ xưa của các tác giả vẫn không thay đổi. Mỗi tác giả đều có nghĩa vụ vạch trần những lỗi lầm và thất bại đau buồn của chúng ta, lôi ra ánh sáng những giấc mơ đen tối và nguy hiểm với mục đích hướng đến sự cải thiện”. Từ khi bắt đầu sự nghiệp viết tiểu thuyết, ông đã chấp nhận nghĩa vụ này một cách không do dự. Ông vạch trần những lỗi lầm và thất bại nguy hiểm của một quốc gia trong khi vẫn tôn vinh những phẩm chất tốt đẹp và cao quý nơi những công dân của nó.
Điều này cũng đúng khi nói đến các tác phẩm phi tiểu thuyết của ông, mặc dù các tác phẩm thuộc lĩnh vực này của Steinbeck rất ít được quan tâm. Trên thực tế, ông viết rất hay trong lĩnh vực này, và thường là với cùng một nhiệt huyết cho công lý xã hội mà ông vẫn đưa vào các tác phẩm tiểu thuyết của mình. Thật vậy, tác phẩm Chùm nho phẫn nộ – chắc chắn là tác phẩm được ngưỡng mộ rộng rãi nhất của ông – vốn được bắt đầu bằng một loạt các bản phác thảo đăng trên tờ San Francisco News. Steinbeck đã đi thực tế với một cuốn sổ để ghi nhận hoàn cảnh sống của những người lao động nhập cư ở những khu bụi bặm miền Tây Nam. Hàng ngàn người dân nhập cư đã đến California với ước mơ một cuộc sống tốt đẹp hơn, nhưng rồi chỉ thấy bản thân họ bị bỏ rơi trong những trại tập thể dơ bẩn và chật chội, bị khinh rẻ bởi người dân bản xứ.
Lối kể đầy cuốn hút của Steinbeck về cuộc sống của một ngôi làng Mexico qua cuốn sách xuất bản năm 1941 với tựa đề Ngôi làng bị lãng quên[12] (dựa trên một bộ phim tài liệu cùng tên mà Steinbeck viết kịch bản và sản xuất) đã tạo tiền đề cho tác phẩm sau này của ông Hòn ngọc trai (1947). Vô số những bài tiểu luận du hành và những bài góp ý của ông đã xuất hiện xuyên suốt các thập niên trên các tạp chí định kỳ như The Saturday Review và Newsday.
Từ trẻ, Steinbeck đã thích chu du. Ở tuổi hai mươi (khi ông tạm thời bỏ học trường Stanford vì điểm kém), ông đã suy nghĩ đến việc vượt Thái Bình Dương trên thuyền chở hàng giống như Jack London, thần tượng của ông. Kế hoạch viển vông này đã không đi đến đâu. Nhưng ba năm sau, tức vào năm 1925, khi ông rời trường Stanford mà chưa có bằng đại học, ông đã lên một chiếc tàu hàng băng qua kênh đào Panama đến thành phố New York. Người vợ thứ ba của ông, Elaine Steinbeck, cho biết: “John đáng lý đã đến Paris, như Hemingway và Fitzgerald, nhưng anh không có tiền để làm chuyện đó”.
Trong thập niên kế tiếp, Steinbeck làm việc ở các công trường. Ông làm mộc và nhận một số việc vặt ở bất cứ nơi nào ông tìm được việc. Phần lớn thời gian, ông sống ở miền Trung Califorina, gần Salinas – nơi ông được sinh ra năm 1902 và lớn lên trong một gia đình trung lưu. Dần dần, ông kiếm được một nguồn thu nhập từ viết lách nhờ xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên Chiếc tách vàng[13] vào 1929 và đăng hàng loạt truyện khác nhau trên những tạp chí có tiếng toàn quốc như Collier’s và The Saturday Evening Post. Nhưng chỉ đến khi Thị trấn Tortilla Flat, tác phẩm thứ tư của ông, thu hút được một lượng độc giả đáng kể và được Hollywood mua, ông mới bắt đầu kiếm được một số tiền đáng kể, đủ để chi trả cho các chuyến du hành đến bất cứ nơi nào ông muốn.
Người ta thường gắn Steinbeck với Monterey và thung lũng Salinas – những bối cảnh xanh tươi cho hầu hết các cuốn tiểu thuyết và truyện của ông. Dù vậy, trên thực tế, trong nửa cuối đời mình, ông sống chủ yếu tại thành phố New York và thường xuyên đi nước ngoài. Những địa điểm ưa thích của ông bao gồm Mexico, Pháp và Anh. Những ghi chép về các chuyến du hành của tác giả có thể được tìm thấy trong tác phẩm Biển Cortez (1941),[14] vốn là một câu chuyện ấn tượng về cuộc hành trình của ông trên con tàu đi dọc bờ biển Nam California đến Mexico.
Trong cuốn Nhật ký nước Nga (1948),[15] ông cũng mô tả một chuyến du hành sâu vào lòng Liên bang Xô Viết với nhà nhiếp ảnh Robert Capa.
Tôi, Charley và hành trình nước Mỹ được xuất bản năm 1962. Đó là tác phẩm cuối, và trên một số phương diện, cũng là tác phẩm mà Steinbeck hài lòng nhất trong số các ghi chép du hành của ông. Tác phẩm này tập hợp được một bức tranh phức tạp về nước Mỹ vào giai đoạn đầu của một thập kỷ đầy thăng trầm. Đây là tác phẩm của một nhà văn già dặn, đang trong giai đoạn cuối của một sự nghiệp văn chương dài. Nó cũng là bản điếu văn cho một thế giới đã mất của tác giả. Ngoài ra, tác phẩm còn là một cuốn nhật ký thú vị, một bức tự họa của một người vốn không mấy hào hứng với việc viết tự truyện.
Đến năm 1960, Steinbeck ngày càng trở nên thất vọng về tổ quốc mình; Ông cho rằng chủ nghĩa tiêu thụ và vị kỷ đã trở nên phổ biến và đang phá hủy những giá trị cộng đồng mà ông cho là vô cùng quan trọng đối với chuẩn mực đạo đức của tổ quốc mình. Trong lá thư gửi cho Adlai Stevenson (người đã hai lần thất bại trong tranh cử tổng thống và điều đó khiến Steinbeck cảm thấy vỡ mộng), ông đã than phiền về “sự vô đạo đức đáng ngờ” của nước Mỹ. “Vì quá giàu có về VẬT CHẤT”, ông nói “[người Mỹ] đang bỏ thời gian và tiền bạc ra ngồi trên ghế sa lông mà tìm kiếm một tâm hồn. Chúng ta thật là một giống loài kỳ lạ. Chúng ta có thể chịu đựng được mọi thứ Chúa và thảm họa Tự nhiên giáng xuống đầu, nhưng lại không chống chọi nổi sự dư thừa. Nếu tôi muốn tàn phá một quốc gia, tôi sẽ cho quốc gia đó sự thừa thãi, và quốc gia đó sẽ phải quỳ xuống trong khốn khổ, tham lam và bệnh hoạn”.
