Tôi, Charley Và Hành Trình Nước Mỹ

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 5 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
7

❊ ❊ ❊

Tôi còn nhớ hồi bé, khi đọc hoặc nghe nói về “Đại phân tuyến”[1], tôi luôn sửng sốt trước âm hưởng hoành tráng của cụm từ này để mô tả cột xương sống granite của lục địa. Trong tâm trí, tôi hình dung ra những vách dốc đứng dâng cao đến tận mây xanh, một dạng Vạn lý Trường thành tự nhiên. Những dải núi đá đều quá lớn, quá dài, quá đồ sộ đến hơn cả hùng vĩ. Ở Montana, nơi tôi vừa đi qua, sự dâng cao diễn ra từ từ, và nếu như không có dấu sơn thì tôi sẽ chẳng đời nào biết mình đã băng qua Đại phân tuyến vào lúc nào. Nó không cao như một dốc đứng. Tôi băng qua nó khi thấy dấu sơn, nhưng tôi đã dừng lại, lui xe, ra ngoài và đứng dang chân qua nó. Khi tôi đứng trên nó, quay mặt về hướng nam, trong tôi có một cảm xúc kỳ lạ khi biết rằng nước mưa rơi trên chân phải của tôi sẽ ra đến Thái Bình Dương, trong khi nước mưa rơi trên chân trái của tôi sẽ vượt qua muôn vàn dặm để ra Đại Tây Dương. Nơi đây chẳng có ấn tượng gì đặc biệt so với việc nó mang một thực tế kỳ diệu như thế.

Đến miền đất cao ráo và hiểm trở này, ta không thể nào không nghĩ đến những người đầu tiên đã băng qua nó, các nhà thám hiểm người Pháp, những người đi theo đoàn của Lewis và Clark[2]. Chúng ta có thể bay qua đó trong năm giờ, lái xe qua đó trong một tuần, nhởn nhơ thăm thú nó như tôi đang làm trong một tháng hay sáu tuần. Nhưng Lewis và Clark cùng đội của họ đã xuất phát từ St. Louis vào năm 1804 và quay về vào năm 1806. Và nếu nghĩ về mình như con người, ta hẳn phải nhớ rằng trong suốt hai năm rưỡi dấn bước trong hoang dã và vượt qua những miền đất xa lạ để lần mò đến Thái Bình Dương, chỉ có duy nhất một người chết và một người bỏ cuộc. Và bây giờ thì chúng ta chỉ chực đau ốm nếu việc giao sữa bị chậm trễ và chực chết vì đau tim nếu như thang máy bị hỏng. Những người đàn ông đó đã nghĩ gì khi một thế giới mới thực thụ mở ra ở phía trước? Hay sự tiến triển đã diễn ra chậm chạp đến mức tác động của cái mới cũng thất lạc mất luôn? Tôi không tin là họ không có ấn tượng nào. Chắc chắn bản báo cáo của họ gửi về cho chính phủ là một tài liệu đầy phấn khích. Họ không hề lúng túng. Họ biết rõ mình đã tìm ra được gì.

Tôi lái xe băng qua ngón tay cái giương lên của Idaho, vượt qua những dải núi thực thụ cao vun vút, dày đặc những ngọn thông và ngập sâu trong tuyết. Chiếc đài của tôi đã tắc tị và tôi nghĩ là nó đã bị hỏng, nhưng thật ra chỉ là vì những vách đá cao đã ngắt sóng vô tuyến. Tuyết bắt đầu rơi nhưng tôi vẫn may mắn vì đó là một cơn tuyết lớt phớt. Không khí nhẹ hơn so với phía bên kia của Đại phân tuyến, và tôi nhớ có đọc đâu đó về những luồng không khí ấm từ dòng hải lưu Nhật Bản xâm nhập sâu vào nội địa. Những tầng cây thấp mọc rất dày, rất xanh, và khắp nơi đều có nước chảy. Đường đi vắng tanh, thoảng hoặc mới có những tốp người đi săn đội nón đỏ, mặc áo khoác vàng, đôi lúc với một con nai hoặc hươu trùm mền trên nóc xe. Vài ngôi nhà gỗ miền sơn cước nhô ra từ những bờ dốc đứng, nhưng cũng chẳng phải là nhiều nhặn gì.

Tôi dừng lại rất nhiều lần vì Charley. Nó đang gặp những khó khăn ngày càng lớn trong việc xả xú-páp, điều mà những người đồng tính nam hay gọi là hội chứng đáng buồn của việc bí tiểu. Điều này đôi lúc làm cho nó đau đớn và luôn khiến nó ngượng ngùng. Hãy nghĩ về con chó này với bầu nhiệt huyết lớn, với điệu bộ hào hoa phong nhã, và ít nhiều uy phong. Nó không chỉ đau về thể xác mà cảm xúc của nó cũng bị tổn thương. Tôi dừng lại ven đường, để nó đi lang thang và tử tế quay lưng lại với nó. Nó làm việc ấy rất lâu. Nếu là một con người giống đực thì tôi hẳn đã nghĩ là người này mắc chứng tiền liệt tuyến. Charley là một quý ông cao niên thuộc trường phái Pháp. Người Pháp chỉ thừa nhận có vụ này và vụ gan yếu là bệnh tật.

Cho nên, trong khi chờ đợi nó, giả tảng như đang ngắm nghía cỏ cây và những lạch nước nhỏ, tôi cố ghép lại cuộc hành trình thành một mảnh duy nhất, thay vì là một chuỗi các sự kiện. Tôi đã phạm sai lầm nào? Liệu nó có diễn ra như mong muốn? Trước khi đi, tôi đã được dạy dỗ, hướng dẫn, chỉ bảo và tẩy não bởi rất nhiều người bạn. Một người trong số này là một phóng viên chính trị có tiếng và rất được trọng vọng. Anh ta đã từng la cà, đồng vai phải lứa với những ứng viên tổng thống, và khi tôi gặp anh ta thì anh ta không được vui vẻ lắm. Đó là vì anh ta yêu đất nước mình và cảm thấy nó đang mắc bệnh. Tôi có thể nói luôn rằng anh ta là một người tuyệt đối lương thiện.

Anh ta cay đắng nói, “Nếu đâu đó trong cuộc hành trình, anh gặp một người quả cảm, xin anh hãy ghi lại. Tôi muốn gặp người đó. Đâu đâu tôi cũng chỉ thấy những loại người đớn hèn và thủ đoạn. Thế mà đây đã từng là một đất nước của những vĩ nhân. Họ đã đi đâu hết cả rồi? Anh không thể bảo vệ đất nước bằng một hội đồng quản trị. Việc ấy cần những người đàn ông. Họ đâu hết cả rồi?”

