Cuộc trình diễn đã kết thúc và dòng thác người cũng bắt đầu rời đi. Cuộc trình diễn thứ hai sẽ diễn ra khi tiếng chuông đóng cửa trường vang lên và khuôn mặt đen bé nhỏ sẽ lại phải nhìn ra những kẻ lên án nó. Tôi đã từng đến New Orleans của những nhà hàng lớn. Tôi biết tất cả các nhà hàng đó và phần lớn họ cũng biết tôi. Và tôi không còn khả năng nào nữa để đến quán Gallator’s gọi món trứng ốp-lết và rượu sâm-banh, giống như tôi không thể nhảy múa trên nấm mồ. Ngay cả việc viết những chuyện đó ra giấy cũng làm dấy lên trong tôi sự mệt mỏi, sự tởm lợm vô vọng. Đó không còn là cái thú viết lách. Nó không khiến tôi vui thú.
Tôi mua một chiếc sandwich cho người nghèo và ra khỏi thành phố. Không quá xa, tôi tìm được một nơi dễ chịu để có thể ngồi và nhai và ngắm và nhìn ra dòng sông Cha của các dòng sông với màu nâu trang trọng và dòng nước chảy chậm. Tâm trí tôi đòi hỏi điều đó. Charley không chạy rông mà ngồi sát bên tôi, tựa bờ vai của nó vào đầu gối tôi, và nó chỉ làm như thế khi nào tôi bị bệnh, vì vậy tôi buồn buồn nghĩ rằng mình đã bệnh mất rồi.
Một khoảng thời gian lạc lõng. Nhưng một lúc sau mặt trời đã đi qua cực đỉnh, có một người đi bộ ngang qua và chúng tôi đã chào nhau. Đó là một người đàn ông ăn mặc trang nhã, đã nhiều tuổi. Ông ta có một khuôn mặt Hy Lạp, mái tóc bạc mịn bị gió làm dựng đứng và bộ ria mép bạc được cắt tỉa gọn gàng. Tôi mời ông ta ghé chơi, và khi ông ta chấp thuận, tôi trở về ngôi nhà của mình để đun nước pha cà phê. Nhớ lại Roark Bradford thích pha như thế nào, tôi tăng gấp đôi lượng cà phê, hai muỗng đầy cà phê cho mỗi tách và hai muỗng đầy cho chiếc ấm. Tôi đập một trái trứng, vớt lòng đỏ ra, rồi bỏ lòng trắng lẫn vỏ trứng vào trong ấm vì tôi biết không có thứ gì có thể làm sáng cà phê và khiến nó bóng lên như thế. Trời vẫn rất lạnh và buổi tối lạnh lẽo đang đến gần, do đó mà bột cà phê, nổi lên từ chỗ nước lạnh để ra đến chỗ sôi, tạo ra một mùi thơm dễ chịu có thể cạnh tranh thành công với mọi mùi thơm khác.
Vị khách của tôi rất hài lòng. Ông ta sưởi ấm bàn tay quanh chiếc ly nhựa. “Theo biển số xe thì ông là người lạ ở đây”, ông ta nói. “Làm cách nào mà ông rành về cà phê như vậy?”
“Tôi học ở phố Bourbon[1] từ những vĩ nhân trên thế gian”, tôi nói. “Nhưng họ sẽ đòi loại hạt cà phê rang kỹ hơn và một ít rau diếp xoăn để nhấm nháp đấy”.
“Ông rành thật”, ông ta nói. “Xét cho cùng thì ông chẳng phải là người lạ. Thế ông có biết làm món cà phê Diablo[2] không?”
“Khi tiệc tùng thì có đấy. Ông là người ở đây à?”
“Nhiều thế hệ đến mức tôi không thể nhớ hết, trừ những vị có tên trên bia mộ ở St. Louis”.
“Tôi hiểu. Ông là người dòng dõi nơi đây. Rất mừng được gặp ông. Tôi cũng có biết St. Louis đấy, thậm chí từng sưu tầm các văn bia ở đó”.
“Thật vậy sao? Thế thì chắc ông nhớ cái văn bia kỳ quái đó”.
“Nếu đúng là cái tôi nghĩ thì để tôi cố nhớ xem nào. Ý ông nói cái văn bia bắt đầu bằng, ‘Thương thay cho người mà niềm vui đáng nguyền rủa...’?”
“Chính cái đó đấy. Robert John Cresswell, mất năm 1845 ở tuổi hai mươi sáu”.
“Ước gì tôi nhớ được câu ấy”.
