Màn đêm chất chứa những điềm báo chẳng lành. Bầu trời buồn bã đã biến dòng nước nhỏ thành một khối kim loại nguy hiểm. Và rồi gió từ đâu dâng lên – không phải là gió bão, gió lốc vùng bờ biển mà tôi từng biết. Đó là một cơn gió quét bùng nổ một cách bột phát và không gì có thể ngăn nổi nó trong vòng bán kính một ngàn sáu trăm ki-lô-mét. Vì đó là một cơn gió lạ, và vì thế mà bí ẩn đối với tôi, nó cũng gợi nên những đáp ứng đầy bí ẩn trong tôi. Về lý mà nói, nó chỉ lạ vì tôi thấy nó lạ. Nhưng phần lớn kinh nghiệm của chúng ta, mà ta cho là không thể giải thích, đều diễn ra như thế. Theo sự hiểu biết chắc chắn của tôi, nhiều người đã che giấu những trải nghiệm vì sợ mình trở nên lố bịch. Có bao nhiêu người từng thấy hoặc nghe hoặc cảm giác một điều gì làm tổn thương cảm xúc của họ đến nỗi toàn bộ điều đó được họ quét đi thật nhanh giống như bụi bặm dưới tấm thảm?
Với tôi thì tôi để ngỏ đường cho cả những thứ mà tôi không thể hiểu hoặc giải thích, nhưng điều đó chẳng dễ gì trong thời khắc kinh hoàng này. Vào giây phút này, ở Bắc Dakota, tôi đang chần chừ chẳng muốn lái xe đi tiếp và sự chần chừ đó đang tích tụ thành nỗi sợ. Cùng lúc đó, Charley lại muốn đi. Quả thật nó đã làm náo loạn mọi thứ để đòi đi, đến mức tôi phải ra sức lý sự với nó.
“Nghe này, Charley. Trong tao có sự thôi thúc rất lớn phải ở lại giống như có lệnh trời vậy. Nếu tao không tuân theo, cứ đi và một cơn bão tuyết lớn ập xuống chúng ta, tao sẽ hối hận vì phớt lờ lời cảnh báo. Còn nếu như tao ở lại và bão tuyết ập xuống thì tao sẽ chắc chắn là số tao nó thế”.
Charley hắt hơi và chạy quanh không ngừng nghỉ. “Thôi được, chó quậy, ta xem xét từ phía mày vậy nhé. Mày muốn đi chứ gì. Giả sử ta đi, và trong đêm một thân cây đổ xuống ngay tại chỗ mà ta đang đứng đây. Thế thì kẻ được thần thánh chiếu cố chính là mày rồi. Khả năng đó luôn luôn có. Tao có thể kể mày nghe hàng lô lốc những câu chuyện về những con vật trung thành đã cứu chủ, nhưng tao nghĩ mày sẽ thấy chán phèo mà tao thì cũng không muốn tâng bốc mày làm gì”. Charley ngước nhìn tôi bằng cặp mắt hoài nghi nhất. Tôi nghĩ nó chẳng thuộc loại lãng mạn mà cũng chẳng mê tín gì. “Tao biết ý mày rồi. Nếu ta đi và không có cái cây nào rơi xuống, hoặc ta ở lại và không có bão tuyết nào cả... vậy thì sao nào? Để tao nói mày nghe. Ta quên béng toàn bộ tình tiết này đi và chuyện tiên tri sẽ chẳng bị làm sao cả. Tao bỏ phiếu ở. Mày bỏ phiếu đi. Nhưng do tao ở gần đỉnh cao tạo hóa hơn mày, mà lại còn là chủ nhân của mày nữa, nên lá phiếu của tao là quyết định”.
Chúng tôi ở lại và chẳng có bão tuyết hay cây rơi nào, nên đương nhiên chúng tôi quên luôn toàn bộ sự việc và sẵn sàng hơn để đón nhận mọi linh cảm thần bí khi nào mà chúng tới. Và vào buổi sáng sớm trời quang mây tạnh, trên mặt đất dày tuyết trắng, phủ sương giá, chúng tôi lạo xạo dong xe ra đường. Toa xe nghệ thuật kia vẫn tối mù, nhưng từ bên trong có tiếng chó sủa khi chúng tôi ra đến mặt đường.