“Chắc là phải ở đâu đó”. Tôi nói.

“Thôi được, ta hãy thử moi ra một vài người xem sao. Chúng ta đang cần họ. Tôi thề có Chúa chứng giám, những người duy nhất có chút can đảm trên đất nước này là người da đen, anh nghĩ có đúng không?” anh ta nói. “Tôi không có ý loại người da đen khỏi cuộc luận bàn về anh hùng, nhưng tôi sẽ quá quắt nếu muốn họ độc chiếm thị trường. Anh chỉ cần đào ra cho tôi mười người Mỹ da trắng có năng lực mà không sợ hãi vì có một niềm tin mạnh mẽ, một ý tưởng, hay ý kiến trong một lĩnh vực không phổ biến, và tôi sẽ tạo ra được phần chính yếu của quân đội thường trực”.

Sự bức xúc của anh ta trong chuyện này gây ấn tượng cho tôi, cho nên tôi đã thử nghe ngóng và quan sát dọc đường. Và quả thật là tôi đã không nghe thấy nhiều sự xác tín. Tôi chỉ thấy có hai vụ những người đàn ông thứ thiệt choảng nhau, bằng nắm đấm hẳn hoi và với một sự hăng hái không đúng chỗ. Nhưng cả hai vụ này đều dính dấp đến phụ nữ.

Charley trở về với cái vẻ hối lỗi vì đã làm mất nhiều thời gian. Tôi ước mình có thể giúp nó nhưng nó muốn ở một mình. Và tôi chợt nhớ một điều khác mà anh bạn tôi đã nói.

“Từng có một thứ hay một món hàng mà chúng ta luôn đề cao. Thứ đó được gọi là Nhân dân. Nhân dân đã đi đâu cả rồi. Tôi không nói đến thứ Nhân dân dung tục. Có thể họ chưa bao giờ tồn tại, nhưng nếu đã từng có Nhân dân thì đó chính là món hàng mà Bản tuyên ngôn đã nói đến, và cả Ông Lincoln nữa. Nhân tiện, tôi có biết một vài người chân chính, nhưng không nhiều. Bản Hiến pháp có ngớ ngẩn quá không khi viết cho một người trẻ tuổi mà cuộc đời quay quanh tiếng huýt sáo, cái nháy mắt, và keo vuốt tóc Wildroot?”

Tôi nhớ mình đã vặn lại, “Có thể Nhân dân là những người đã từng sống cách đây một thế hệ”.

Charley bị cóng. Tôi phải giúp nó leo lên ca-bin của Rocinante. Rồi chúng tôi đi lên núi. Một cơn tuyết rất nhẹ lất phất như làn bụi trắng. Đêm đang đến sớm hơn, tôi nghĩ vậy. Ngay dưới lưng đèo, tôi dừng xe để đổ xăng tại một cụm nhỏ những ca-bin lắp ghép dạng đủ-thứ-dịchvụ, đó là những nhà hộp hình vuông, mỗi nhà có một bậc thang, một cánh cửa và một cửa sổ, và chẳng có vết tích nào của vườn tược hay đường đi trải sỏi cả. Cái chuỗi cửa hiệu liên hoàn nho nhỏ này, gồm cửa hiệu sửa chữa, phòng ăn phía sau cột bơm xăng, nhìn cũng mất cảm tình như tất cả các chuỗi cửa hiệu tôi từng thấy. Những biển hiệu màu xanh của quán ăn trông cũ kỹ, trên đó lưu lại những dấu tích của nhiều mùa hè đã qua. “Bánh nướng giống như của mẹ làm, nếu mẹ biết nấu bánh”. “Chúng tôi không nhìn miệng bạn, xin đừng nhìn vào nhà bếp của chúng tôi”. “Không nhận chi phiếu, trừ khi có kèm dấu vân tay”. Những câu nói chuẩn theo lối cũ. Ở đây chắc là không có giấy kính bọc trên các món ăn.

Không ai bước ra cột bơm xăng cả, nên tôi đi vào nhà ăn. Có tiếng cãi vã vọng ra từ phòng sau mà có lẽ là nhà bếp: một giọng trầm và một giọng nam nhẹ nhàng hơn thỉnh thoảng cự cãi lại. Tôi cất tiếng gọi, “Có ai ở đây không?” và các giọng nói ngừng bặt. Rồi một người đàn ông lực lưỡng bước qua cửa, chưa hết cau có bởi cuộc cãi vã.

“Ông muốn gì?”

“Đổ xăng. Nhưng nếu các ông có một ca-bin, tôi có thể trọ qua đêm”.

“Ông chọn đi. Ở đây chẳng có ma nào”.

“Tôi tắm rửa được không?”

“Tôi sẽ đem cho ông một xô nước nóng. Giá mùa đông là hai đô-la”.

“Tốt. Có gì ăn không?”

“Giăm-bông đút lò, đậu và kem”.

“Được thôi. Tôi có con chó”.

“Đất nước này tự do mà. Các ca-bin đều mở cửa. Ông cứ việc chọn. Hãy gọi nếu ông cần thứ gì”.

Không hề có nỗ lực nào để làm cho các ca-bin đỡ thiếu tiện nghi và đỡ xấu xí hơn. Giường thì cập kễnh, các vách tường thì màu vàng bẩn, rèm cửa giống như váy lót của một phụ nữ nhếch nhác. Và căn phòng khi đóng cửa thì có một mùi hỗn hợp giữa chuột và hơi ẩm, giữa mốc meo và những bụi bặm rất, rất xưa. Nhưng được cái là khăn trải giường sạch sẽ và những lỗ thông gió nhỏ giúp tẩy đi ký ức về những người từng cư trú. Một bóng đèn trần trụi treo lủng lẳng trên trần, và căn phòng được sưởi bằng lò đốt dầu hỏa.

Có tiếng gõ cửa, và tôi đón vào một chàng trai trạc hai mươi, mặc quần vải fla-nen xám, đi giày hai màu, đeo cà-vạt lớn chấm bi, khoác áo cộc tay có huy hiệu trường trung học Spokane. Mái tóc đen nhánh và sáng loáng của anh ta là cả một tuyệt tác của sự chải chuốt, phần tóc phía trước chải ngược ra sau, đan vào những lọn tóc dài xõa xuống hai bên, chỉ chừa ra đôi tai. Anh ta là một cú sốc đối với tôi sau khi đã tiếp xúc với gã chằn tinh ở quầy ăn.

“Nước nóng của ông đây”, anh ta nói, và đó chính là giọng nói của người cãi cọ thứ hai. Cánh cửa để ngỏ và tôi thấy ánh mắt anh ta lướt trên Rocinante rồi dừng lại ở bảng số.