“Ông có giấy không? Ông có thể ghi lại nó đấy”.
Rồi khi tôi có một tập giấy trên đầu gối, ông ta đọc, “Thương thay cho người mà niềm vui đáng nguyền rủa phải cậy nhờ vào thiên đường, đành vui với sự đột ngột này bằng tất cả những hy vọng hào phóng và qua tình yêu đối vì sự can trường chống chọi bệnh dịch chó để chứng minh những thống khổ trên thế gian[3]”.
“Nghe hay thật”, tôi nói. “Lewis Carroll cũng có thể viết được như thế này. Tôi gần đoán ra ý nghĩa của nó rồi đấy”.
“Ai cũng gần đoán ra. Ông đi du lịch cho vui à?”
“Vui cho đến hôm qua. Tôi vừa mới thấy các Cheerleader”.
“Ồ, vâng, tôi hiểu”, ông ta nói. Một sức nặng và một sự tăm tối bỗng chụp lên ông ta.
“Điều gì sẽ xảy ra kế tiếp?”
“Tôi không biết. Tôi đơn giản là không biết. Tôi không dám nghĩ về nó. Tại sao tôi phải nghĩ về nó cơ chứ? Tôi già quá rồi. Hãy để những người khác gánh vác chuyện này”.
“Ông có thấy một hồi kết không?”
“Ồ, chắc chắn có hồi kết chứ. Đó là một cứu cánh. Một cứu cánh. Nhưng ông từ miền Bắc đến. Đó đâu phải là vấn đề của ông”.
“Tôi nghĩ đó là vấn đề của tất cả mọi người. Nó không phải chỉ của địa phương. Ông có muốn dùng một tách cà phê và trao đổi với tôi về chuyện này không? Tôi không có lập trường nào. Ý tôi là tôi chỉ muốn nghe thôi”.
“Chẳng có gì để học hỏi ở đây cả”, ông ta nói. “Nó có vẻ như sẽ trở mặt tùy theo việc ông là ai, ông đã ở đâu và ông cảm thấy thế nào – cảm thấy chứ không phải suy nghĩ đâu đấy nhé. Ông không thích những gì ông thấy à?”
“Thế ông thích không?”
“Có lẽ ít thích hơn ông vì tôi biết tất cả cái quá khứ đau đớn của nó và một vài tương lai bốc mùi của nó. Đó là một từ không đẹp đẽ gì, thưa ông, nhưng chẳng có từ nào khác cả”.
“Người da đen muốn được làm người. Ông có chống lại điều đó không?”
“Trời ơi, không đâu, thưa ông. Nhưng để được làm người họ phải đấu tranh với những kẻ không thỏa mãn với việc được làm người”.
“Ý ông là người da đen không thỏa mãn với những thành quả họ đạt được?”
“Ông thì sao? Ông có biết ai thỏa mãn không?”
“Ông có bằng lòng để cho họ làm người không?”
“Thì cũng bằng lòng đấy, nhưng tôi không thể hiểu nổi. Tôi có quá nhiều bia mộ cha ông ở đây rồi. Tôi biết nói với ông như thế nào đây? Thôi được, giả sử như con chó của ông đây, trông có vẻ nó là một con chó rất thông minh...”
“Nó thông minh đấy”.
“Thế này nhé, giả sử nó nói được và đứng được trên hai chân sau. Có thể nó làm gì cũng tốt cả. Có lẽ ông sẽ mời nó dùng bữa, nhưng liệu ông có nghĩ nó là con người không?”
“Ý ông là tôi có chịu cho nó lấy em gái của tôi không ấy à?”
Ông ta phá lên cười. “Tôi chỉ muốn nói với ông rằng rất khó mà thay đổi cảm xúc về mọi sự. Và ông có tin không? Làm cho người da đen thay đổi cảm xúc của họ cũng khó không kém gì làm chúng tôi thay đổi cảm xúc của mình. Điều này chẳng có gì mới cả. Nó là như vậy từ lâu lắm rồi”.
“Dù thế nào, chủ đề này luôn hớt đi niềm vui của cuộc trò chuyện”.
“Đúng thế đấy, thưa ông. Tôi nghĩ tôi là kẻ mà ông có thể gọi là một phần tử khai sáng người miền Nam đang lẫn lộn sự thóa mạ với sự ngợi khen. Là giống lai tạp mới toanh đó, tôi biết điều gì sẽ xảy ra theo năm tháng. Nó đang bắt đầu ở châu Phi và châu Á rồi đấy”.
