Tôi, Charley Và Hành Trình Nước Mỹ

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 5 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
1

❊ ❊ ❊

Về kế hoạch tổng thể cho chuyến đi, có lẽ tôi có một mong ước thầm kín rằng chuyến đi đó sẽ không diễn ra. Khi ngày ấy đến gần, chiếc giường êm ái và ấm cúng của tôi ở nhà càng lúc càng có nhiều hấp lực và cô vợ yêu dấu của tôi thì trở nên quý báu không thể tả xiết. Thật là điên rồ khi phải nhịn những thứ này trong suốt ba tháng trời và đón lấy sự khủng khiếp của việc thiếu tiện nghi và ổn định. Tôi chẳng muốn đi chút nào. Phải có điều gì đó xảy ra để cản chân tôi lại! Nhưng chả có gì cả. Dĩ nhiên, tôi có thể đổ bệnh, nhưng đó lại là một trong những lý do chính yếu và bí mật của tôi để ra đi cơ mà. Mùa đông năm ngoái, tôi đã bị ốm khá nặng bởi một trong những vấn đề mà tôi trau chuốt đặt tên là “lời thì thầm của tuổi xế chiều”. Khi khỏi bệnh, tôi tham gia một buổi học dạy cách giảm nhịp sống, giảm cân, hạn chế lượng cholesterol trong thức ăn. Điều đó diễn ra với nhiều người đàn ông và tôi nghĩ các bác sĩ đã thuộc lòng nó như đọc kinh. Nó diễn ra với quá nhiều bè bạn của tôi. Buổi học kết thúc bằng câu nói: “Sống chậm lại. Quý vị không còn trẻ trung như trước đây nữa đâu”. Và tôi đã thấy rất nhiều người bắt đầu cuộn cuộc đời của mình trong len dạ, dập tắt những thôi thúc, bịt chặt những đam mê và từ từ bước ra khỏi phận người, thu mình về một dạng bán thân bất toại tinh thần và thể xác.

Ai chẳng muốn mình là trung tâm của sự chú ý? Một dạng tuổi thơ thứ hai đã rơi xuống rất nhiều người đàn ông. Họ đánh đổi sự mãnh liệt của mình để nhận lấy lời hứa hẹn về một sự gia tăng tuổi thọ không đáng kể. Kết quả là người chủ gia đình trở thành đứa con bé nhất. Tôi đã tự đặt mình trước khả năng này và cảm thấy thật hãi hùng. Bởi vì tôi luôn sống mãnh liệt, uống rất dữ, ăn rất nhiều hoặc không ăn gì cả, ngủ li bì hoặc hai đêm thức trắng, làm việc quá căng, quá nhiều hoặc nằm ườn chảy thây. Tôi đã nhấc, đã kéo, đã bổ, đã leo, đã vui sướng làm tình và xem dư vị của những trận say là hệ quả chứ không phải là một sự trừng phạt. Tôi không muốn giao nộp sự mãnh liệt để đổi lấy một khoản lợi nhỏ về tuổi tác. Vợ tôi đã cưới một người đàn ông, và tôi thấy không có lý do gì để cô ấy phải thừa hưởng một đứa con nít. Tôi biết rằng việc lái xe qua mười sáu hay hai mươi ngàn cây số, đơn độc và không ai chăm sóc, vượt qua đủ loại đường sá, sẽ là một công việc nặng nhọc, nhưng với tôi, điều đó tượng trưng cho món thuốc giải độc dành cho một người đàn ông đích thực đang lâm bệnh. Và trong cuộc đời tôi, tôi không sẵn lòng đổi chất lượng lấy số lượng. Nếu như cuộc hành trình được lên kế hoạch này có thể minh chứng nhiều điều như thế thì đã đến lúc phải lên đường thôi. Tôi thấy quá nhiều người đã trì hoãn cuộc xuất hành của họ do sự ngập ngừng bệnh hoạn trong việc rời bỏ chiếc sân khấu. Đó là một nhà hát tồi và cũng là một cuộc sống tồi. Tôi rất may mắn khi có một cô vợ thích được là phụ nữ, có nghĩa là cô ấy thích đàn ông chứ không phải là một bé già. Mặc dù lý lẽ cuối cùng này cho cuộc hành trình chưa bao giờ được đem ra thảo luận, nhưng tôi tin là cô ấy hiểu.