Hình như có ai đó đã kể cho tôi nghe về sông Missouri ở Bismarck, Bắc Dakota, hay tôi đã từng đọc về nó. Dù là trường hợp nào thì tôi cũng đều đã không chú ý. Tôi sững sờ khi đến đó. Đây hẳn phải là nơi nằm trên nếp gấp bản đồ, hẳn phải là ranh giới giữa Đông và Tây. Phía bên Bismark là phong cảnh miền Đông, cây cỏ miền Đông, với cả dáng vẻ lẫn mùi vị của miền Đông nước Mỹ. Vượt qua sông Missouri, phía bên Mandan, là một khung cảnh thuần túy miền Tây, với cỏ nâu, rãnh nước và những mô đất nhỏ. Hai bên bờ của một con sông mà sao như cách nhau ngàn dặm. Do tôi không chuẩn bị cho cái ranh giới Missouri này, nên tôi cũng không hề chuẩn bị cho Bad Lands[1]. Cái tên sao mà xứng thế! Nó giống như tác phẩm của một đứa bé hư đốn. Một nơi như thế này ắt hẳn là do các thiên thần lạc bước xây nên để trêu ngươi Thượng đế. Nó vừa khô vừa lạnh, vừa hoang vu vừa nguy hiểm, và với tôi còn mang đầy những điềm gở. Có thể cảm thấy rằng nó không ưa và cũng chẳng nghênh đón loài người. Nhưng loài người có ý chí của loài người và tôi là một con người. Tôi rời đường cao tốc đi vào một con đường đá, cắm đầu len lỏi giữa các mô đất, nhưng với một sự thẹn thùng như thể mình vừa phá tan một bữa tiệc. Mặt đường cấu xé các bánh xe của tôi một cách dữ dội và làm cho các nhíp xe quá tải của Rocinante kêu rên thảm thiết. Quả là một nơi lý tưởng cho những bầy người hang động, hay đúng hơn, cho những người khổng lồ độc ác. Và ở đây có một điều kỳ lạ. Tôi càng cảm thấy không được chào đón ở miền đất này thì càng do dự chẳng muốn viết về nó.
Lúc này tôi thấy có một anh chàng đang đứng tựa vào một hàng rào bằng hai sợi kẽm gai. Các sợi kẽm gai này không gắn vào cọc mà vào những cành cây cong queo chôn xuống đất. Chàng trai đội một chiếc nón sẫm, mặc quần jean, áo khoác dài “wash” màu xanh nhạt với những chỗ bạc màu ở cùi chỏ và đầu gối. Đôi mắt xám nhạt của anh ta như bị nắng chói làm bất động và da của anh ta thì săn như da rắn. Một khẩu .22 gác lên hàng rào cạnh anh ta, còn trên mặt đất là một đống lông chim và lông thú – thỏ và các loài chim nhỏ. Tôi trờ tới để bắt chuyện với anh ta. Đôi mắt anh ta vuốt ve Rocinante, soi đến từng chi tiết, rồi thụt trở lại hốc mắt. Và tôi chợt thấy mình chẳng có gì để nói với anh chàng này cả. Những câu như “Có vẻ như mùa đông đến sớm nhỉ”, hay “Có chỗ nào gần đây câu cá tốt không?” có vẻ chẳng phù hợp. Thế nên chúng tôi chỉ đơn giản là gườm gườm nhìn nhau.
“Xin chào!”
“Chào ông”, anh ta nói.
“Có nơi nào gần đây bán trứng không?”
“Gần đây thì không. Ông muốn thì ra tít Galva hoặc tới Beach”.
“Tôi đang thèm ăn trứng gà tươi”.
“Chỉ có bột trứng thôi”, anh ta nói. “Tôi có bột trứng hiệu Bà Gets”.
“Sống ở đây lâu chưa?”
“Lâu”.
Tôi chờ anh ta hỏi gì đó hay nói gì đó để khởi đầu câu chuyện, nhưng anh ta im như thóc. Và vì sự im lặng cứ tiếp diễn nên càng lúc càng khó nghĩ ra điều gì đó để mà nói.
Tôi thử thêm lần nữa. “Mùa đông ở đây có lạnh không?”
“Lạnh”.
“Anh nói nhiều nhỉ”.
Anh ta toét miệng cười. “Bà xã tôi cũng bảo thế”.
“Tạm biệt”, tôi nói, rồi gài số đi tới. Qua tấm kính chiếu hậu, tôi thấy anh ta nhìn theo tôi. Có thể anh ta chẳng phải là một người Bad Lands tiêu biểu, nhưng lại là một trong những người dân ít ỏi nơi đó mà tôi gặp.