“Ý ông là sự hợp nhất ư? Người da đen sẽ biến mất?”
“Nếu họ đông hơn chúng ta thì chúng ta sẽ biến mất, hay có vẻ đúng hơn là cả hai phía đều biến mất, trở thành thứ gì đó mới mẻ”.
“Còn trong khi đó?”
“Ấy, chính cái ‘trong khi đó’ này làm cho tôi thấy sợ đấy, thưa ông. Các bậc tiền nhân ngày xưa đã đặt tình yêu và chiến tranh vào tay các vị thần có quan hệ mật thiết với nhau. Điều đó không phải là tình cờ đâu nhé. Vâng, thưa ông, đó là sự uyên bác của con người đấy.”
“Ông lý luận hay đấy”.
“Những người mà ông thấy hôm nay, họ chẳng có lý luận gì cả. Họ là những kẻ làm cho thần thánh cũng phải lo lắng”.
“Thế thì ông cho rằng điều đó không thể diễn ra trong hòa bình?”
“Tôi không biết”, ông ta la lên. “Tôi nghĩ đó là trường hợp xấu nhất. Tôi đơn giản là không biết. Đôi lúc tôi thèm được lấy cái tên đúng của mình là Ci Gît”.
“Ước gì ông đi cùng đường với tôi. Ông đang đi phải không?”
“Không. Tôi có một chốn nho nhỏ ở ngay gần đây, phía dưới khu rừng nhỏ kia. Tôi dành nhiều thời gian nơi đó, chủ yếu là đọc sách – vớ vẩn thôi mà – chủ yếu là nhìn ngang ngó dọc – vớ vẩn thôi mà. Đó là phương pháp cố tình của tôi để tránh vấn đề ấy vì tôi thấy sợ nó”.
“Tôi nghĩ chúng ta đều làm tương tự như thế cả”.
Ông ta mỉm cười. “Tôi có một cặp vợ chồng già người da đen già như tôi chăm sóc cho tôi. Và đôi khi, vào buổi tối, chúng tôi đã quên luôn. Họ quên ghen tỵ với tôi, còn tôi thì quên họ có thể ghen tỵ, và chúng tôi chỉ còn là ba... thứ dễ chịu sống chung với nhau, cùng thưởng thức mùi hương của hoa”.
“Thứ”, tôi lặp lại. “Thú vị thật đấy, không phải là con vật, không phải đen, không phải trắng mà là những thứ dễ chịu. Vợ tôi kể có một ông cụ già lắm lắm là già, ông ấy nói, “Tôi nhớ cái thời khi người da đen không có tâm hồn. Hồi đó tốt hơn và dễ dàng hơn bây giờ nhiều. Bây giờ thì cứ rối tung hết cả lên.’”
“Tôi không nhớ nữa, nhưng hẳn phải là như vậy. Tôi nghĩ ta có thể cắt và phân chia tội lỗi mà cha ông để lại giống như cắt, chia một chiếc bánh sinh nhật vậy”, ông ta nói. Ngoài bộ ria mép ra, trông ông cứ như một bức tranh của Greco, San Pablo đang cầm trong tay một cuốn sách khép lại.[4] “Chắc chắn các tổ tiên của tôi đã có những nô lệ, nhưng rất có thể tổ tiên của ông đã bắt họ và đem bán cho chúng tôi”.
“Tôi có dòng máu thanh giáo vốn rất có thể làm như thế”.
“Nếu ông dùng vũ lực bắt một sinh linh phải làm việc như thú vật, ông sẽ không khỏi nghĩ về sinh linh đó như thú vật, nếu không thì sự thấu cảm sẽ làm cho ông điên loạn mất thôi. Một khi ông xếp hạng các sinh linh này trong đầu, ông sẽ có cảm giác an toàn”. Ông ta nhìn ra con sông. Gió xới tóc ông lên như một làn khói trắng. “Và nếu trái tim ông có tì vết của sự dũng cảm và giận dữ, mà với loài người thì ta gọi là phẩm giá, thì ông ắt phải sợ con thú nguy hiểm. Và vì trái tim ông có trí khôn, có sự sáng tạo và khả năng che giấu nó, ông sẽ phải sống trong sợ hãi. Cho nên ông phải chà đạp những xu hướng giống người của họ đi và biến họ thành con thú biết vâng lời mà ông mong muốn. Và nếu ông dạy được con ông ngay từ đầu về loài thú, con ông sẽ không chia sẻ sự hoang mang với ông đâu”.