Buổi sáng đến, một buổi sáng đẹp trời với cảnh thu vàng dưới nắng mai. Tôi và vợ chia tay nhau rất nhanh vì cả hai chúng tôi đều rất ghét phải nói lời tạm biệt, và hai đứa tôi chẳng ai muốn ở lại khi người kia ra đi. Cô ấy rồ ga chiếc mô-tô, phóng lên New York, còn tôi, với Charley bên cạnh, thì đưa Rocinante ra bến phà Shelter Island, rồi đáp chuyến phà khác đi Greenport, sau đó đáp thêm một chuyến phà nữa từ Orient Point đến vùng duyên hải Connecticut, băng qua eo biển Long Island Sound vì tôi muốn tránh kẹt xe ở New York và lên đường suôn sẻ. Và tôi thừa nhận đã sớm mang cái cảm giác đơn độc u uất.

Trên phà, trời nắng gắt và đất liền bờ bên kia chỉ cách có một giờ. Cách chúng tôi một khoảng là một chiếc thuyền một buồm xinh xắn. Cánh buồm tam giác của nó trông cứ như một chiếc khăn choàng cong cong, và toàn bộ tàu bè ven biển đều lừ lừ đi về eo biển hoặc thẳng tiến về New York. Một chiếc tàu ngầm bỗng trồi lên mặt nước cách đó khoảng tám trăm mét khiến cho ban ngày chợt mất đi một phần sự trong sáng. Xa hơn, một vật đen trũi khác đang rẽ nước lướt đi, rồi lại thêm một vật nữa. Dĩ nhiên, căn cứ của chúng nằm ở New London, và đây chính là nhà của chúng. Và có lẽ, dưới bề ngoài xấu xí này, chúng đang bảo vệ cho hòa bình thế giới. Ước gì tôi thích được tàu ngầm, như thế có khi tôi sẽ thấy chúng đẹp, nhưng chúng được thiết kế để hủy diệt, và mặc dù chúng có thể khảo sát, lập bản đồ đáy biển và vẽ ra những tuyến đường thương mại mới dưới lớp băng Bắc cực, thì mục đích chính của chúng vẫn cứ là răn đe. Tôi còn nhớ quá rõ lúc vượt Đại Tây dương trên chiếc tàu chở quân mà trong đầu biết rằng ở đâu đó dọc đường những vật đen trũi kia đang lẩn khuất, tìm kiếm chúng tôi bằng con mắt một cuống. Không biết tại sao, ánh sáng luôn nhạt đi mỗi khi tôi nhìn thấy chúng và nhớ lại những người đàn ông bị cháy được kéo lên từ những vùng biển tràn dầu. Giờ đây, tàu ngầm đã được trang bị vũ khí hủy diệt hàng loạt – một biện pháp ngu ngốc và duy nhất của chúng ta để ngăn chặn sự thảm sát hàng loạt.

Chỉ vài người đứng hóng gió trên boong chiếc phà thép kêu loảng xoảng. Một chàng trai mặc áo choàng ngoài có mái tóc màu râu ngô và cặp mắt xanh phi yến đã ngầu đỏ vì gió. Anh ta quay sang tôi và chỉ ra xa. “Đó là loại mới”, anh nói. “Nó có thể ở dưới nước ba tháng liền”.

“Sao anh biết?”

“Biết chứ. Tôi đang làm trên đó mà”.

“Tàu nguyên tử à?”

“Chưa đâu, nhưng tôi có người chú làm việc trên một chiếc, còn tôi thì chắc là cũng sớm thôi”.

“Anh không mặc quân phục nhỉ”.

“Tôi mới vừa nghỉ phép”.

“Anh thích phục vụ trên đó không?”

“Thích chứ. Lương khá và có đủ kiểu... tương lai”.

“Anh có thích ở dưới đó ba tháng không?”

“Cũng quen thôi mà. Ở đó có đồ ăn ngon và có phim để coi... Tôi mong được đi một chuyến bên dưới vùng cực, ông thì thế nào?”

“Chắc là tôi cũng mong được thế”.

“Mà còn có phim và đủ loại tương lai nữa đấy nhé”.

“Quê anh ở đâu vậy?”

“Ở kia kìa... New London... Tôi sinh ở đó. Chú tôi và hai đứa em họ cũng phục vụ trong lực lượng. Chúng tôi là một gia đình tàu ngầm thì phải”.

“Chúng làm tôi thấy sợ”.

“Ồ, ông ơi, ông sẽ quen ngay thôi mà. Chỉ loáng một cái là ông quên luôn mình đang lặn... Đúng thế đấy, trừ phi ông bị gì đó không ổn. Ông có mắc chứng sợ bị nhốt kín không?” “Không”.