Vào năm 1960, ông đã hoàn thành cuốn tiểu thuyết cuối cùng của mình, Mùa đông bất mãn. Một thời gian đáng kể trong thập kỷ cuối đời mình, tác giả đã sống ở nước ngoài, tại Anh và Pháp. Ông cảm thấy như mình mất liên lạc với nước Mỹ và người Mỹ. Trong một lá thư gửi người bạn thân Frank Loesser, tác giả viết:
Vào mùa thu – ngay sau ngày lễ Lao động – tôi sẽ đi tìm hiểu về chính đất nước tôi. Tôi đã đánh mất các hương vị, âm thanh và cảm nhận về nó. Tôi đã không thấy đất nước mình nhiều năm nay. Bởi vậy! Tôi sẽ mua một chiếc xe bán tải với một căn hộ nhỏ gắn trên xe, tương tự như cabin của những du thuyền nhỏ, với giường, bếp, bàn làm việc, thùng đá, phòng vệ sinh – không phải là xe rơ-moóc, mà gần như xe khách. Tôi sẽ đi một mình, hướng về phía đông qua con đường phía bắc, nhưng sẽ đi lòng vòng qua vùng Trung Tây và các bang miền núi. Tôi sẽ tránh những thành phố, và chỉ đi qua những thị trấn nhỏ, các nông trại và trại chăn nuôi. Ở đó, tôi sẽ ngồi trong các quán bar, các quầy hamburger, và sẽ đi lễ nhà thờ mỗi Chủ nhật. Tôi sẽ đi dọc theo bờ biển [Bờ Tây] xuống phía nam từ bang Washington và Oregon, và sẽ đi xuyên qua vùng Tây Nam và miền Nam để quay trở lại Bờ Đông, nhưng luôn bằng đường vòng. Elaine thỉnh thoảng sẽ đi chung với tôi, nhưng tôi sẽ chủ yếu đi một mình, như một kẻ vô danh. Tôi chỉ muốn quan sát và lắng nghe. Tôi rất cần những trải nghiệm đó – một cuộc khám phá lại đất nước của tôi – cũng như các cách nói chuyện, góc nhìn, những thái độ. Đáng lý ra tôi đã phải làm điều này từ lâu rồi – lâu lắm rồi.
Một phần sự cuốn hút mà cuốn tiểu thuyết giá trị nhất này của Steinbeck tạo ra là từ cảm giác gần gũi của tác giả đối với các cảnh quan thiên nhiên và nhân tạo, cũng như với các nhóm người thiết yếu cho các bối cảnh đó. Thực vậy, nhiều nhà phê bình đã cho rằng sức sáng tạo của Steinbeck đã giảm sút phần nào đó sau những năm 1930, và việc ông không còn sống California có liên quan đến sự suy nhược này. “Steinbeck đáng lý ra không nên rời khỏi California”, bạn ông Elia Kazan đã nhận xét một vài năm sau khi ông mất. “Nơi đó là nguồn cảm hứng của anh ấy”.
Chính Steinbeck cũng cảm thấy mối liên hệ với vùng đất và con người là rất quan trong đối với một nhà văn như ông. Ông muốn chiêm ngưỡng phong cảnh tự nhiên, lắng nghe tiếng nói của những người đàn ông và đàn bà giản dị trong lúc họ làm việc và giải trí. Những trải nghiệm này là nguồn cảm hứng cho trí tưởng tượng của ông. Và khi thiếu chúng, ông cảm thấy bị trừu tượng hóa, bị cô lập, và trở nên nghèo nàn. Sau khi hoàn thành tác phẩm cuối của mình, Steinbeck rất cần được nghỉ dưỡng. Như Elaine Steinbeck đã nói: “Chuyến đi xuyên Mỹ chỉ đơn giản là một điều mà John phải làm. Và anh ấy phải làm điều đó một mình. Anh ấy muốn tự chứng minh mình không phải là một ông già, mình vẫn kiểm soát được cuộc đời, vẫn lèo lái được bản thân, và một lần nữa tìm hiểu được mọi thứ”.
Việc cho phép chồng thực hiện chuyến du hành như thế là rất khó khăn đối với Elaine. Không lâu trước đó, bà đã chứng kiến Steinbeck ngất xỉu ở Ý và Pháp. Ông cũng đã mắc một số căn bệnh mà sau này được nhìn nhận là những cơn đột quỵ nhẹ. Các ngón tay của ông bị tê dại và ông gặp khó khăn trong việc cầm nắm đồ vật; phát âm cũng không được mạch lạc nữa. Sức khỏe ổn định, vốn là một phần đặc điểm tuổi trung niên của ông, đã dần phôi pha, dù ông chỉ mới 58 tuổi vào năm 1960.
Steinbeck đã chuẩn bị rất kỹ cho cuộc hành trình của mình bằng cách trang bị cho chiếc xe tải của ông những công cụ cắm trại tiện lợi nhất. Ông lấy tên “Rocinante” – tên con ngựa của nhân vật Don Quixote trong tác phẩm của văn hào Cervantes – để đặt cho phương tiện vận chuyển mới và đầy ấn tượng của mình (“Tôi được tư vấn rằng cái tên Rocinante được sơn trên hông xe theo kiểu chữ Tây Ban Nha thế kỷ mười sáu sẽ gây tò mò và nghi vấn ở vài nơi. Chả biết có bao nhiêu người biết đến cái tên này, nhưng chắc chắn là đã chẳng có ai hỏi han gì về nó”).
Chuyến đi của Steinbeck đã bị hoãn lại vì cơn bão Donna, vốn đã quét qua và tàn phá bờ biển Đại Tây Dương mùa hè năm đó. Steinbeck diễn tả cơn bão một cách sống động trong những đoạn mở đầu của Tôi, Charley và hành trình nước Mỹ: “Gió ập tới vào lúc đã dự báo, xé mặt nước như xé tấm vải đen. Nó giộng xuống như một quả đấm. Nguyên phần ngọn của một cây sồi đổ ụp xuống, sượt qua ngôi nhà gỗ nơi chúng tôi đang đứng quan sát. Đợt gió to kế tiếp làm bật tung một cái cửa sổ lớn của ngôi nhà gỗ”. Ông đã chứng kiến cơn gió xé toạc “đất và biển”.