“Ông đến từ New York thật à?”

“Phải”.

“Tôi mong khi nào đó sẽ đến đấy”.

“Mọi người ở đó đều mong đến đây”.

“Để làm gì? Ở đây thì có gì mà xem. Chỉ thiếu điều mục ruỗng ra mà thôi”.

“Mục ruỗng thì ở đâu chẳng thế”.

“Ý tôi là ở đây chẳng có cơ hội phát triển nào”.

“Anh muốn phát triển chuyện gì nào?”

“Thôi được, ông biết đấy, ở đây không có nhà hát và âm nhạc, chẳng có ai để trò chuyện. Thậm chí đến các tạp chí mới cũng khó mà có được trừ phi đặt mua dài hạn”.

“Vậy anh đọc The New Yorker à?”

“Sao ông biết? Tôi đặt mua dài hạn tờ đó đấy”.

“Còn tạp chí Time?”

“Dĩ nhiên”.

“Anh chẳng cần phải đi đâu cả”.

“Xin lỗi?”

“Anh đã có cả thế giới trong tầm tay anh rồi còn gì, thế giới thời trang, thế giới nghệ thuật, thế giới tư tưởng... ngay sau sân nhà anh. Anh mà đi thì chỉ cảm thấy rối tung lên mà thôi”.

“Ai cũng muốn nhìn tận mắt cả”, anh ta nói.

Tôi thề là anh ta đã nói như thế.

“Đó là cha của anh à?”

“Vâng, nhưng tôi giống mồ côi cha hơn. Ông ta chỉ thích câu cá, săn bắn và nhậu nhẹt”.

“Còn anh thì thích gì?”

“Tôi muốn bước ra thế giới. Tôi đã hai mươi tuổi rồi. Tôi phải tính chuyện tương lai của mình chứ. Vì chuyện đó mà ông ta quát nạt tôi. Ông ta không thể nói bất cứ điều gì mà không quát nạt. Ông ăn cùng chúng tôi chứ?”

“Dĩ nhiên”.

Tôi chậm rãi tắm với chiếc xô sắt mạ cũ kỹ. Trong một thoáng tôi đã nghĩ đến việc lục ra các bộ đồ New York để đem lại chút cảm hứng cho cậu nhóc, nhưng tôi bỏ ý tưởng này và mặc vào chiếc quần vải bông, áo dệt kim.

Khuôn mặt lực lưỡng của ông chủ đỏ nhừ như quả mâm xôi chín khi tôi bước đến quầy ăn. Ông ta hất hàm nói. “Rắc rối còn chưa đủ hay sao mà ông còn đến từ New York”.

“Điều đó không tốt à?”

“Với tôi thì là thế. Tôi vừa mới dập cho thằng nhóc câm mõm thì ông đến châm thêm dầu vào lửa”.

“Tôi chẳng tán tụng gì New York cả”.

“Phải, nhưng ông từ đó đến, và bây giờ thì nó lại sôi sục lên nữa rồi. Chết tiệt, được cái quái gì? Nó chẳng có tích sự gì ở đây cả. Vào đi, ông ăn với chúng tôi trong kia cũng được”.

Trong kia ở đây là nhà bếp, kho thực phẩm, nơi cất chén đĩa, kiêm phòng ăn. Và chiếc giường con trải tấm mền quân đội biến nó thành cả phòng ngủ. Một chiếc bếp củi cổ lỗ sĩ đang kêu lách tách, rì rì. Chúng tôi ngồi quanh chiếc bàn vuông phủ khăn vải dầu màu trắng, đầy vết dao khứa. Chàng trai trông căng thẳng khi bưng lên những chén súp đậu Hà Lan sủi bọt và thịt ba rọi.

“Tôi muốn một cây đèn đọc sách có được không?”

“Khỉ thật, khi đi nằm thì tôi cũng ngắt máy phát điện luôn rồi. Để tôi cho ông mượn cây đèn sáp. Nhúc nhích coi. Lấy món giăm-bông nướng trên lò ra đây”.

Chàng trai đầy tâm trạng phục vụ món đậu một cách hờ hững.

Ông mặt đỏ lên tiếng. “Tôi cứ tưởng nó học hết trung học là xong xuôi hết cả, nhưng nó đâu có chịu. Robbie nhà ta không chịu. Nó học thêm lớp ban đêm, trời ạ, không phải là ở nhà trường. Nó tự trả học phí cơ đấy. Chả hiểu nó lấy tiền đâu ra”.

“Nghe cũng có chí đấy chứ”.

“Có chí cái khỉ mốc. Ông biết nó học cái gì không? Học làm đầu. Không phải hớt tóc mà làm đầu... cho phụ nữ ấy. Giờ thì ông hiểu vì sao tôi lo rồi chứ”.

༺༒༻

Robbie dừng tay, quay đầu lại. Bàn tay phải của anh ta bấu chặt con dao xắt thịt. Anh ta tìm kiếm trên khuôn mặt tôi sự khinh khi mà anh ta nghĩ ắt phải có.

Tôi cố tỏ ra vừa nghiêm nghị, vừa đăm chiêu, mà cũng vừa lấp lửng. Tôi sờ râu, một dấu hiệu của sự tập trung. “Cho dù tôi có nói gì, một trong hai cha con các anh cũng sẽ trút giận lên đầu tôi. Các anh làm tôi kẹt cứng ở giữa rồi”.

Ông bố thở dài đánh thượt, từ từ nói. “Nhân danh Chúa, ông có lý”. Rồi ông cười khan một tiếng và sự căng thẳng lập tức rời căn phòng.

Robbie bê những đĩa thịt nướng lại bàn và mỉm cười với tôi, tôi nghĩ đó là một nụ cười biết ơn.

“Bây giờ chúng tôi hết sửng cồ với nhau rồi, ông nói thử xem ông nghĩ gì về cái trò làm đầu cho mấy người đẹp này?”, ông bố hỏi.

“Ông sẽ không thích nghe những gì tôi nói đâu”.

“Ông chưa nói sao biết tôi thích hay không”.

“Được thôi, nhưng tôi ăn nhanh cho xong cái đã, biết đâu tôi phải bỏ chạy thì sao?”

Tôi làm sạch chỗ đậu và phân nửa món thịt nướng rồi mới trả lời ông ta.

“Thế này nhé”, tôi nói. “Ông đã nêu ra một chủ đề mà cả tôi cũng đã suy nghĩ rất nhiều. Tôi biết rất nhiều bà nhiều cô – đủ mọi lứa tuổi, vóc dáng, tính tình – và chẳng có người nào giống người nào cả, chỉ trừ có một thứ duy nhất, đó là người thợ làm đầu. Theo thiển ý của tôi thì thợ làm đầu là người có ảnh hưởng nhất trong bất cứ cộng đồng nào”.