“Tôi nghe nói, vào thời kỳ tốt lành khi xưa, người da đen cũng ca hát, nhảy múa và hài lòng”.
“Và họ cũng bỏ trốn nữa. Các luật lệ ngăn ngừa nạn bỏ trốn cho thấy điều đó diễn ra thường xuyên như thế nào”.
“Ông không giống người miền Nam theo cách nghĩ của người miền Bắc nhỉ”.
“Có lẽ là không. Nhưng tôi không đơn độc”. Ông ta đứng dậy, phủi bụi trên quần bằng những ngón tay. “Không. Không đơn độc đâu. Tôi về chỗ các thứ dễ chịu của tôi đây”.
“Tôi chưa kịp hỏi tên ông, thưa ông, và cũng chưa kịp nói tên tôi”.
“Ci Gît”, ông ta nói. “Ông Ci Gît – một dòng họ lớn. Họ này rất phổ biến”.
Khi ông ta đi khỏi, tôi cảm thấy một sự ngọt ngào như âm nhạc, nếu như âm nhạc có thể làm cho da dẻ dễ chịu với chút se se lạnh.
Với tôi, đó là một ngày lớn hơn một ngày, không thể so sánh với các ngày khác mà mong có được sự tương đồng. Đêm qua ngủ ít nên tôi biết mình phải dừng chân. Tôi rất mệt, nhưng đôi khi sự mệt mỏi lại là một chất kích thích và một sự cưỡng thúc. Tôi buộc mình phải đổ xăng đầy bình và ép mình phải dừng xe, hỏi một cụ già da đen đang lê những gót chân nặng nề bên lề cỏ cạnh con đường bê-tông, xem cụ có muốn đi nhờ hay không. Cụ già ngần ngừ chấp thuận. Và cụ làm thế với cái vẻ kháng cự trong tuyệt vọng. Cụ mặc một bộ đồ tả tơi, kiểu đồ đồng áng, khoác chiếc áo len kiểu cổ bị sờn nhẵn do xưa cũ và mặc nhiều. Khuôn mặt cụ màu cà phê, chằng chịt đến hàng triệu nếp nhăn li ti, mi mắt dưới của cụ có những quầng màu đỏ trông như mắt chó săn. Hai tay cụ siết chặt chiếc vạt áo với những chỗ thắt gút thành từng bướu, trông như một cành anh đào. Cả người cụ co rúm trong chiếc ghế, cứ như thể cụ đã hút hết mọi thứ bên ngoài vào để làm cho mình trông nhỏ lại.
Cụ không khi nào nhìn thẳng tôi. Tôi cũng chẳng biết cụ nhìn gì. Nhưng thoạt tiên, cụ hỏi, “Chó có cắn không, thưa ông lớn”.
“Không. Nó thân thiện lắm”.
Sau một hồi im lặng kéo dài, tôi hỏi, “Cụ dạo này thế nào rồi?”
“Tốt. Dạ tốt ạ, thưa ông lớn”.
“Cụ cảm thấy thế nào về những chuyện đang xảy ra?”
Cụ già không trả lời.
“Ý tôi là về chuyện trường học và các cuộc biểu tình ấy mà”.
“Tôi không biết gì về chuyện đó cả, thưa ông lớn”.
“Cụ làm việc ở nông trang à?”
“Trồng một thửa bông, thưa ông lớn”.
“Cụ kiếm sống tốt chứ?”
“Cũng tàm tạm ạ, thưa ông lớn”.
Chúng tôi lại im lặng trên đoạn đường hướng về thượng lưu con sông. Cây cối và cỏ nhiệt đới đều héo úa, trông buồn thảm trong cái lạnh dữ dội từ miền Bắc. Sau một lúc, tôi nói, có lẽ là với chính mình hơn là với ông cụ. “Dù thế nào thì hà cớ gì cụ phải tin tôi? Mỗi câu hỏi là một chiếc bẫy và trả lời là đặt một chân vào chiếc bẫy đó”.
Tôi chợt nhớ đến một khung cảnh – một chuyện đã xảy ra ở New York – và đang sắp sửa kể cho ông cụ về nó, nhưng tôi nhanh chóng từ bỏ cơn bốc đồng này vì, từ khóe mắt, tôi thấy ông cụ đã lùi ra, co quắp lại, tựa vào mép xa của buồng lái. Nhưng ký ức là quá mạnh.