Vào những năm cuối cuộc đời mình, ông đã sống ở Sag Harbor vào mùa hè. Vào thời đó, nơi này là một làng đánh cá bình dị trên Long Island. Sự gần gũi với biển cả làm ông nhớ đến Monterey, nơi ông đã trải qua những mùa hè khi còn nhỏ, và ông đã dành nhiều thời gian trên chiếc thuyền máy của mình. Chiếc thuyền này được ông đặt tên là Fayre Eleyne – một liên tưởng kép đến vợ ông, Elaine, và một nhân vật khác trong tác phẩm Cái chết của Arthur[16] của Sir Thomas Malory – tác phẩm mà Steinbeck đã dịch ra tiếng Anh hiện đại không lâu trước đó.
Như Steinbeck đã kể, cơn bão đột nhiên giật phăng con thuyền ông yêu mến khỏi những mỏ neo. “Nó [con thuyền] bị lôi đi, cố chống trả hướng gió và bị xô tới một cầu tàu bên cạnh. Chúng tôi nghe được cả tiếng nó kêu réo khi thân của nó bị dồn nén vào những cây cọc bằng gỗ sồi”. Vào lúc đó, cơn gió đã vượt trên một trăm năm mươi kmh, và ngay cả những căn nhà cạnh bờ biển cũng đã bị đe dọa một cách nghiêm trọng.
Steinbeck đã cương quyết lao vào cơn bão để cứu con thuyền của mình, phớt lờ cả những phản đối của vợ. Vợ ông đã đuổi theo ông trong mưa gió và chứng kiến việc không tưởng khi ông lao vào dòng nước để bơi về phía con thuyền. Ông đã phải chiến đấu với những đợt sóng mạnh – một việc không đơn giản với một người có sức khỏe không tốt. Steinbeck, chỉ bằng quyết tâm không thôi, đã giải thoát được Fayre Eleyne và leo lên nó. May cho ông là động cơ thuyền khởi động ngay lập tức và ông lái được nó về nơi an toàn trong vịnh để thả neo. “Và thế đấy”, Steinbeck viết “tôi đang ở cách bờ chín mươi mét với Donna gào thét ở bên trên như một bầy chó săn ria trắng”. Điều hiển nhiên đối với ông vào lúc đó là không có chiếc xuồng nào có thể băng qua vùng biển đang bị hoành hành này để đưa ông về, cho nên ông không còn sự lựa chọn nào khác là phải tự bơi vào bờ.
Một cành cây nổi ngang qua trên mặt nước vào lúc đó và ông đã nhảy theo nó. Cơn gió lúc đó cũng đang thổi vào bờ, cho nên tất cả những gì ông phải làm chỉ là bám vào cành cây và để nó đưa ông vào bờ. Không lâu sau đó, Elaine đã thấy đầu ông bập bềnh trên mặt nước. Chẳng mấy chốc, ông đã quay về bàn bếp với whisky trong tay và khăn tắm trên đầu.
Cuộc mạo hiểm nhỏ này được Steinbeck kể một cách đam mê, và nó tạo ra một giây phút chuyển đổi hoạt cảnh trong lời thoại lớn hơn của câu chuyện. Ở đây, ta có một người dẫn chuyện – một người hùng đã yếu đi nhưng vẫn đủ dũng cảm để lao lên phía trước, giải cứu một thứ rất thân thiết với mình dù đang mắc kẹt trong bão tố. Sự từ bỏ tuyệt đối – và một chút điên rồ – vốn tiềm ẩn trong việc lao vào sóng gió là một phần thiết yếu trong âm hưởng của cuốn sách. Tác giả đã có đức tin tuyệt đối vào khả năng của mình trong việc lao vào một hoàn cảnh, phán đoán tình hình, và làm đúng những gì cần làm. Ông tin rằng cuối cùng ông sẽ trở về với Elaine xinh đẹp của mình và cơn bão rồi sẽ qua đi.
Chuyến du hành mô tả trong Tôi, Charley và hành trình nước Mỹ có thể xem là biểu tượng cho một hành trình hào hùng, một truyền thuyết mẫu mực vốn tạo ra một kiến trúc cốt lõi cho nhiều lời thoại văn học. Trong cái truyền thuyết truyền thống đó, một người hùng – cho dù đó là ai – đã từ bỏ nơi an toàn của mình, tiến vào nơi hoang dã (hoặc vực sâu) để thử thách bản thân qua những khó khăn, Trong quá trình thử thách này, người hùng hoặc sẽ khám phá tiềm lực phong phú của mình, hoặc sẽ được những quyền lực cao hơn trợ giúp. Bất cứ câu chuyện nào cũng không tránh khỏi một cuộc trở về để hoàn thiện một chu trình. Ý nghĩa ở đây là, khi trở về, người hùng sẽ trở nên mạnh mẽ vô biên nhờ vào những kiến thức có được từ cuộc hành trình đầy gian khổ. (Truyền thuyết này là chủ đề nghiên cứu nổi bật của John Campbell trong tác phẩm Người anh hùng với một ngàn khuôn mặt[17]).
Steinbeck khởi hành từ Sag Harbor vào buổi sáng ngày 23 tháng 9 cùng Charley, con chó xù giống Pháp cao kều và thân thiện. “Tôi còn nhớ lúc anh ấy đặt vấn đề đem theo con Charley”, vợ ông sau này kể lại “Anh ấy hỏi tôi một cách rụt rè, ‘anh muốn hỏi xin em một điều khá quan trọng. Anh có thể mang theo Charley được không?’. ‘Ý hay đó’, tôi đáp. ‘Nếu anh gặp vấn đề gì thì Charley sẽ tìm người giúp anh’. John nghiêm nghị nhìn tôi rồi nói, “Elaine à, Charley không phải là Lassie”.[18]
Steinbeck đã lái xe theo hướng bắc đến Massachusetts, và ghé thăm John – đứa nhỏ nhất trong hai con trai của ông – tại trường Eaglebrook ở Deefi eld. Từ đó, ông tiếp tục đi về phía bắc đến Vermont rồi sang hướng đông, băng qua Những ngọn núi trắng [White Mountains] của New Hampshire. Steinbeck viết: “Khí hậu nhanh chóng chuyển sang lạnh và cây cối bùng nổ muôn màu sắc, những sắc đỏ, sắc vàng mà bạn không thể tin nổi. Không chỉ là màu sắc mà còn là sự bừng sáng, tưởng chừng như lá cây đã nuốt lấy ánh sáng của mặt trời mùa hạ rồi từ từ nhả ra”.