“Ông đùa đấy à?”

“Tôi không đùa. Tôi đã làm một nghiên cứu sâu về chuyện này. Khi phụ nữ đi đến thợ làm đầu – và các bà các cô nào mà có điều kiện là sẽ đến đó ngay thôi – điều gì sẽ xảy ra với họ? Họ cảm thấy an toàn, cảm thấy thư giãn. Họ không cần phải vờ vịt, màu mè gì nữa. Người thợ làm đầu biết rõ da của họ trông thế nào bên dưới lớp hóa trang. Anh ta biết tuổi tác của họ, việc họ căng da mặt. Cho nên phụ nữ luôn sẵn sàng khai ra với thợ làm đầu cả những điều mà ngay cả với cha cố họ cũng chẳng dám xưng tội. Và họ cũng cởi mở cả về những vấn đề mà họ thường che giấu các bác sĩ”.

“Ông nói thật đấy à”.

“Chứ sao nữa. Tôi nói với ông tôi có nghiên cứu chuyện này rồi mà. Khi phụ nữ trao bí ẩn cuộc đời mình vào tay thợ làm đầu, anh ta sẽ có một thứ quyền năng mà rất ít người nào khác có được. Tôi đã từng nghe những người thợ làm đầu trích dẫn rất tự tin về nghệ thuật, văn học, chính trị, kinh tế, chăm sóc trẻ em, và đạo lý”.

“Tôi nghĩ ông là tay đùa có cỡ”.

“Ông có thấy tôi cười khi nói không? Tôi cho ông biết, một người thợ làm đầu thông minh, chín chắn và có hoài bão luôn có một quyền năng vượt ngoài tầm hiểu biết của phần lớn cánh đàn ông”.

“Lạy Chúa Giê-xu! Con nghe thấy chưa, Robbie? Con có biết mấy chuyện này không, con trai?”

“Con cũng nghe đôi chút, trong khóa học có cả một phần về tâm lý nữa đó”.

“Tôi chưa bao giờ nghĩ được như thế”, ông bố nói. “Này, ta uống một chút gì đó nhé?”

“Cảm ơn ông, tối nay thì không được đâu. Con chó của tôi không được khỏe. Mai tôi phải dậy sớm để đi tìm một bác sĩ thú y”.

“Thế này nhé. Robbie sẽ lấy cây đèn đọc sách cho ông, tôi sẽ để máy phát chạy suốt đêm. Ông có ăn sáng không vậy?”

“Không đâu. Tôi phải đi từ rất sớm”.

Trở lại ca-bin sau khi giúp Charley làm xong công việc khó khăn của nó, tôi thấy Robbie đang cột chiếc đèn ngủ vào khung sắt chiếc giường ọp ẹp của tôi.

Anh ta khẽ khàng nói. “Thưa ông, tôi không biết ông có tin tất cả những gì ông nói không, nhưng chắc chắn là ông đã giúp tôi rất nhiều”.

“Anh biết đấy, tôi nghĩ phần lớn những điều đó là sự thật. Nếu quả như vậy thì trách nhiệm là nặng nề lắm đấy, đúng vậy không hả Robbie?”

“Chắc chắn rồi”, anh ta trịnh trọng nói.

Đó là một đêm mất ngủ. Tôi đã thuê một ca-bin chẳng tiện nghi gì hơn chiếc xe của tôi, và trong khi làm thế tôi đã can thiệp luôn vào một chuyện chẳng can hệ gì đến tôi. Mặc dù quả thật người ta rất hiếm khi hành động theo lời khuyên của kẻ khác, trừ phi đằng nào họ cũng phải làm điều đó, cũng có một nguy cơ nho nhỏ rằng sự nhiệt tình của tôi trong bài thuyết giáo về thợ làm đầu có thể làm nổi lên một cơn bão.

Giữa đêm, Charley đánh thức tôi dậy bằng những tiếng rên rỉ nhè nhẹ nghe như lời tạ tội, và vì nó là một con chó không hay rên rỉ nên tôi lập tức nhổm dậy. Nó đang gặp rắc rối. Bụng của nó căng phồng, còn mũi và tai thì nóng ran. Tôi mang nó ra ngoài và ở lại đó với nó, nhưng áp lực ở bụng nó vẫn không thuyên giảm.

Ước chi tôi biết được chút đỉnh về kiến thức thú y. Trước một con vật bị bệnh, tôi luôn có một cảm giác tuyệt vọng. Không thể nào giải thích cảm giác đó ra sao, mặt khác tôi biết rằng nó không thể lừa dối, dựng lên những triệu chứng, hay bày ra những lạc thú của bệnh tưởng. Tôi không nói những thứ này là không thể ngụy tạo. Ngay cả một con chó lương thiện như Charley cũng có xu hướng đi tập tễnh khi cảm xúc của nó bị tổn thương. Tôi ước chi có ai đó viết ra một cuốn sách tốt, bao quát về thuốc men dành cho chó nhà. Tôi sẽ làm như thế nếu tôi làm nghề thú y.