Khi đó tôi sống trong một căn nhà gạch nhỏ ở Manhattan. Nhờ dư dật được đôi chút, tôi có thuê một người giúp việc da đen. Bên góc đường phía đối diện có một quán bar và nhà hàng. Trong một buổi chiều chạng vạng mùa đông, khi lề đường bị đóng băng, tôi đứng bên cửa sổ nhìn ra ngoài và thấy một phụ nữ chếch choáng say đang bước ra khỏi quán bar, bị trượt chân trên băng và té nằm sõng soài. Cô ta cố đứng dậy nhưng lại trượt và té, đành nằm một chỗ mà khóc lóc thảm thiết. Vào lúc đó, anh chàng da đen giúp việc cho tôi đi đến góc đường, thấy người phụ nữ, và lập tức băng qua đường, cố tránh cô ta càng xa càng tốt.
Khi anh ta bước vào, tôi nói, “Này cậu em, tôi đã thấy cậu rồi. Tại sao cậu không giúp người phụ nữ kia một tay?”
“Dạ thưa ông, cô ấy đã say xỉn mà tôi lại là người da đen. Nếu tôi chạm vào cô ấy, biết đâu cô ấy hét lên là tôi hiếp dâm, và đám đông sẽ bu lại. Thử hỏi khi đó có ai mà tin tôi chứ?”
“Cậu em cũng nhanh trí nhỉ”.
“Ồ, không đâu thưa ông!” cậu ta nói. “Tôi đã được luyện tập làm một người da đen từ rất lâu rồi”.
Và giờ đây, trong Rocinante, một cách ngu ngốc, tôi đang cố gắng phá hủy cả một cuộc đời dài rèn luyện.
“Tôi sẽ không hỏi gì cụ nữa đâu”, tôi nói.
Nhưng ông cụ vẫn co rúm, bồn chồn. “Ông cho tôi xuống đây được không ạ, thưa ông lớn? Tôi sống ở gần đây”.
Tôi cho ông cụ xuống và, qua kính chiếu hậu, tôi thấy ông lê bước bên con đường. Ông cụ không hề sống gần đó, nhưng đi bộ xem ra còn an toàn hơn là ngồi trên xe cùng tôi.
Sự kiệt quệ làm cho tôi muốn lả, và tôi đã dừng xe ở một khách sạn trông dễ chịu. Những chiếc giường ở đó rất tốt, nhưng tôi không sao ngủ được. Người đàn ông mặc đồ xám đi ngang qua mắt tôi, rồi đến khuôn mặt của những Cheerleader, nhưng chủ yếu là tôi thấy ông cụ già co quắp tránh né tôi càng xa càng tốt, cứ như thể tôi mang bệnh truyền nhiễm. Và biết đâu là vậy thật. Tôi lên đường để học hỏi. Tôi đã học được những gì nào? Không một khoảnh khắc nào tôi thoát khỏi sự căng thẳng, sự trĩu nặng và nỗi sợ hãi hoang dại. Chắc chắn tôi cảm thấy nhiều hơn vì là người mới tới, nhưng nó hiện diện sẵn ở đó. Mọi người, trắng và đen, đang sống và thở cùng với nó. Mọi người, đủ mọi độ tuổi, nghề nghiệp, và tầng lớp xã hội. Với họ, tôi là một thực tế của sự tồn tại. Và áp lực đang cứ dâng lên như một ấm nước sôi. Liệu có sự thư giãn nào cho đến khi tất cả bùng nổ?
Tôi đã thấy quá ít ỏi trong cái tổng thể lớn. Tôi đã chẳng thấy được gì nhiều trong Thế chiến thứ hai: một cuộc đổ bộ trong số hàng trăm cuộc, vài trận chiến riêng rẽ, vài ngàn người chết so với hàng triệu người. Nhưng tôi đã thấy đủ và cảm nhận đủ để tin rằng chiến tranh không phải là điều lạ lẫm. Ở đây cũng thế: một giai đoạn nhỏ, một vài con người, nhưng hơi thở của sợ hãi vẫn tràn lan khắp nơi. Tôi muốn trốn thoát, có lẽ là một thái độ hèn nhát, nhưng sẽ còn là hèn nhát hơn nếu như tôi chối bỏ thực tại. Nhưng những người quanh tôi sống ở đó. Họ chấp nhận nó như một lối sống thường trực, không bao giờ biết thứ gì khác hơn, và cũng chẳng mong nó chấm dứt. Những trẻ em ở quận Cockney của London[5] đã trở nên bồn chồn khi bom ngừng rơi và vì thế mà làm rối đi một mẫu hình mà chúng đã trở nên quen thuộc.