DH. Lawrence từng nhận xét rằng sự vĩ đại trong văn học thường liên quan đến cảm xúc đối với thiên nhiên của tác giả. Ông đã dẫn Shakespeare, Tolstoy và Hardy như những tác giả điển hình có năng lực cảm nhận thiên nhiên rất cụ thể. Điều đó có lẽ cũng đúng trong trường hợp Steinbeck. Điều đã làm cho các tác phẩm về California của ông có sức cuốn hút là sự quan tâm đến các chi tiết và cảnh sắc rất cụ thể. Cuộc sống của các nhân vật trong chuyện được gắn kết một cách mật thiết với nhịp điệu của thiên nhiên: thời tiết, địa lý, các mùa gieo trồng và thu hoạch. Điều khiến Tôi, Charley và hành trình nước Mỹ trở nên dễ tiếp cận với ngay cả những người đọc bình thường nhất là sự gợi tưởng khéo léo về một thế giới tự nhiên, với những sắc màu và cảm nhận bề mặt của những chiếc lá, mùi đất nồng nàn, mùi nước mưa trên những vỉa hè, những tia nắng sắc ngọt xuyên chiếu qua những đám mây như những hàng cột. Thật vậy, hầu như trang nào trong cuốn sách này cũng đều thấp thoáng một vài hình ảnh thiên nhiên trong sáng.
Điểm đến lớn đầu tiên của Steinbeck là Maine[19]. Những khu rừng sơ khai và rậm rạp, dày đặc những cây thông Na Uy và những cây vân sam lông lá làm ông nhớ đến vùng Bắc California. Ông tiếp tục đi về hướng bắc, đến biên giới Canada. “Tôi muốn đến nóc nhà của Maine để khởi đầu cuộc hành trình của tôi trước khi rẽ sang hướng tây. “Ông viết “Điều này có vẻ như làm cho cuộc hành trình trở nên có tính toán, vì mọi thứ trên thế giới này đều phải được tính toán, nếu không thì tư duy của con người sẽ bác bỏ chúng”. Đây rõ ràng là lời của một người viết tiểu thuyết đang tìm kiếm một lời dẫn mạch lạc.
Dĩ nhiên, khi một người lạ đi qua một cộng đồng có tổ chức, người ấy tự nhiên sẽ gặp khó khăn trong việc làm quen với những con người sống và làm việc nơi đó. Steinbeck cũng không phải là ngoại lệ. “Tôi nhanh chóng phát hiện ra rằng”, ông viết, “nếu một người khách vãng lai muốn nghe lỏm dân địa phương thì anh ta chỉ cần lặng lẽ đi đến các quán bar và nhà thờ. Nhưng một số thị trấn ở New England lại không có quán bar, và nhà thờ thì chỉ mở cửa ngày Chủ nhật. Một giải pháp thay thế tốt là những quán ăn dọc đường, nơi người ta tụ tập dùng điểm tâm trước khi đi làm hoặc đi săn”.
Quả nhiên, những người dân kiệm lời của New England không nói năng nhiều với nhau trong lúc thưởng thức cà phê và bánh ngọt, như Steinbeck đã phát hiện. Ông dựa vào các đài phát thanh địa phương để khám phá những cảm nhận về cộng đồng con người: “Mỗi thị trấn vài ngàn dân đều có trạm phát thanh riêng, và nó soán vị trí của các tờ báo địa phương xưa cũ. Nhà đài thông báo về các cuộc ngã giá và buôn bán, các hoạt động xã hội, giá cả hàng hóa, các loại thông điệp”. Như mọi khi, Steinbeck luôn chú ý đến các trao đổi giữa người và người, và cuốn Tôi, Charley và hành trình nước Mỹ chứa đầy những trao đổi đó.
Cứ cách một vài ngày, Steinbeck lại ghé vào một nhà trọ, không phải vì chiếc giường, mà là “để tắm nước nóng một cách xa hoa”. Về điểm này thì Tôi, Charley và hành trình nước Mỹ có một số điểm tương đồng với Lolita, tác phẩm kinh điển của Vladimir Nabokov vào giữa thập niên 1950. Trọng tâm của cuốn tiểu thuyết này là nhật ký du hành của nhân vật Humbert. Humbert băng qua cả nước Mỹ, từ nhà trọ này đến nhà trọ khác, bằng xe kéo với người tình Lolita xinh đẹp của mình. Những chi tiết lòe loẹt trong lối sống của tầng lớp trung lưu - thấp được Nabokov đưa ra soi xét như con bướm dưới cây kẹp của nhà nghiên cứu bướm. Tương tự như thế, với Steinbeck, thứ văn hóa phổ thông của nước Mỹ đương đại được đem ra nhấm nháp: Kẹo phô-mai Thụy Sĩ, những cửa hàng bán vỏ trai rẻ tiền, các hàng Dairy Queen bên đường với những bể tắm quá khổ đặt ngay trước mặt tiền. Cái khung cảnh nhân tạo bèo bọt của quốc gia này được săm soi dưới cái nhìn thương cảm của Steinbeck.
Khi viết thư về cho Elaine vào đầu tháng 10, Steinbeck nói ông có đầy những “ấn tượng”. “Ấn tượng đầu tiên là về sự phung phí của chúng ta”, ông viết, “Chúng ta có thể xả chất thải hóa học xuống sông, xả cả chất thải đường ruột, nhưng mọi thị trấn vẫn cứ đầy ắp xe hơi, máy móc, và những căn nhà đổ nát. Nó y hệt như đêm Giáng sinh mà anh đã mô tả – những gói hàng được mở toạc rồi vứt đi lấy chỗ cho những gói hàng mới”. Không có gì ngạc nhiên khi các nhà bảo vệ môi trường nghĩ về Steinbeck như người ủng hộ lý tưởng của họ từ rất sớm, nhiều năm trước cả khi nó trở nên phổ cập. Steinbeck quả quyết rằng xả rác đầy nước Mỹ là tự sát. Ông ủng hộ việc tự kiềm chế và bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Ông cho rằng sự lãng phí mà ông thấy khắp mọi nơi xung quanh và việc thiếu quan tâm đến môi trường là một phần của nỗi bức xúc quy mô lớn đang bao trùm nước Mỹ.
Ông ghi nhận một cách hãi hùng sự xuất hiện của các khuôn viên dành cho xe rơ-moóc ngoài rìa của hầu hết các thị trấn. Những người sống trong những căn nhà không gốc rễ dựng trên bánh xe hay những nền nhà tạm thời đã xuất hiện như những sinh vật xa lạ đối với ông. “Đây là những người đến từ sao Hỏa”, ông viết cho Elaine, “và anh muốn nhờ họ đưa mình đến gặp thủ lĩnh của họ. Họ không có óc hài hước, không có quá khứ, và tương lai của họ là những chuẩn mực mới”. Ông viết tiếp: “Nếu một lúc nào đó anh muốn tìm một đề tài mới thì kiểu di động này sẽ là một đề tài thú vị”. Thực vậy, đề tài về sự thiếu vắng gốc rễ đã trở thành một phần của Tôi, Charley và hành trình nước Mỹ.