Charley đúng là một con chó mắc bệnh. Và nó sẽ còn bệnh nặng hơn nếu như tôi không tìm ra cách nào đó để làm giảm áp lực đang dâng lên. Một ống thông đường tiểu sẽ được việc, nhưng lấy đâu ra thứ đó ở vùng núi này giữa ban đêm? Tôi có một ống nhựa để hút xăng, nhưng đường kính của nó lại quá lớn. Rồi tôi nhớ ra rằng hình như áp lực sẽ tạo ra căng cơ, và đến phiên nó lại làm tăng áp lực vv... cho nên bước đầu tiên là phải làm giãn các cơ ra. Túi đựng đồ y tế của tôi không được tính toán cho y thuật tổng quát, nhưng nó cũng có một lọ thuốc ngủ seconal, loại 0,1 gram. Nhưng cho nó liều lượng như thế nào đây? Đó chính là chỗ mà một cuốn sách y tế gia đình có thể giúp ích. Tôi tách viên con nhộng, lấy ra nửa chỗ thuốc rồi gắn nó trở lại. Tôi đặt viên con nhộng vào dưới lưỡi Charley – nơi mà nó không thể nhè ra – rồi nâng đầu nó lên, vuốt cho viên thuốc trôi xuống họng. Rồi tôi bế nó lên giường và đắp chăn cho nó. Sau một giờ đồng hồ nó vẫn y như cũ, nên tôi lại mở viên con nhộng thứ hai và cho nó uống thêm nửa phần nữa. Tôi nghĩ với trọng lượng của nó thì 0,1 gram là một liều cũng khá nặng, nhưng hẳn là Charley có sức chịu đựng cao. Nó kháng cự lại thuốc trong khoảng bốn mươi lăm phút rồi hơi thở của nó chậm dần và nó chìm vào giấc ngủ. Hẳn là cả tôi cũng đã lơ mơ ngủ. Điều kế tiếp tôi nhận thức được là nó rơi xuống đất. Trong điều kiện say thuốc, chân nó trở nên yếu ớt. Nó đứng dậy, quỵ xuống, rồi lại đứng dậy. Tôi mở cửa cho nó ra ngoài. Vâng, phương pháp của tôi đã có tác dụng, nhưng tôi không hiểu nổi làm cách nào một cơ thể chó có kích cỡ trung bình lại chứa được bấy nhiêu chất lỏng. Cuối cùng, nó loạng choạng bước vào, đổ sụp xuống tấm thảm nhỏ và ngủ luôn tại chỗ. Trông nó kiệt quệ đến mức tôi đâm lo không biết mình có cho quá liều hay không. Nhưng nhiệt độ của nó đã hạ, hơi thở của nó đã bình thường và nhịp tim của nó nghe khỏe và đều đặn. Tôi ngủ chập chờn, và khi bình minh đến tôi thấy Charley vẫn không động đậy. Tôi đánh thức nó và nó tỏ ra rất dễ thương khi trông thấy tôi. Nó ngáp ngáp cười, rồi ngủ lại.

Tôi bế nó vào ca-bin rồi mở hết tốc lực chạy một mạch đến Spokane. Tôi không nhớ bất cứ thứ gì dọc đường ở miền đất này. Đến ngoại ô, tôi tìm một cơ sở thú ý trong cuốn niên giám điện thoại, hỏi đường đi, rồi bế Charley xông thẳng vào phòng khám như một trường hợp cấp cứu. Tôi sẽ không nói tên ông bác sĩ đó, nhưng ông ta là một lý do thêm nữa vì sao cần phải có một cuốn cẩm nang gia đình về điều trị cho chó. Ông bác sĩ đó khám một cách quờ quạng. Có thể là ông ta đã già, chứ làm sao tôi dám nói ông ta còn chưa giã rượu? Bằng bàn tay run rẩy, ông ta banh miệng Charley ra, vạch xem mí mắt của nó rồi buông đầu nó xuống.

“Nó bị gì vậy?” ông ta hỏi, vẻ hững hờ.

“Chính vì vậy nên tôi mới đến đây: xem nó bị cái gì”.

“Một dạng trì độn ấy mà. Chó già là vậy. Có thể nó bị một cơn tai biến”.

“Bàng quang nó bị trướng. Còn nếu như trông nó giống trì độn thì đó là vì tôi cho nó uống 0,1 gram thuốc seconal”.

“Để làm gì?”

“Để nó thư giãn”.

“Tốt, nó thư giãn rồi đấy”.

“Cho liều như vậy có nhiều quá không?”

“Tôi không biết”.

“Thôi được, nếu là ông thì ông cho cỡ bao nhiêu?”

“Tôi sẽ chẳng cho nó uống thứ đó”.

“Ta bắt đầu lại đi. Nó bị gì vậy?”

“Có thể là bị cảm lạnh”.

“Cái đó có gây ra những triệu chứng ở bàng quang không?”

“Nếu bị cảm thì có đấy”.

“Này ông, tôi đang vội. Tôi muốn có sự chẩn đoán sát sao hơn một chút”.

Ông ta khịt mũi. “Ông nhìn đây nè. Nó là một con chó già. Chó già thì hay bị đau nhức. Tất cả chỉ có vậy”.

Chắc là tôi cũng có phần cáu bẳn do mất ngủ. “Cả người già cũng thế”, tôi nói. “Điều đó đâu ngăn họ làm gì đó để chữa trị”. Tôi nghĩ đó là lần đầu tiên tôi làm ông ta hiểu.

“Tôi cho ông thứ gì đó để rửa thận cho nó”, ông ta nói. “Chỉ là bị cảm thôi”.

Tôi cầm mấy viên thuốc nho nhỏ, trả tiền khám rồi bước ra. Không phải cái ông bác sĩ thú y đó không ưa thú vật. Tôi nghĩ ông ta không ưa chính ông ta. Ông ta phải tìm một đối tượng để ghét bỏ ở bên ngoài chính bản thân. Nếu không, ông ta sẽ phải phải thừa nhận sự khinh ghét chính mình.

Mặt khác, tôi cũng chẳng kém cạnh ai trong việc khinh ghét những kẻ yêu chó tự xưng. Đó là loại người dồn nén những thất vọng của mình và bắt con chó phải gánh vác chúng chạy rông. Những người yêu chó kiểu đó thường trò chuyện với những con vật trưởng thành và chín chắn y như nói chuyện với con nít. Họ thường gắn những tính cách luộm thuộm của mình vào con vật cho đến khi trong đầu họ con vật trở thành một cái tôi ích kỷ. Tôi cảm thấy những loại người này cứ tưởng là mình tử tế, nhưng thật ra lại đang tiến hành những cuộc tra tấn kéo dài lên con vật. Họ gạt bỏ những ham muốn và chức năng tự nhiên của con vật, cho đến khi con vật yếu đuối bị bẻ gãy và trở nên béo phì, hen xuyễn, loạn chức năng thần kinh. Khi người lạ nói chuyện với Charley theo kiểu con nít thì nó thường tránh đi. Vì nó không phải là người mà là chó và nó thích như thế. Nó cảm thấy nó thà là chó hạng nhất còn hơn là người hạng hai. Khi cái ông thú y nghiện rượu kia chạm vào Charley bằng những bàn tay lẩy bẩy và lóng ngóng, tôi thấy một sự khinh bỉ che giấu trong ánh mắt của nó. Tôi nghĩ nó biết rõ ông ta, và có lẽ ông bác sĩ cũng biết là nó biết. Và có lẽ đó là vấn đề đối với ông ta. Thật đau đớn xiết bao khi biết rằng bệnh nhân không tin vào mình.

Sau Spokane, nguy cơ tuyết rơi sớm đã qua đi vì không khí đã thay đổi, cuốn đi bởi hơi thở mạnh của Thái Bình Dương. Thời gian đi đường thật sự từ Chicago là khá ngắn, nhưng kích cỡ đồ sộ và sự đa dạng của đất đai, những sự kiện liên tiếp và những con người dọc đường đã kéo thời gian dài ra ngoài sức chịu đựng. Bởi lẽ không ai nhớ được ngay những quãng thời gian không sự kiện trong quá khứ. Ngược lại, chỉ những sự kiện tiêu tốn nhiều thời gian mới tạo ra được những chiều kích của ký ức đã qua. Sự thiếu vắng sự kiện làm thời gian sụp đổ.