“Thế thì tốt. Ông sẽ quen ngay thôi. Nhớ xuống đó làm một tách cà phê nhé! Thời gian dưới đó nhiều vô kể”.

“Chắc chắn rồi”.

Và có thể là anh ta đúng còn tôi thì sai. Đó là thế giới của anh ta, không còn là của tôi nữa. Không có sự giận dữ trong đôi mắt xanh phi yến, không có nỗi sợ và không có sự căm thù, cho nên chắc cũng ổn thôi. Chỉ là một công việc được trả lương tốt và có tương lai. Tôi đâu thể nào bắt anh ta mang những ký ức và nỗi sợ của chính tôi. Có thể nó không còn đúng nữa rồi, nhưng đó là cách nhìn của anh ta. Giờ thì đó là thế giới của anh ta. Có thể anh ta hiểu những điều mà tôi không bao giờ biết.

Chúng tôi nhâm nhi cà phê trong ly giấy, và qua các cửa sổ vuông của chiếc phà, anh ta chỉ cho tôi những ụ khô và bộ khung của những tàu ngầm mới.

“Có cái hay là nếu bão đến ông chỉ việc lặn xuống, thế là yên. Cứ việc ngủ say như đứa bé và để địa ngục bùng nổ ở bên trên”. Anh ta chỉ đường cho tôi ra khỏi thành phố, một trong những chỉ dẫn cặn kẽ nhất trong suốt cuộc hành trình của tôi.

“Tạm biệt. Chúc anh một tương lai tốt đẹp”, tôi nói.

“Sẽ không tệ đâu, ông biết đấy. Tạm biệt ông nhé”.

Tôi lái xe dọc một con đường phụ của Connecticut, nơi có nhiều ngôi vườn và phủ bóng những hàng cây ven lề. Tôi biết chàng trai ấy đã cho tôi một cảm giác dễ chịu và chắc chắn hơn.

Đã nhiều tuần tôi nghiên cứu các bản đồ, tỉ lệ lớn tỉ lệ nhỏ, nhưng bản đồ không hề là thực tế – chúng có thể là bạo chúa. Tôi biết có những người bị đắm chìm vào bản đồ đường sá đến mức họ chưa bao giờ thấy những đồng quê mà họ đi qua. Và có cả những người sau khi vạch đường đi trên bản đồ đã bám riết lấy nó như bánh xe lửa bám vào đường ray vậy. Tôi đưa Rocinante vào một khu dã ngoại được chính quyền bang Connecticut bảo trợ và ra khỏi cuốn sách bản đồ của tôi. Bất chợt nước Mỹ trở nên to lớn ngoài sức tưởng tượng và không cách nào đi xuyên suốt. Tôi tự hỏi thế quái nào tôi lại dây vào cái dự án bất khả thi này. Nó cũng giống như khi ta bắt tay vào viết cuốn tiểu thuyết vậy. Khi tôi đối diện sự bất khả thi đến tuyệt vọng của việc phải viết ra năm trăm trang sách, một cảm giác thất bại ê chề luôn ập xuống và tôi biết mình sẽ không bao giờ làm được. Lần nào cũng thế cả. Rồi dần dần tôi viết ra một trang, rồi một trang nữa. Tôi chỉ cho phép mình nghĩ về công việc của một ngày và tôi loại trừ đi cái khả năng hoàn tất được cuốn sách vào một lúc nào đó. Bây giờ cũng thế thôi, khi tôi nhìn vào cái hình chiếu màu sắc sặc sỡ của một nước Mỹ khổng lồ. Lá trên cây quanh khu vực trại rất dày và rất nặng, nhưng chúng không mọc nữa mà treo mong manh, chờ đợi đợt sương giá đầu tiên đến phết cho chúng một lớp màu và đợt thứ hai giũ chúng xuống mặt đất, kết thúc những năm tháng cuộc đời.