Quá khứ và hiện tại tương tác với nhau trong đầu người lữ khách trong lúc ông tiếp tục chuyến đi của mình. Trong cuộc hành trình đó, ông thường xuyên có những hồi tưởng, thường là về tuổi thơ và tuổi thanh niên của ông ở California. Ông viết: “Rất lâu trước đây, tôi từng sở hữu một trang trại nho nhỏ ở núi Santa Cruz tại California. Ở một chỗ nọ, khu rừng những cây madrone khổng lồ phủ tán lên một hồ trên núi thực thụ, một hồ nước đen nháy. Nếu như có một địa điềm ma ám nào đó thì đích thị là nơi này. Vẻ ma quái của nó đến từ ánh sáng leo lét lọt qua những khóm lá và nhiều khung cảnh rợn người”. Dĩ nhiên, tương phản lại, người Mỹ mới luôn “tìm thấy sự thách thức và tình yêu của mình ở những con đường nghẹt thở, ở những khung trời đầy sương khói, ngột ngạt bởi những thứ a-xít mà nền công nghiệp thải ra, ở những tiếng rít của bánh xe và ở những ngôi nhà nằm san sát nhau... trong khi các làng mạc nhỏ thì cứ héo hắt và chết dần chết mòn”. Thực vậy, đây là một bản cáo trạng khủng khiếp cho cái gọi là sự tiến bộ.
Những khía cạnh hư cấu của Tôi, Charley và hành trình nước Mỹ có thể nhận thấy trên hầu hết các trang sách, chủ yếu là ở cách tác giả dùng những mẩu thoại. Steinbeck đã cung cấp hàng loạt cuộc gặp gỡ giữa người và người, tạo ra những nhân vật và những cuộc đối thoại như bất cứ một nhà viết tiểu thuyết nào vẫn thường làm. Chẳng hạn, khi ông vượt biên giới Canada gần thác Niagara, ông đã có cuộc trao đổi thú vị và hài hước với một nhân viên hải quan. Cuộc trao đổi này có thể dễ dàng viết thành một tập truyện ngắn. Thật vậy, cuộc đàm thoại đó trải dài nhiều trang, có phần mở đầu, phần giữa và phần kết. Hàng loạt những bối cảnh tế nhị tiếp nối nhau với phong cách tiểu thuyết Picaresque[20] mà Cervantes đã sáng tác ra, và có lẽ cũng là hợp lý khi người lái chiếc xe tải mang tên Rocinante hiện diện trong một cuộc đối thoại mang tính chất tương tự.
Ngay từ đầu cuộc hành trình, Steinbeck đã tránh những xa lộ lớn, “những làn đường lớn tốc độ cao bêtông nhựa” ngang dọc khắp đất nước. Có lẽ vì lý do đó mà ông đã lang thang khắp New England, nơi mà trạm thu phí cầu đường là những thứ xa lạ. Những con đường nhỏ, hay thậm chí đường đất, được ông ưa thích hơn gấp ngàn lần: cảnh quan trên những con đường này đẹp hơn, và chúng mang âm điệu của một thời kỳ đã qua. Nhưng Mỹ là một lục địa khổng lồ, và Steinbeck cuối cùng cũng không còn lựa chọn nào khác, đành phải tìm một xa lộ lớn. Cuối cùng, ông đã phải đi lên Quốc lộ 90, vốn đi xuyên qua các bang Ohio, Michigan, và Illinois, nơi ông nhận thấy một sự thay đổi trong thái độ của con người. “Tôi chưa từng nghĩ, dù chỉ một giây, rằng những người mà tôi gặp và trò chuyện ở New England là thiếu thân thiện hay bất lịch sự”, ông viết, “nhưng họ nói năng rất cộc lốc và thường là đợi cho người mới đến mở lời trước”. Ở vùng Trung Tây, người lạ có thể nói chuyện với nhau thoải mái, mà không hề có sự dè dặt như ông thấy ở vùng Đông Bắc.
Với ít nhiều hốt hoảng, Steinbeck nhận thấy rằng sự đặc trưng đa dạng trong các văn hóa ngôn ngữ địa phương mà ông vẫn nhớ trong những chuyến du lịch xuyên Mỹ của ông vào thập niên 1920 và 1930 đang dần biến mất, hoặc đã mất hẳn rồi. “Bốn mươi năm phát thanh và hai mươi năm truyền hình hẳn đã có tác động”, ông kết luận. Có lẽ là không thể tranh khỏi, một thứ ngôn ngữ quốc gia đang thế chỗ những sắc thái uyển chuyển của ngôn ngữ địa phương. “Là người yêu từ ngữ và những khả năng bất tận của ngôn từ, tôi thấy buồn vì cái sự không tránh khỏi này”, ông viết. Sự biến mất của những thành ngữ đầy màu sắc, của những nhịp điệu trong ngôn ngữ đàm thoại địa phương, và những cách chơi chữ đặc thù đã làm cho ông cảm thấy bị xúc phạm một cách sâu sắc. Ông ghét cái khái niệm về một “ngôn ngữ quốc gia, được đóng gói theo đúng tiêu chuẩn một cách vô vị”.
Sau một chuyến tham quan ngắn đến Chicago, nơi Steinbeck đoàn tụ với Elaine (vốn bay đến từ phía đông để gặp ông), ông lại đi một mình về phía tây, băng qua bang Wisconsin (“bang đẹp nhất tôi từng thấy”) và bang Minnesota. Ở bất cứ nơi nào, ông cũng đều lắng nghe, hỏi han và khi ông tìm thấy một cơ hội nào đó, ông lại tiếp tục lắng nghe. Hàng đêm, khi nằm trong một nhà trọ hoặc rúc vào chiếc Rocinante, ông đều tái dựng lại cuộc hành trình ban ngày của mình, những quang cảnh ông chứng kiến, những con người ông đã gặp và những sự việc diễn ra trên đường đi. Từ những trang ghi chép có tính chất nhật ký này, ông dựng ra cuốn sách, vốn không có tựa đề cho đến khi ông gọi điện về nhà từ một chiếc điện thoại trả tiền và nghe Elaine đề xuất tựa đề Tôi, Charley và hành trình nước Mỹ, tương tự như tựa đề cuốn Những chuyến du hành với con lừa[21] của Robert Louis Stevenson, một trong những cuốn sách ông ưa thích.
Steinbeck tránh xa những khu du lịch phổ biến trên hành trình của mình, dĩ nhiên với thác Niagara là một ngoại lệ. Thỉnh thoảng, ông tìm đến những nơi có sức thu hút đối với cá nhân ông, như nơi sinh của Sinclair Lewis ở Sauk Centre, bang Minnesota. Ở bất cứ nơi đâu ông dừng chân để quan sát xung quanh, ông đều tìm cách bắt chuyện với những người sống ở đấy. Ông muốn biết nước Mỹ nghĩ gì. Thật không may là, ông đã nhanh chóng đi đến niềm tin rằng trong đầu của một công dân Mỹ bình thường chẳng có gì đáng kể. Ở bờ đông sông Mississippi, những cuộc đàm thoại ông nghe được chủ yếu là về bóng chày; ở phía tây sông Mississippi, chủ đề các cuộc trò chuyện lại là săn bắn. Mặc dù lúc bấy giờ đã là mùa thu của một năm bầu cử – Kennedy tranh chấp với Nixon – ông chẳng nghe thấy một cuộc tranh luận chính trị sôi nổi nào ở bất cứ nơi đâu. Càng đi thong thả về California, ông càng thất vọng về mọi thứ ngoại trừ thế giới thiên nhiên.