Thái Bình Dương là đại dương quê hương tôi. Tôi biết đến nó đầu tiên, lớn lên bên bờ của nó, nhặt nhạnh các động vật hải dương dọc theo những bãi biển của nó. Tôi hiểu tinh thần của nó, màu sắc của nó, bản chất của nó. Tôi bắt được mùi hương đầu tiên của Thái Bình Dương khi đang ở rất xa trong nội địa. Khi ai đó đi biển lâu ngày, hương vị của đất liền luôn lan tỏa ra rất xa để đón họ. Và điều tương tự cũng xảy ra khi người ta ở lâu trong nội địa. Tôi tin mình đã ngửi thấy mùi đá biển, mùi rong tảo, mùi phấn khích của những con sóng lao xao, mùi hăng hắc của của chất i-ốt và dư vị của những vỏ mai can-xi được tắm gội và chôn vùi. Cái mùi vị xa xăm và nhung nhớ ấy ập đến một cách tinh tế đến mức ta không ý thức mình đã ngửi thấy nó, mà tất cả giống như một luồng điện phấn khích chợt phát ra, một dạng hân hoan sôi sục. Tôi thấy mình đang lao nhanh trên những con đường của Washington, như đang dốc sức hướng về biển chẳng khác gì đám chuột lemming[3] di cư.

Tôi nhớ rất rõ miền Đông Washington lộng lẫy và yêu kiều với con sông Columbia thanh lịch từng lưu dấu của Lewis và Clark. Và mặc dù có những chiếc đập và đường dây điện mà tôi chưa từng thấy trước đây, nó vẫn không thay đổi nhiều so với ký ức của tôi. Chỉ khi đến gần Seattle, những thay đổi ngoài sức tưởng tượng mới hiển hiện.

Dĩ nhiên, tôi đã đọc về sự bùng nổ dân số ở West Coast[4], nhưng phần lớn mọi người dùng West Coast để chỉ California. Người ta đổ xô đến, các thành phố nhân đôi, nhân ba về số dân, trong khi những người bảo vệ về tài chính rên rỉ trước áp lực cải thiện ngày càng gia tăng và nhu cầu chăm lo cho cơn lũ mới những người nghèo khổ. Tôi nhớ Seattle từng là một thị trấn tọa lạc trên những ngọn đồi cạnh những khu cư trú không đâu sánh bằng: một thành phố nhỏ với không gian, cây cối, vườn tược, và những ngôi nhà tương xứng với cái hậu cảnh đó. Nó không còn như vậy nữa. Các đỉnh đồi đã được đốn trụi để xây những tòa nhà cao tầng[5] cho những con thỏ thời hiện đại. Những đường cao tốc tám làn xe trông tựa như những sông băng xuyên qua những vùng đất khó đi. Seattle này quả là chẳng có quan hệ gì với Seattle tôi hằng nhớ. Giao thông nhộn nhịp với một mật độ chết người. Ở những khu ngoại ô một thời tôi thông thạo, nay tôi không tìm ra được đường. Dọc những nơi từng là những đường làng giàu quả mọng, nay mọc lên những hàng rào kẽm cao ngất, những nhà máy trải dài hàng dặm đường, và lơ lửng bên trên là những cột khói vàng của sự tiến bộ, chống chọi lại nỗ lực xua chúng đi của những cơn gió biển.

Nghe có vẻ như tôi đang hoài niệm thuở xa xưa. Đó là tâm trạng thường thấy ở người già, hoài cổ, chống lại những đổi thay, xem đó như việc phổ cập hóa sự giàu có và ngu muội. Không phải vậy đâu. Seattle này không phải là sự thay đổi của một nơi tôi từng biết. Đó là một nơi hoàn toàn mới. Đến nơi đây mà không biết trước nó là Seattle thì tôi không thể nói mình ở đâu. Sự phát triển điên cuồng diễn ra ở khắp nơi, sự phát triển như một khối ung thư. Xe ủi đất dọn sạch những khu rừng xanh và chất cao những cây cành để thiêu hủy. Những cột bê tông trắng được chất đống cạnh những bờ tường xám. Tôi tự hỏi sao mà sự tiến bộ lại giống với sự hủy diệt đến thế.

Ngày kế tiếp, tôi tản bộ trên bến cảng cũ của Seattle, nơi mà cá, cua và tôm được bày đẹp đẽ trên những sạp bằng đá bào, nơi mà những rau trái được rửa sạch bóng và xếp thành hình. Tôi uống một ly nước ép trai và ăn món cua trộn ở các quầy dọc bến tàu. Nó không thay đổi nhiều lắm, chỉ xuống cấp và dơ bẩn hơn đôi chút so với cách đây hai mươi năm. Và tại đây tôi nhận thấy có một sự phổ quát liên quan đến các thành phố Mỹ, có vẻ như rất đúng với tất cả các thành phồ mà tôi biết. Khi một thành phố bắt đầu tăng trưởng và mở rộng ra ngoài thì, so với ngoài rìa, khu trung tâm theo nghĩa nào đó bị phó mặc cho thời gian. Rồi các tòa nhà mọc lên đen đặc và một dạng suy tàn được thiết lập. Người nghèo hơn chuyển vào sinh sống khi giá thuê hạ xuống, và những hoạt động kinh doanh lặt vặt chiếm dần lấy những vị trí mà trước kia là những cơ ngơi tươm tất. Khu vực vẫn còn quá tốt chưa đáng bị phá hủy và quá cổ lỗ nên không còn được yêu thích. Cạnh đó, toàn bộ năng lượng đã chảy ra những công trình mới, những siêu thị nửa nông thôn, những rạp chiếu phim ngoài trời, những ngôi nhà mới với thảm cỏ rộng và những ngôi trường trát vữa nơi sự thiếu học thức của trẻ em được xác nhận. Bến cảng cũ với những con đường nhỏ hẹp và những bề mặt trải sỏi hay ám khói đi vào một giai đoạn hoang phế, vào ban đêm bị xâm chiếm bởi những đám người tàn tạ, những kẻ ăn hoa sen[6] vật lộn hàng ngày để đạt đến sự mơ màng bằng rượu cồn. Hầu như tất cả các thành phố mà tôi biết đều có một khu trung tâm chết dần chết mòn bởi bạo lực và tuyệt vọng như thế. Những nơi ấy, vào ban đêm, ánh sáng của những ngọn đèn đường bị hút đi mất sạch, và những viên cảnh sát phải đi tuần thành đôi. Và rồi, có lẽ một ngày nào đó, thành phố lại trở về, bóc đi những vết thương và xây lên một tượng đài cho quá khứ của nó.