Tôi trở mình liên tục cho đến khi Charley nổi cáu và nói “Phù” với tôi nhiều lần liền. Nhưng Charley không vướng phải những vấn đề của chúng ta. Nó không thuộc về một loài đủ khôn ngoan để làm phân rã nguyên tử, nhưng lại không đủ khôn ngoan để có thể chung sống hòa bình với nhau. Nó thậm chí chẳng biết về chủng tộc, và cũng chẳng quan tâm đến cô em mình lấy ai. Quả là một sự trái ngược. Có lần Charley si tình một con dachshund[6]. Đó là một cuộc tình thơ mộng tuy không phù hợp về mặt nòi giống, khập khiễng đến lố bịch về mặt thể trạng, và bất khả thi về mặt kỹ thuật. Nhưng Charley bất chấp tất cả những điều này. Nó yêu một cách sâu sắc và đã thử hết sức chó của nó. Thật khó mà giải thích cho một con chó về cái mục tiêu tốt đẹp và đạo đức của hàng ngàn con người tụ tập lại để nguyền rủa một con người nhỏ bé. Tôi đã từng thấy một ánh mắt chó, một ánh mắt thoáng nhanh chứa chất sự sửng sốt khinh bỉ. Và tôi tin rằng, về cơ bản, loài chó luôn nghĩ loài người là ngốc nghếch.
Tôi không chọn người trò chuyện đầu tiên của mình ngày hôm sau. Chính anh ta chọn tôi. Anh ta ngồi trên chiếc ghế ở gần tôi, ăn món hamburger mà người anh em song sinh cũng đang nằm trong tay tôi. Anh ta trạc từ ba mươi đến ba mươi lăm, cao ráo, gầy như cây que, và trông dễ ưa. Mái tóc dài suôn thẳng có màu gần như vàng xám. Anh ta để tóc dài và xem nó như báu vật, bởi lẽ anh ta chải nó bằng chiếc lược bỏ túi một cách vô tri giác và thường xuyên. Anh ta mặc bộ com-lê màu xám nhạt với đầy các vết nhăn do đi đường. Vắt trên vai anh ta là chiếc áo vét-tông. Chiếc sơ-mi trắng của anh ta mở nút ở cổ, được vậy là nhờ anh kéo xệ nút thắt của chiếc cà-vạt màu nhạt có họa tiết đường cong những cánh hoa. Tôi chưa từng nghe giọng ai đậm chất miền Nam như thế. Anh ta hỏi tôi đi đâu, và khi tôi nói đi Jackson và Montgomery, anh ta bèn xin tôi cho đi nhờ. Khi thấy Charley, anh ta thoạt tiên nghĩ tôi có mang theo một nigger trong xe. Tôi đã quá quen với kiểu nói này.
Chúng tôi ngồi vào xe một cách thoải mái. Anh ta chải lại mái tóc và khen ngợi tôi về Rocinante. “Dĩ nhiên”, anh ta nói. “Tôi có thể nói ngay ông từ miền Bắc đến”.
“Tai anh tốt thật đấy”, tôi nói và nghĩ như vậy là hóm hỉnh.
“Ồ, tôi đi cũng nhiều mà”, anh ta thừa nhận.
Tôi nghĩ mình có trách nhiệm đối với chuyện xảy ra. Nếu tôi chịu ngậm miệng lại thì có khi đã học được điều gì đó giá trị rồi. Cũng một phần tại cái đêm mất ngủ, và cả chiều dài của cuộc hành trình và sự căng thẳng nữa. Rồi, ngoài ra, Giáng sinh cũng đang tới, và tôi thấy mình cứ suy nghĩ chuyện về nhà một cách thường xuyên hơn là cần thiết.
Qua câu chuyện, chúng tôi biết được rằng tôi đang du lịch cho vui còn anh ta thì đang trên đường tìm việc làm.
“Ông từ miệt dưới lên”, anh ta nói. “Vậy ông có thấy những chuyện xảy ra ở New Orleans không?”
“Có đấy”.
“Có hay không vậy, nhất là cái bà Nellie ấy? Bà ta quả thật đã làm nổ tung hết cả lên”.
“Bà ta như vậy thật”.
“Thật là dễ chịu khi nghe ai đó làm tròn bổn phận của mình”.
Tôi nghĩ chính câu này đã làm tôi mất hết cả bình tĩnh. Lẽ ra tôi chỉ nên cau có và để hắn ta cứ nhận định thế nào hắn ta muốn. Nhưng con sâu nhỏ xấu xa của sự giận dữ bắt đầu khuấy động bên trong tôi. “Họ làm thế vì bổn phận sao?”