Trên thực tế, trong lúc ông đi về phía tây, Steinbeck ngày càng trở nên trữ tình hơn trước những khía cạnh thanh cao của thiên nhiên. “Tôi lái xe băng qua ngón tay cái giương lên của Idaho, vượt qua những những dải núi cao hun hút, dày đặc những ngọn thông và ngập sâu trong tuyết”, ông viết. Giọng văn của ông ngày càng trở nên tươi tắn và đầy âm sắc khi ông đến bang Oregon và hướng về phía nam, vào vùng đất của những khu rừng gỗ đỏ. “Tôi ở hai ngày cạnh cơ thể của những người khổng lồ”, ông nói với hàm ý diễn tả những cái thân cây to lớn của tuổi thơ:
Nơi đây là sự im lặng của một thánh đường. Có thể lớp vỏ dày và mềm đã hấp thụ âm thanh để tạo ra sự im ắng. Những ngọn cây vươn cao đến tận thiên đình: không có một chân trời nào phía trên. Bình minh đến sớm và vẫn mãi là bình minh cho đến khi mặt trời lên cao. Rồi những tán lá giống của cây dương xỉ kéo dãn ánh nắng ra thành một màu vàng xanh và phân bổ nó thành những luống, đúng hơn là những dải xen kẽ giữa ánh sáng và bóng râm. Khi mặt trời đi qua thiên đỉnh thì buổi chiều bắt đầu, rồi nhanh chóng là buổi tối với sự nhá nhem, xào xạc chẳng khác gì ban mai.
California mang đến những vấn đề đã được dự kiến. Khu vực bờ biển Steinbeck từng biết rõ nay chỉ gói gọn trong hoài niệm một thời của nó, cũng như hồi ức về những gì ông đã trải qua nơi đây. Ký ức đã bóp méo khung cảnh hiện tại, và mỗi hình ảnh nổi lên đều trở thành một bức tranh hỗn độn: một bức họa được vẽ chồng lên bởi một bức họa khác. Ông bàng hoàng trước sự thiếu vắng rõ rệt những nét kiến trúc cụ thể và đặc thù, chỉ thấy những căn nhà hộp, nhà nào cũng giống như nhà nào, đứng san sát nhau từ dãy này sang dãy khác. Ông cảm thấy khó chịu khi thấy những ngọn đồi hoang, nơi chó sói đồng cỏ từng ca hát, nay đã bị san bằng, và các đài truyền hình nay phát đi những hình ảnh đầy căng thẳng đến hàng ngàn ngôi nhà tí hon “nằm chụm nhau như đám bọ bên đường”. Bức tranh toàn cảnh làm người ta rất phiền muộn.
Tình hình trở nên xấu hơn khi ông đến hạt Monterey, cảnh quan mơ ước của ông. Ông đã ghé thăm các chị em của mình, và họ đã tranh luận về chính trị một cách gay gắt. Thật vậy, cuộc nói chuyện trong lúc ăn tối trở thành những tranh cãi vớ vẩn về tính cách và các giá trị đạo đức bất thường của Kennedy và Nixon, “Cậu nói cứ y như cộng sản ấy”, bà chị gái của ông đã la lên. “Vâng. Còn chị thì nói nghe chẳng khác gì Thành Cát Tư hãn cả”, ông cãi lại.
Khi đến chính Monterey, ông giật mình khi thấy một trong những rạp chiếu phim đã được đổi tên thành Rạp hát John Steinbeck. Ông đã trở thành, trên thực tế, công viên giải trí của chính mình và điều này làm ông vô cùng tức giận. “Tom Wolfe đã nói đúng”, ông phản ứng. “Bạn không thể quay về nhà bởi vì cái gọi là nhà đã không còn tồn tại nữa ngoại trừ trong những mốc meo của ký ức”. Một cách khôn ngoan, Steinbeck đã nhanh chóng rời bỏ vùng đất quê nhà của ông, bỏ lại “cái quá khứ vĩnh hằng và bất biến nơi mà mẹ tôi vẫn đang bắn con mèo hoang và cha tôi vẫn đang khắc tên mình và tên người ông yêu”. Trong một khoảng khắc chua cay, lúc đang trốn chạy khỏi Monterey, Steinbeck nói rằng ông ước gì có thể nói mình đã đi tìm sự thật về người Mỹ và đã tìm ra. Nhưng ông không ngây thơ như thế; ông hiểu rằng không có một “sự thật” nào có thể được phát hiện. “Từ lâu lắm rồi tôi đã phát hiện trong lúc sưu tập và phân loại các sinh vật biển rằng thứ mà tôi tìm ra luôn gắn bó chặt chẽ với cảm xúc của tôi vào lúc đó. Hiện thực bên ngoài suy cho cùng cũng không hẳn là nằm bên ngoài”.
Ở đây, Steinbeck trò chuyện với một phong cách rất đương đại, gần như mang âm hưởng của dòng tư tưởng hậu kết cấu[22]. Ý tưởng cho rằng sự khách quan luôn luôn bị bóp méo chỉ đơn thuần bởi cách diễn đạt – và bởi thực tế là mỗi người chỉ có một góc nhìn duy nhất – hiện diện xuyên suốt trong ghi chép du hành của ông, và khiến cho tất cả những kết luận của Steinbeck chỉ mang tính phỏng đoán, đúng như chủ ý của tác giả. “Mảnh đất khổng lồ này”, ông viết, “dân tộc hùng mạnh bậc nhất này, cái hạt giống của tương lai này hóa ra chỉ là một thế giới vĩ mô của cái tôi vi mô”.
Một trong những yếu tố tương phản trong Tôi, Charley và hành trình nước Mỹ xuất hiện ngay vào thời điểm này: “Từ khi bắt đầu cho đến lúc kết thúc tôi đã không tìm thấy bất cứ ai xa lạ”, ông viết. “Nếu tôi đã tìm thấy, có lẽ tôi đã có thể viết về họ một cách khách quan hơn. Nhưng những người này là đồng bào tôi và đây là tổ quốc tôi. Nếu tôi tìm ra thứ để chỉ trích và phàn nàn thì những thứ này cũng là những khuynh hướng vốn tồn tại trong tôi”. Với những lời nhận xét gửi Elaine về “những người sao Hỏa” sống trong các công viên xe kéo, và với lời phê bình khắc nghiệt của ông về cái cảnh quan công nghiệp hóa hoang tàn trải dài từ bờ này sang bờ kia đất nước, người ta buộc lòng phải định hình và ca tụng “dân tộc của ông” một cách đầy hoài nghi. Đây là điểm yếu của Steinbeck, sự đa cảm của ông vẫn xuất hiện đây đó. Đáng lý ra, theo ý tôi, ông ấy đã có thể làm tốt hơn nếu giữ vững tính độc lập và nói “Tôi không biết những người này”.