Việc nghỉ ngơi ở Seattle đã giúp cho sức khỏe của Charley được cải thiện. Tôi tự hỏi, ở độ tuổi đã cao của nó, liệu những rung động của xe có phải là nguyên do những rắc rối nó gặp phải không?

Một cách rất tự nhiên, khi chúng tôi di chuyển dọc bờ biển xinh đẹp, phương pháp du lịch của tôi đã thay đổi. Mỗi tối, tôi dừng chân ở một bãi xe dễ chịu, một trong những địa điểm đẹp đẽ đã mọc lên ồ ạt trong những năm gần đây. Giờ đây tôi bắt đầu thể nghiệm một xu hướng ở miền Tây mà có lẽ tôi đã quá già không chấp nhận nổi. Đó là nguyên tắc tự làm lấy. Vào bữa điểm tâm, một chiếc máy nướng bánh được đặt trên bàn của bạn. Bạn tự nướng những mẩu bánh của mình. Khi tôi vào đến những hòn ngọc tiện nghi và tiện ích đó, đăng ký và được dẫn vào căn phòng tiện nghi của mình sau khi đã trả tiền trước, dĩ nhiên đó là sự kết thúc mọi tiếp xúc với ban quản lý. Không hầu bàn, không phục vụ theo chuông. Những người dọn phòng rón rén ra vào như tàng hình. Nếu tôi muốn đá viên, thì có ngay một cỗ máy gần văn phòng. Tôi tự lấy đá, tự lấy giấy tờ của mình. Mọi thứ đều tiện lợi, đều bố trí hợp lý... và đơn độc. Tôi sống trong xa hoa tột bậc. Những người khách khác im lặng đến rồi đi.

Nếu ta gặp họ và nói “Xin chào”, họ sẽ hơi lúng túng và đáp lại, “Xin chào”. Tôi có cảm giác họ nhìn tôi như một cỗ máy bán hàng tự động.

Đâu đó ở Oregon, vào một ngày Chủ nhật mưa, Rocinante lịch lãm đã đòi tôi phải chú ý. Tôi đã không nói nhiều về cỗ xe đáng tin cậy của tôi, ngoại trừ những lời tán tụng qua loa và hình thức. Có phải vậy không nhỉ? Chúng ta đánh giá cao những phẩm chất nhưng ít khi thảo luận về chúng. Một thủ quỹ lương thiện, một người vợ chung thủy, một học giả háo hức thường rất hiếm khi lôi cuốn sự chú ý của chúng ta so với những kẻ biển lận, lẳng lơ, và gian dối. Nếu như Rocinante không được nhắc đến nhiều thì đó là vì nó hoàn hảo. Tuy vậy, sự xao lãng của tôi không hề áp dụng cho phần cơ khí của nó. Tôi đã rất cẩn thận trong việc thay dầu nhớt và tra mỡ bò. Tôi ghét thấy những động cơ bị bỏ bê, bị đối xử tàn tệ và bị bắt làm việc quá công suất.

Rocinante đáp lễ rất đúng mực sự tử tế của tôi bằng tiếng máy chạy đều và công năng hoàn hảo. Chỉ có một điều duy nhất là tôi đã quá bất cẩn, hay có lẽ quá hăng hái. Tôi mang theo quá nhiều thứ: quá nhiều thực phẩm, quá nhiều sách, quá nhiều dụng cụ đến mức có thể lắp ráp cả một chiếc tàu ngầm. Khi tìm được những con suối có vị ngọt, tôi chất đầy nước vào chiếc bồn của nó, nhưng một trăm hai mươi lít nước thì nặng đến những một trăm ba mươi sáu ký. Một bình khí bu-tan dự trữ nặng đến ba mươi bốn ký. Các nhíp của nó bị nén sâu xuống, nhưng có vẻ vẫn an toàn, và trên những con đường nhồi xóc mạnh tôi thường đi chậm lại để không gây khó cho nó. Do tình trạng tốt của nó, tôi đã đối xử với nó giống như với người thủ quỹ lương thiện, người vợ chung thủy: tôi đã xao lãng nó. Và ở Oregon trong một ngày Chủ nhật mưa, giữa lúc di chuyển qua một vũng nước bùn trải dài bất tận, bánh sau bên phải của Rocinante đã nổ một phát tung tóe nước. Tôi đã biết và từng sở hữu những chiếc xe chất lượng tồi. Chúng có thể cư xử giống như thế, thuần túy để chơi khăm chủ nhân, nhưng Rocinante thì không đâu.

Chẳng có gì lạ cả, tôi nghĩ, đó là hệ quả tất yếu của một trái banh nảy quá nhiều lần. Thì đấy, trái banh này đã nảy trong hai tấc nước bùn, và bánh xe dự phòng nằm bên dưới ca-bin đã bị ngập trong bùn. Các dụng cụ thay bánh được cất dưới sàn, bên dưới chiếc bàn, cho nên tôi phải dỡ chúng ra. Chiếc kích mới – chưa từng sử dụng và còn sáng nước sơn nhà máy – cứng và khó điều khiển, và không được thiết kế cho phần nhô ra của Rocinante. Tôi nằm sấp bụng và trườn lết, lội nước vào dưới gầm xe, cố giữ cho hai lỗ mũi ở cao hơn mặt nước. Tay kích trơn trượt do nước bùn nhờn nhờn. Đám bùn kết lại trên bộ râu của tôi. Tôi nằm hổn hển như một con vịt què, miệng lầm rầm rủa xả, trong lúc ấn chiếc kích xuống dưới thanh trục mà tôi phải sờ soạng để tìm vì nó đã bị ngập nước.

Và rồi, với những tiếng lằn nhằn, với nhiều bọt sủi và với những nỗ lực phi phàm làm đôi mắt muốn lòi ra khỏi hốc, tôi đã kích được cái trọng lượng đồ sộ đó. Tôi cảm thấy các cơ của mình như rách toạc ra, tách khỏi những phần xương. Về thời gian thì chưa đến một giờ trôi qua cho đến khi tôi gắn được chiếc bánh dự phòng. Phủ nhiều lớp bùn vàng, tôi lem luốc đến không thể nhận ra. Tay tôi bị rách và chảy máu. Tôi vần chiếc bánh xe, lăn nó ra chỗ cao và xem xét nó. Toàn bộ vách ngoài đã nổ toác. Rồi tôi xem đến bánh xe sau bên trái và kinh hoàng phát hiện ra một chỗ phù lớn ở một bên, và khi xem tiếp, cả bên kia cũng có. Rõ ràng là bánh xe này có thể nổ bất cứ lúc nào. Mà hôm nay lại là chủ nhật, và trời lại đang mưa, và đây lại là Oregon. Nếu bánh xe kia cũng nổ nốt thì chúng tôi coi như tiêu, trơ trọi trên con đường ướt sũng và cô quạnh, không có nguồn dự trữ nào và chỉ còn nước bật khóc, ngồi chờ chết mà thôi. Và biết đâu sẽ có những con chim tốt bụng nào đó mang lá đến phủ lên xác chúng tôi. Tôi cởi cả lớp bùn lẫn bộ đồ và mặc bộ đồ mới, cả nó cũng bị dính bùn trong lúc thay.