“Dĩ nhiên rồi, Cầu Chúa phù hộ cho họ. Phải có ai đó ngăn không cho bọn nigger chết tiệt đó đến trường chứ”. Sự hy sinh cao cả của các mụ Cheerleader đã làm cho hắn choáng ngợp. “Đã đến lúc người ta phải ngồi xuống và suy nghĩ, và đó cũng là lúc phải gội sạch tư duy để bán mạng mình cho điều gì đó mà mình tin tưởng vào”.
“Anh định làm như vậy à?”
“Chắc chắn rồi, và nhiều người khác giống như tôi cũng thế”.
“Thế anh tin tưởng vào cái gì?”
“Tôi sẽ không cho con cái của tôi đến trường học chung với đám nigger. Vâng, thưa ông. Tôi sẽ bán mạng tôi nhưng trước hết tôi phải giết một tá tên nigger chết bằm đó cái đã”.
“Anh có bao nhiêu con rồi?”
Hắn vung tay về phía tôi. “Tôi chưa có con, nhưng rồi tôi sẽ có. Và tôi hứa với ông rằng chúng sẽ không bao giờ đến trường cùng với bọn nigger”.
“Anh định bán mạng anh trước hay sau khi anh có con?”
Tôi phải dòm chừng đường nên chỉ thấy được một thoáng biểu hiện của hắn ta, và nó không hề dễ chịu. “Ông nói cứ như một tên mê nigger vậy. Lẽ ra tôi phải đoán ra trước. Đám phá hôi xuống đây để dạy dỗ chúng tôi phải sống như thế nào. Thế thì ông không thoát được đâu, thưa ông. Chúng tôi đã canh chừng bọn các ông, đám Cộng sản mê nigger”.
“Tôi vừa có được tấm ảnh bán mạng dũng cảm của anh đấy”.
“Chúa ơi, tôi đoán đúng rồi. Ông là một tên mê nigger”.
“Không, tôi không là tên mê nigger nào cả. Và tôi cũng chẳng phải là tên mê da trắng luôn, nếu như nó bao gồm các mụ Cheerleader cao quý đó”.
Khuôn mặt hắn gí rất sát vào tôi. “Ông có muốn nghe tôi nghĩ gì về ông không?”
“Không. Tôi đã nghe Nellie dùng các từ ngữ của bà ta”. Tôi đạp thắng và đưa Rocinante tạt vào lề.
Hắn có vẻ bối rối. “Ông dừng lại làm gì?”
“Đi ra”, tôi nói.
“Ồ, thì ra ông muốn đi loanh quanh”.
“Không. Tôi muốn tống cổ anh. Đi ra ngay”.
“Ông muốn chơi tôi hả?”
Tôi với tay vào khoảng trống giữa ghế ngồi và cánh cửa, nơi chẳng có vật gì.
“Thôi được, thôi được”, hắn nói rồi bước ra, sập cửa mạnh đến mức Charley phải rên lên vì phiền toái.
Tôi vọt xe đi tức thì, nhưng tôi nghe hắn la lối và qua kính chiếu hậu tôi thấy khuôn mặt căm thù và cái miệng lảm nhảm của hắn. Hắn gào lên. “Mê nigger, mê nigger, mê nigger”, cho đến khi tôi đi khuất, và tôi cũng không biết mãi bao lâu sau đó. Quả thực là tôi đã trêu tức hắn, nhưng tôi không thể nào làm khác. Tôi nghĩ khi nào người ta tuyển những nhà hòa giải thì tốt nhất là đừng có lấy tôi vào.
Tôi đón thêm một hành khách khác giữa Jackson và Montgomery, một sinh viên trẻ người da đen với khuôn mặt sắc sảo, với dáng vẻ và khí chất bồn chồn một cách dữ dội. Anh ta dắt ba cây bút máy trong túi ngực, còn túi bên trong của anh ta cộm lên bởi những tờ giấy. Tôi biết anh ta là sinh viên vì tôi có hỏi. Anh ta rất cảnh giác. Biển số xe và câu chuyện giữa chúng tôi làm anh ta thư giãn dù anh ta có vẻ chưa bao giờ thư giãn.
Chúng tôi thảo luận về các cuộc biểu tình ngồi. Anh ta đã tham gia chúng, và cả trong vụ tẩy chay xe buýt. Tôi nói anh ta biết những gì tôi đã thấy ở New Orleans.