Ông đã làm y như vậy ở Texas, nơi ông đã đến trong chương cuối của cuốn sách. Do vợ ông, Elaine, là người gốc Texas, Steinbeck hiểu rằng ông không thể tránh khỏi cái bang rộng lớn và phức tạp đó, ngay cả khi ông muốn tránh. Ông đã đến đó đúng lúc để dự lễ Tạ ơn với gia đình vợ ông, ở gần Amarillo. Ông hiểu rất rõ những thử thách ông phải đối mặt ở phần ghi chép du hành này của mình. “Các tác giả thường gặp khó khăn với Texas, và thường nhận ra rằng họ đang đi lòng vòng trong những nhận xét chung chung, và tôi cũng không phải là ngoại lệ. Texas là một trạng thái tâm hồn. Texas là một sự đam mê. Trên hết, Texas là một quốc gia theo đúng nghĩa đen của từ này”.
Bất chấp tất cả những thử thách đó, ông đã viết rất hay về Texas, về những nét đặc trưng của con người và cảnh quan của bang này với âm điệu quen thuộc và một trí tưởng tượng tinh tế. Ông đã định nghĩa nó với những nét tương phản nổi bật:
Những bình nguyên khắc nghiệt trải đến tận chân trời của Panhandle là hoàn toàn xa lạ với những ngọn đồi nhỏ rợp cây và những dòng suối ngọt ngào ở rặng Davis. Những vườn quýt xum xuê của thung lũng sông Rio Grande không hề liên quan gì đến những cánh đồng ngải đắng ở miền Nam Texas. Không khí nóng ẩm của vịnh Gulf Coast không hề giống với không khí giá lạnh của vùng Tây Bắc Panhandle. Và thủ phủ Austin trên các ngọn đồi của nó, giữa những hồ nước bao quanh, có lẽ là cả một thế giới khác so với Dallas.
Texas là nơi mà các vấn đề tuyến tiền liệt của Charley, vốn thỉnh thoảng vẫn xuất hiện trong suốt cuộc hành trình, đi vào giai đoạn nguy cấp, và chú chó đã được chăm sóc bởi một viên thú ý dịu dàng. Sau khi vấn đề này được giải quyết, chú chó mới khỏe lại và chủ của nó lại tiếp tục đi đến New Orleans, địa điểm lớn cuối cùng của chuyến đi. Steinbeck viết:
Hồi tôi vẫn còn ở Texas, vào cuối thập niên 1960, sự kiện được báo chí viết bài và đăng ảnh nhiều nhất là vụ hai em bé da đen nhỏ xíu trúng tuyển vào một trường học ở New Orleans. Phía sau những sinh linh bé bỏng và đen đúa này là quyền năng và quyền lực của pháp luật. Cả cán cân lẫn thanh kiếm đều đứng về phía các em bé, trong khi chống lại chúng là ba trăm năm sợ hãi, giận dữ, và nỗi kinh hoàng của sự thay đổi trong một thế giới đang đổi thay.
Một nhóm phụ nữ đáng khinh bỉ – những “bà mẹ” da trắng, nếu từ này cần dùng cho bối cảnh đó – tụ tập hàng ngày để chế nhạo trẻ da đen lúc các em vào trường và sau khi tan học. Họ được báo giới biết đến, một cách mỉa mai, như là những Người cổ vũ (Cheerleader), và Steinbeck đã muốn tận mắt chứng kiến cái cảnh đấy. Đối với ông, việc con người có thể hành động như vậy là không thể hiểu nổi. Giả danh một người Anh đến từ Liverpool, ông trà trộn vào cái nhóm người vẫn tụ tập hàng ngày trước cửa trường học. Một người lái taxi giải thích với ông rằng nguồn gốc của tất cả những rắc rối này bắt nguồn từ bọn Do Thái ở New York. “Bọn Do Thái hả? Họ gây rắc rối ra sao vậy?”, ông hỏi người đàn ông đó, và ông này trả lời, “Bọn Do Thái chết tiệt ở New York bỗng dưng nhào vô, dựng bọn mọi đen (nigger) dậy”. Người lái xe này còn đề nghị hành hình những người Do Thái gây rối, trước sự ngạc nhiên và kinh tởm của Steinbeck.
Vào cuối ngày hôm đó, khi người ta hỏi có phải là ông đang đi du lịch để giải trí hay không, ông trả lời: “Trước ngày hôm nay thì đúng là như vậy”. Bộ mặt trơ trẽn của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, được thể hiện qua những Người cổ vũ, làm ông trĩu nặng bởi “sự kinh tởm đầy ngán ngẩm”. Những trải nghiệm tuổi thơ của ông đối với người da đen ở California rất khác với cái trải nghiệm này; Ông chỉ biết, như ông đã nhớ, những người [da đen] tốt bụng và ân cần, không phải những kẻ lười nhác như được rêu rao bởi bọn kỳ thị chủng tộc mà ông đã gặp ở đoạn cuối kém vui của cuộc hành trình này.
Ở một đoạn ngắn đầy xúc động, trong lúc ông đang vội vàng trở về nhà mình ở Sag Harbor, tại Alabama, Steinbeck đã đón một người da đen đi nhờ xe, một thanh niên. Họ trò chuyện về Martin Luther King, Jr., và những “lời dạy của ông về sự kháng cự bị động nhưng quyết liệt”. Hiển nhiên là Steinbeck ủng hộ cách tiếp cận của King, và ông đã sốc bởi ý kiến của người thanh niên ấy: “Nó quá chậm”, anh đã nói với Steinbeck một cách sỗ sàng. “Nó mất quá nhiều thời gian”.
Thời điểm đó trên thực tế là một năm đặc biệt có tính bước ngoặt để Steinbeck bắt đầu một cuộc hành trình như thế, vì cả nước Mỹ đang đứng trên bờ vực của một sự thay đổi nhận thức phi thường. Phong trào Dân quyền đang lăm le làm thay đổi những cách thức mà nước Mỹ tự nhìn nhận chính mình, và ngay cả Steinbeck – trong vai trò là một Nhà thông thái – cũng chưa sẵn sàng để đối mặt với hậu quả của những thay đổi này. Ông hiểu rằng sự ngây thơ của thập niên 1950 chỉ dựa trên những mặc định cố hữu về giai cấp và ranh giới sắc tộc, nhưng ông đã không dám nhìn quá xa về tương lai. Cuối cùng, ông đã từ bỏ những dòng tiên tri vốn đã có thể đưa Tôi, Charley và hành trình nước Mỹ lên một tầm cao mới, không chỉ đơn thuần là một cuốn sách du hành thu hút và quyến rũ.