Chưa từng có chiếc xe nào được đối xử một cách khúm núm như thế khi chúng tôi chầm chậm nhích dần lên. Mỗi chỗ nhấp nhô trên mặt đường đều làm tim tôi thót lại. Chúng tôi lết đi với tốc độ chưa tới tám ki-lômét giờ. Và cái quy luật cổ xưa ấy đã ứng nghiệm. Nó nói rằng khi bạn cần thứ gì đó thì thứ ấy luôn ở rất xa. Mà tôi thì cần nhiều hơn là một thứ. Tôi cần đến hai chiếc bánh sau mới, hạng nặng. Những người thiết kế xe của tôi đã không lường được tải trọng mà tôi mang theo.

Sau một quãng thời gian dài như bốn mươi năm cực nhọc lê lết trên hoang mạc sũng nước không có mây ban ngày lẫn cột lửa ban đêm để dẫn đường, chúng tôi đến được một trị trấn nhỏ ẩm ướt, thiếu sinh khí mà tôi không tài nào nhớ tên vì chưa bao giờ nghe thấy. Mọi nơi đều đóng cửa. Mọi nơi, trừ một trạm phục vụ nhỏ. Người chủ là một gã khổng lồ với khuôn mặt sẹo và đôi mắt trắng dã trông hung dữ. Nếu ông ta là con ngựa thì tôi sẽ không bao giờ mua nó. Một người đàn ông khá kiệm lời. “Ông gặp rắc rối rồi”, ông ta nói.

“Thì ông thấy rồi đấy. Ông có bán bánh xe không?”

“Kích cỡ như của ông thì không. Phải đưa đến Portland mới có. Mai gọi điện, có thể mốt lấy”.

“Ở thị trấn này không nơi nào có à?”

“Hai nơi. Cả hai đều đóng cửa. Tôi không nghĩ họ có kích cỡ đó. Ông cần bánh xe lớn hơn đấy”. Ông ta gãi bộ râu, săm soi nhìn hồi lâu các chỗ phù trên bánh sau bên trái, nhấn nhấn vào chúng bằng ngón trỏ trông cứ như chiếc dũa. Cuối cùng, ông ta bước vào văn phòng nho nhỏ của mình, lùa sang bên đống đế thắng, dây cua-roa quạt tản nhiệt và ca-ta-lô, từ bên dưới lôi ra một chiếc điện thoại. Và nếu lúc nào tôi mất niềm tin ở tính thánh thiện nơi con người, hẳn tôi sẽ nghĩ ngay đến người đàn ông trông hắc ám này.

Sau ba cuộc gọi, ông ta tìm ra người bán hàng. Tay này có một bánh xe đúng loại và đúng kích cỡ yêu cầu, nhưng lại đang kẹt một đám cưới và không thể giao hàng được. Sau ba cú điện thoại nữa, ông ta xoay được một tin đồn về một chiếc bánh xe khác, nhưng nó lại ở cách đây đến tám dặm. Mưa vẫn tiếp tục rơi. Cuộc tìm kiếm là bất tận vì giữa các cuộc gọi là cả dãy xe hơi xếp hàng chờ đổ xăng, và tất cả những việc này diễn ra với một sự chậm chạp đến phát ngốt.

Cuối cùng thì một người em rể bỗng từ đâu xuất hiện. Anh ta có một trang trại ở miệt phía trên con đường này một chút. Anh ta không muốn đội mưa đi, nhưng vị thần ác ở trong tôi đã gây chút áp lực lên anh ta. Người em rể này đã lái xe đến hai nơi cách xa nhau và tìm ra được các bánh xe đem về cho tôi. Trong chưa đầy bốn giờ đồng hồ, tôi đã được trang bị sẵn sàng, chễm chệ trên những bánh xe lớn hạng nặng thuộc loại mà lẽ ra phải được lắp ngay từ đầu. Tôi có thể quỳ xuống bùn, hôn tay người chủ trạm, nhưng tôi không làm thế. Tôi boa cho ông ta rất hào phóng và ông ta nói, “Ông không cần phải làm vậy. Chỉ xin ông nhớ cho điều này. Bây giờ thì các bánh xe lớn hơn rồi. Chúng sẽ không còn đúng với tốc độ trên đồng hồ của ông. Ông sẽ đi nhanh hơn là kim đồng hồ chỉ và ông sẽ lọt vào tầm ngắm của một tay cớm ngứa nghề nào đó, vâng, có thể hắn sẽ lượm ông đấy”.

Tôi thấy ngập tràn lòng biết ơn sâu sắc đến mức không nói được nên lời. Điều đó đã xảy ra vào một ngày Chủ nhật trời mưa ở Oregon, và tôi hy vọng rằng người đàn ông hắc ám ở trạm phục vụ kia sẽ sống được hàng ngàn tuổi và làm tràn ngập trái đất này bằng các con cái của ông ta.

❀ ❀ ❀

[1] The Great Divide. Sự phân chia lục địa châu Mỹ về mặt kết cấu núi và thủy văn, đây cũng là đường chia nước theo đó nửa phần nước đổ ra Thái Bình Dương, và nửa kia đổ ra Đại Tây Dương.

[2] Những nhà thám hiểm đã thực hiện cuộc hành trình xuyên nước Mỹ, ra tới Thái Bình Dương.

[3] Một giống chuột đồng bắc Mỹ.

[4] Bờ Tây.

[5] Tác giả dùng từ “warren”. Từ này vừa có nghĩa là “tòa nhà”, đồng thời là “vùng có nhiều hang thỏ”.

[6] Lotus eaters, trong thần thoại Hy Lạp, chỉ một giống dân sống ở một hòn đảo gần Bắc Phi chuyên ăn hoa sen, khiến họ luôn mơ màng.

harley và hành trình nước Mỹ Cánh cửa mở rộng ebook©MotSAch TVE-4u©VCTVEGROUP —★— Nhà xuất bản: NXB Trẻ 03/2012
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.