Anh ta đã từng ở đó. Anh ta đoán được điều gì khiến tôi bị sốc.
Cuối cùng, chúng tôi nói về Martin Luther King[7] và những rao giảng của ông về sự kháng cự thụ động nhưng không ngừng nghỉ.
“Nó quá chậm”, anh ta nói. “Nó mất quá nhiều thời gian”.
“Đã có những cải thiện, những cải thiện không ngớt, Gandhi[8] đã chứng minh rằng đó là vũ khí duy nhất có thể giúp chiến thắng trước bạo lực”.
“Tôi biết tất cả những điều đó. Tôi đã nghiên cứu nó. Nhưng thành quả đạt được chỉ như những giọt nước. Tôi muốn nó nhanh hơn. Tôi muốn có hành động, hành động ngay bây giờ”.
“Điều đó có thể làm hỏng tất cả mọi thứ”.
“Tôi có thể trở thành một ông lão trước khi kịp thành người đàn ông. Tôi có thể chết trước đó”.
“Đúng vậy. Và Gandhi đã chết. Có nhiều người muốn hành động như anh không?”
“Có chứ. Ý tôi là, một số người... Ý tôi là, tôi không biết có bao nhiêu nữa”.
Rồi chúng tôi nói với nhau rất nhiều chuyện. Anh ta là một thanh niên sôi nổi và nói năng lưu loát với sự băn khoăn và quyết liệt ở ngay dưới bề mặt. Nhưng khi tôi thả anh ta xuống ở Montgomery, anh ta chồm qua cửa sổ buồng lái và mỉm cười. “Đó chỉ là suy nghĩ ích kỷ thôi. Nhưng tôi muốn thấy điều đó, tức thấy chính tôi – không chết. Đây! Tôi đây! Tôi muốn thấy điều đó – thật sớm”. Anh ta quay ngoắt lại, lấy tay chùi mắt rồi bước đi thật nhanh.
Với tất cả những cuộc bầu cử và thăm dò dư luận, với những tờ báo có nhiều ý kiến hơn tin tức khiến chúng ta không còn biết tờ nào với tờ nào nữa, tôi muốn một chuyện phải thật rõ ràng. Tôi không có ý định trình bày ra – cũng không có ý nghĩ rằng mình đã trình bày – mọi dạng lát cắt khiến độc giả có thể nói: “Ông ta tưởng mình đang trình bày bức tranh thực của miền Nam cơ đấy”. Không. Tôi chỉ nói lại những điều mà một vài người đã nói với tôi và những điều tôi đã thấy. Tôi không biết chúng có tiêu biểu hay không và từ đó có thể rút ra kết luận gì hay không. Nhưng tôi biết đó là một nơi có vấn đề và người dân đang mắc kẹt ở đó. Và tôi biết rằng giải pháp, khi xuất hiện, sẽ chẳng dễ dàng và đơn giản gì. Tôi có cùng cảm nghĩ với Ông Ci Gît rằng kết cục còn là điều chưa thể bàn tới. Đó là một cứu cánh – một sự bất định đáng sợ của cứu cánh.
❀ ❀ ❀
[1] Con phố nổi tiếng của New Orleans.
[2] Một công thức pha cà phê có trộn rượu brandy.
[3] Đây là câu văn bia nổi tiếng khó hiểu, viết bằng ngôn ngữ cổ, khắc trên mộ của Robert John Cresswell. Nguyên văn là: Alas that one whose darnthly joy had often to trust in heaven should canty thus sudden to from all its hopes benivens and though thy love for off remore that dealt the dog pest thou left to prove thy sufferings while below. Phần dịch ở trên chỉ có tính tượng trưng.
[4] Họa sĩ El Greco (1541-1614) nổi tiếng với bức tranh sơn dầu thể hiện thánh Pablo đang suy tư cầm cuốn sách khép lại. Ở đây, tác giả vừa ví người đàn ông với một người Hy Lạp (El Greco) vừa so sánh vẻ trầm tư của ông với thánh Pablo trong bức họa.
[5] Một trong những quận ở London bị Đức Quốc Xã dội bom dữ dội nhất trong Thế chiến thứ hai.
[6] Giống chó nhỏ của Đức, mình dài, lông nân hoặc đen, chân ngắn.
[7] Mục sư kiêm nhà hoạt động dân quyền người Mỹ gốc Phi, đoạt giải Nobel hòa bình năm 1964.
[8] Lãnh tụ cuộc kháng chiến của nhân dân Ấn Độ chống chế độ thực dân Anh bằng nguyên tắc bất bạo động.