Đi xa hơn một chút, tôi dừng trước một căn nhà nhỏ trông như một cái trại lính dự bị, nhưng lại sơn trắng viền vàng. Bên cạnh là vết tích sắp tan biến của một căn vườn với những cây phong lữ rũ trong sương giá và lèo tèo vài bụi hoa cúc với những nụ nho nhỏ màu vàng và đỏ-nâu. Tôi bước trên lối vào mà trong đầu biết chắc có ai đó đang nhìn tôi từ sau những tấm rèm cửa sổ màu trắng. Một bà cụ ra tiếp khi tôi gõ cửa. Khi tôi xin nước, bà cho tôi uống và bắt đầu hỏi han và nói liên tục, không để tôi mở miệng. Bà ta nói một cách thèm khát, một cách cuống cuồng, về những người thân của bà, về bạn bè của bà và về việc bà không sao quen được với nơi này. Bởi lẽ bà không phải là người ở đây và không thực sự thuộc về nơi đây. Quê của bà là một nơi có sữa, có mật ong, có những loài linh trưởng, ngà voi và những con công. Giọng của bà liến thoắng như thể bà quá khiếp sợ cái viễn cảnh sự im ắng sẽ trở lại ngay sau khi tôi ra đi. Khi bà nói, tôi chợt nghĩ bà sợ hãi nơi đây và, nghĩ thêm nữa, cả tôi cũng cảm thấy sợ hãi. Tôi cảm thấy mình không muốn bị kẹt lại đây vào ban đêm.
Tôi rơi vào trạng thái muốn xa chạy cao bay khỏi cái phong cảnh kỳ dị này. Và rồi, buổi chiều muộn đã làm thay đổi tất cả. Khi mặt trời xuống thấp, những ụ đất và khe sâu, những vách đá, những ngọn đồi và hẻm núi khúc khuỷu chợt mất đi cái vẻ cháy nắng và dễ sợ của chúng. Chúng ánh lên dìu dịu một sắc vàng và nâu cùng hàng trăm sắc thái khác nhau của màu đỏ, màu xám bạc, tất cả nổi lên nhờ những đường vân đen nhánh. Nó đẹp quá mức khiến tôi phải dừng lại gần những cây tuyết tùng và bách xù thấp bé bị gió thổi oằn, bàng hoàng trước sự trong vắt của ánh sáng. Trên nền mặt trời lặn, những ngôi nhà trông tối đen và sắc nét. Trong khi đó, ở hướng đông, nơi ánh sáng tự do đổ chênh chếch, là một phong cảnh kỳ lạ tràn trề màu sắc. Ban đêm không còn chút gì đáng sợ mà lại tuyệt vời ngoài cả sức tưởng tượng. Bởi lẽ các vì sao ở ngay sát trên đầu, và mặc dù trời không trăng, ánh sáng sao vẫn tạo ra một vầng bàng bạc trên bầu trời. Vì niềm vui thuần khiết, tôi gom một mớ cành tuyết tùng khô, nhóm một ngọn lửa nhỏ chỉ để ngửi mùi thơm gỗ cháy và nghe những tiếng lách tách dễ chịu của cành khô. Đám lửa tạo thành một quầng vàng trên đầu tôi, và gần đó tôi nghe có tiếng cú săn mồi kêu inh ỏi và cả tiếng sủa của sói đồng cỏ, không hề là tiếng tru mà là tiếng sủa trăng ngắn, giật cục. Đó là một trong những nơi ít ỏi tôi thấy ban đêm thân thiện hơn ban ngày. Và tôi dễ dàng hiểu ra vì sao người ta bị thôi thúc phải trở lại Bad Lands.
Trước khi ngủ, tôi trải một tấm bản đồ ra giường, tấm bản đồ bị Charley vọc nát. Beach ở không xa lắm, và đó hẳn là nơi tận cùng của Bắc Dakota. Kế tiếp là Montana, nơi tôi chưa từng đến. Đêm đó lạnh đến mức tôi phải mặc vào những đồ lót chống lạnh bên trong bộ pyjama. Và khi Charley làm xong các bổn phận của nó, xơi hai chiếc bánh quy, uống bốn lít nước như thường lệ và cuối cùng cuộn mình ở chỗ nằm của nó dưới gầm giường, tôi lấy ra một chiếc chăn dự trữ và đắp cho nó, trùm khắp cả mình chỉ chừa ra cái mũi. Nó thở phì, hơi vặn mình, phát ra một tiếng rên hoàn toàn khoan khoái ngất ngây. Và tôi nghĩ chẳng hiểu sao trong suốt cuộc hành trình tôi cứ tìm thứ này là lại gặp thứ khác. Vào ban đêm Bad Lands đã trở thành Good Lands[2]. Tôi không thể giải thích được. Nó là như thế.
❀ ❀ ❀
[1] Nghĩa là đất xấu.
[2] Nghĩa là đất tốt.