Vào lúc này Steinbeck đang vội vã quay về nhà ở Sag Harbor, kiệt quệ bởi bốn tháng chu du. Ông đã mong là mình có thể cạnh tranh được với Don Quixote, “kẻ cho rằng có cái gì đó chính đáng và hợp lý – vừa để gia tăng danh tiếng của mình, vừa để phục vụ quốc gia – trong việc trở thành một hiệp sĩ lang thang và chu du khắp thế giới với con ngựa và bộ giáp để tìm kiếm những cuộc phiêu lưu. Ông theo đuổi bằng mọi giá cách hành xử của người hiệp sĩ lang thang mà ông đã đọc, chỉnh sửa tất cả những hành xử sai trái, và phơi mình ra trước những vận may và hiểm nghèo mà qua đó người hiệp sĩ có thể đạt được danh dự và tiếng tăm để đời”. Cuối cùng, Steinbeck đã không làm nhiều những chuyện đó, mặc dù cuốn sách – vốn được đón tiếp một cách nồng nhiệt bởi giới phê bình và đã trở thành một trong những tác phẩm bán chạy nhất ngay sau khi xuất bản – cũng làm gia tăng danh tiếng của tác giả trên bình diện nào đó.
Tôi, Charley và hành trình nước Mỹ cho phép người đọc gần gũi hơn với John Steinbeck, mặc dù ông vốn đã là một tác giả của công chúng. Thật vậy, sau hơn mười một tuần chu du cùng tác giả và chú chó thân thiện của ông, người ta có thể cảm thấy ông là người bạn đồng hành và tiếc nuối khi chuyến du hành đi đến hồi kết. Sẽ là lý tưởng hơn nếu như cuốn truyện du hành này được đọc cùng với những lá thư Steinbeck gửi về nhà cho vợ ông trên đường đi (một tuyển tập khá hoàn chỉnh những lá thư này có thể tìm trong cuốn Steinbeck: Một cuộc đời trong những lá thư,[23] biên tập bởi Elaine Steinbeck và Robert Wallsten và được xuất bản năm 1975).
Chiêm nghiệm lại cuộc hành trình của mình trong một lá thư viết cho Pat Covici, biên tập viên của ông, Steinbeck nói:
Trong tất cả các chuyến du lịch của tôi, tôi đã thấy rất ít sự nghèo đói thực sự, ý tôi là cái xác xơ và kinh hoàng của thập niên 1930. Những thứ đấy ít ra là còn mang tính thực tế và hữu hình. Không, đó đã là một căn bệnh, một loại bệnh lãng phí. Tôi thấy những ước mơ nhưng không thấy những hoài bão. Và bên dưới tất cả những thứ đó là một loại năng lượng đang hình thành như tử khí trong xác chết. Khi nó nổ tung, tôi run sợ nghĩ về kết cục của nó. Lần này qua lần khác, tôi nghĩ ra chúng ta thiếu những áp lực vốn làm cho con người mạnh mẽ và nỗi thống khổ vốn làm con người trở nên vĩ đại. Áp lực bây giờ là nợ nần, những mong muốn thì lại hướng về những thứ đồ chơi vật chất và sự thống khổ ngày nay là sự buồn chán. Qua thời gian, cái quốc gia này đã trở thành một vùng đất đầy bất mãn.
Mặc dù Tôi, Charley và hành trình nước Mỹ chứa đầy những đoạn truyện kỳ dị, sự quyến rũ, những mô tả cảnh quan thiên nhiên giàu âm điệu, bên dưới cái bề mặt đó là một cảm giác thất vọng mà cuối cùng lại biến thành sự phẫn nộ. Steinbeck chưa bao giờ dám tự mình nói rằng ông thường cảm thấy ghê tởm bởi những thứ ông đã thấy trong cuộc hành trình của mình, nhưng cuốn sách vẫn để lại ấn tượng đó nơi người đọc. Thật vậy, khi người đọc đặt sách xuống, họ sẽ nhận thức rõ hơn về tính tiên tri của cuốn sách này, và cái cách mà nước Mỹ sẽ phải tiếp tục vật lộn với những vấn đề được đề cập qua từng trang sách.
❀ ❀ ❀
[1] Leaves of Grass.
[2] The Pastures of Heaven.
[3] Tortilla Flat.
[4] In Dubious Battle.
[5] Of Mice and Men.
[6] The Grapes of Wrath.
[7] Cannery Row.
[8] East of Eden.
[9] The Winter of Our Discontent. Tên tác phẩm cũng là dòng đầu tiên của vở kịch Richard III của Shakespeare.
[10] Pipe Dream.
[11] Sweet Thursday.
[12] The Forgotten Village.
[13] Cup of Gold.
[14] Sea of Cortez.
[15] A Russian Journal.
[16] Morte d’Arthur.
[17] The Hero with a Thousand Faces.
[18] Lassie là tên của một con chó trong tiểu thuyết cùng tên nổi tiếng Lassie của Erick Knight, và được chuyển thành phiên bản điện ảnh vào 1943 với tựa đề Lassie hãy về nhà. Trong văn hóa phổ thông Mỹ, Lassie đồng nghĩa với hình ảnh một con chó cứu người.
[19] Maine là một bang ở Đông Bắc nước Mỹ.
[20] Picaresque là một loại hình tiểu thuyết châm biếm phổ biến, thường diễn tả một cách thực tế và hài hước cuộc phiêu lưu của một nhân vật anh hùng láu lỉnh thuộc tầng lớp dưới, vốn phải sống bằng mưu mẹo trong một xã hội tha hóa. Một số tác phẩm kinh điển có tính chất Picaresque bao gồm Candide của Voltaire, Những chuyến phiêu lưu của Huckleberry Finn của Mark Twain, hay quen thuộc hơn đối với đọc giả Việt Nam là tác phẩm Số đỏ của Vũ Trọng Phụng.
[21] Travels with a Donkey.
[22] Poststructualism hay dòng tư tưởng hậu kết cấu (với một số tác giả đại diện như Foucault, Derrida, Deleuze) là một dòng tư tưởng phản biện chủ nghĩa kết cấu (structuralism với một số đại diện như Saussure, LeviStrauss) vốn cho rằng một số vấn đề văn hóa (và tâm lý) có thể được phân tích dựa trên mặc định về sự tồn tại của một cấu trúc ngôn ngữ nhất định vốn chi phối và bảo tồn văn hóa, hoặc trạng thái tâm lý đó. Các nhà tư tưởng thuộc dòng hậu kết cấu, nhìn chung, phủ nhận sự tồn tại, tính độc lập và sự bền vững qua thời gian của các cấu trúc ngôn ngữ.
[23] Steinbeck: A Life in Letters.