Charley là một con chó cao kều. Khi nó ngồi trên chiếc ghế cạnh tôi, đầu nó cũng cao ngang đầu tôi. Nó dúi mũi vào tai tôi và nói, “Phù”. Theo chỗ tôi biết thì nó là con chó duy nhất biết phát âm phụ âm “Ph”. Đó là vì các răng cửa của nó đã bị gãy, một tai họa khiến nó không thể tham gia các cuộc trình diễn của chó nữa. Vì các răng cửa hàm trên của nó hơi sát với môi dưới nên Charley phát âm được “Ph”. Tiếng “Phù” của nó thường có nghĩa là nó muốn thăm hỏi một bụi cây hay gốc cây. Tôi mở cửa xe cho nó ra ngoài thực hiện các nghi thức của nó. Nó không cần phải suy nghĩ về điều này mà vẫn làm tốt. Kinh nghiệm của tôi cho thấy rằng trong một số lĩnh vực nó còn thông minh hơn cả tôi, nhưng trong một số lĩnh vực khác thì nó cực kỳ ngù ngờ. Nó không biết đọc, không biết lái xe, và không biết tí gì về toán học cả. Nhưng trong lĩnh vực riêng của nó, mà nó đang thực hành vào lúc này đây – tức việc đánh hơi một cách oai vệ và sắc phong cho một khu vực nào đó – thì nó quả là không ai sánh bằng. Dĩ nhiên là những chân trời của nó có giới hạn, nhưng những chân trời của tôi thì rộng đến mức nào?

Chúng tôi đi tiếp vào một chiều thu, hướng về phía bắc. Do tôi chẳng phụ thuộc vào ai nên tôi nghĩ sẽ rất hay nếu tôi mời ai đó dọc đường đến nhà tôi uống chút đỉnh. Thế mà tôi lại quên mang theo rượu! Nhưng có đến hàng tá những cửa hàng bán thức uống nho nhỏ trên các con đường phụ của tiểu bang này. Tôi biết có những bang cấm rượu nhưng chẳng nhớ là bang nào, nhưng dù gì thì cứ dự trữ sẵn vẫn hơn. Có một cửa hàng be bé nằm khuất xa mặt đường, gần một khu rừng nhỏ cây thích đường. Cạnh đó là một mảnh vườn được chăm sóc kỹ và những chậu hoa. Chủ cửa hàng là một người đàn ông với khuôn mặt ảm đạm, nửa già nửa trẻ, tôi đoán là một người bài rượu. Ông ta giở cuốn sổ đặt hàng ra và vuốt các tờ giấy than với tất cả sự nhẫn nại. Làm sao biết được người ta thích uống gì, cho nên tôi bảo ông ấy lấy cho tôi rượu bourbon, scotch, gin, vermouth, vodka, rượu brandy loại chất lượng trung bình, rượu táo loại nhiều tuổi, và một két bia. Tôi tin rằng lô hàng này có thể thích hợp cho mọi tình huống. Đó là một cú mua hàng sộp đối với một cửa hàng nhỏ. Người chủ cửa hàng có vẻ ấn tượng.

“Mở tiệc lớn nhỉ”.

“Không đâu... Dự trữ du lịch thôi mà”.

Ông ta giúp tôi khuân các thùng các-tông ra ngoài và tôi mở cửa chiếc Rocinante.

“Ông đi xe này à?”

“Dĩ nhiên”.

“Đi đâu?”

“Đi khắp nơi”.

Và rồi tôi nhìn thấy điều mà tôi đã thấy biết bao lần trong suốt cuộc hành trình: ánh mắt thèm khát.

“Chúa ơi! Giá mà tôi đi được”.

“Ở đây ông không thích à?”

“Dĩ nhiên. Cũng chẳng có vấn đề gì cả, nhưng tôi ước có thể đi”.

“Ông thậm chí còn chưa biết tôi đi đâu kia mà”.

“Tôi không quan tâm. Tôi muốn đi khắp mọi nơi”.

Cuối cùng tôi phải rời khỏi những con đường rợp bóng cây và cố hết sức để đi vòng tránh các thành phố. Hartford và Providence và các nơi tương tự đều là đô thị lớn, chộn rộn sản xuất, nhếch nhác giao thông. Đi xuyên qua các thành phố như thế mất nhiều thời gian hơn là đi hàng trăm dặm đường. Và giữa những biển báo giao thông rối beng, khi tìm đường để len lỏi qua, ta chẳng có cơ hội để thấy bất cứ điều gì. Nhưng giờ thì tôi đã đi qua hàng trăm thị trấn và thành phố trong mọi điều kiện thời tiết, mọi phong cảnh, địa hình. Tất nhiên chẳng nơi nào giống nơi nào, và người dân mỗi nơi cũng có những suy nghĩ khác nhau, nhưng mọi người vẫn giống nhau ở những nét nào đó. Các thành phố Mỹ – tất cả – đều giống như những hang chồn, bị vây chặt giữa những đám phế thải, bị bao quanh bởi những đống xe hơi rỉ sét hư hỏng, và hầu như bị ngộp trong rác rưởi. Mọi thứ ta sử dụng đều được giao trong hộp, trong thùng các-tông, trong thùng chứa, tức những thứ gọi là “bao bì” mà chúng ta quá đỗi yêu thích. Những núi đồ vật mà chúng ta thải đi còn nhiều hơn cả những đồ vật mà chúng ta sử dụng.

Nếu không còn cách nào khác thì cứ nhìn vào đó là có thể thấy sự lãng phí hoang dã và bừa bãi của nền sản xuất chúng ta, mà rác có vẻ như là một chỉ số. Khi lái xe đi qua, tôi nghĩ ở Pháp hay Ý từng món đồ vứt đi này hẳn sẽ được giữ lại để dùng vào chuyện gì đó. Tôi nói điều này không có ý chỉ trích hệ thống của chúng ta hay của bất cứ nước nào mà là vì tôi thực sự thắc mắc liệu chăng sẽ đến cái lúc mà chúng ta không còn chịu đựng nổi sự hoang phí của chính mình: chất thải hóa học thì đổ xuống sông, rác kim loại thì bỏ vương vãi khắp nơi, chất thải nguyên tử thì chôn sâu dưới lòng đất hay dìm xuống biển. Khi một ngôi làng da đỏ bị ngập quá sâu trong rác thì dân cư của nó dời đi nơi khác. Mà chúng ta thì làm gì có nơi nào để ra đi?

Tôi đã hứa với cậu con út là sẽ ghé thăm nó khi đi qua trường học của nó ở Deerfield, Massachusetts, nhưng tôi đến nơi quá trễ không tiện đánh thức nó dậy. Do đó tôi lái xe lên núi, tìm ra một cửa hàng bơ sữa, mua một ít sữa và xin phép được cắm trại dưới một ngọn cây táo. Người bán bơ sữa là một tiến sĩ toán học, và anh ta hẳn có học ít nhiều về môn triết. Anh ta thích việc mình đang làm và không muốn đi nơi nào khác. Một trong số người tự hài lòng ít ỏi mà tôi đã gặp trong suốt cuộc hành trình.

Tôi muốn vén tấm màn sự thật về cuộc viếng thăm trường Eaglebrook của tôi. Bạn có thể hình dung tác động mà Rocinante đã gây ra cho hai trăm tù nhân thiếu niên của hoạt động giáo dục, mới vừa bị vây bắt để thụ án mùa đông. Chúng kéo hàng đàn đến thăm chiếc xe của tôi, mỗi chuyến thăm có đến mười lăm đứa chen chúc nhau trong chiếc ca-bin nhỏ. Chúng nhìn tôi với ánh mắt lịch sự nhưng trù ẻo, bởi lẽ tôi có thể ra đi còn chúng thì không thể. Con trai tôi có lẽ sẽ chẳng bao giờ tha thứ cho tôi. Ngay sau khi lái xe đi, tôi dừng lại để kiểm tra có tay lậu vé nào hay không.

Lộ trình của tôi hướng về phía bắc, đến Vermont, rồi ngoặt sang phía đông, đến Hampshire ở White Mountains. Những quầy bán hàng dọc đường chất đống những quả bí ngô vàng tươi, nước ép táo nâu, và những rổ táo đỏ vừa giòn vừa ngọt, chỉ lăm le phọt nước ra nếu như tôi cắn chúng. Tôi mua táo và một bình bốn lít rượu làm từ nước ép táo tươi. Tôi tin rằng dọc theo xa lộ, ai ai cũng có bán giày moccasin[1] và găng tay da hươu. Và có ai mà không bán kẹo sữa dê? Thế mà cho đến lúc đó, tôi chưa thấy một quầy-xưởng nào giữa thôn quê có bán giày và quần áo. Những ngôi làng tại đây đẹp nhất đất nước này, tôi nghĩ vậy. Chúng ngăn nắp, được quét sơn trắng toát, và nếu không kể các khách sạn và phố du lịch thì chúng không hề thay đổi suốt hàng trăm năm qua, chỉ trừ có giao thông và những con đường lát đá.

Khí hậu nhanh chóng chuyển sang lạnh và cây cối bùng nổ muôn màu sắc, những sắc đỏ, sắc vàng mà bạn không thể tin nổi. Không chỉ là màu sắc mà còn là sự bừng sáng, tưởng chừng như lá cây đã nuốt lấy ánh sáng của mặt trời mùa hạ rồi từ từ nhả ra. Có cái chất của lửa trong các màu sắc ấy. Tôi dong xe tít lên núi cho kịp trước hoàng hôn. Một tấm biển cạnh con suối chào bán trứng tươi. Tôi bèn lái xe vào một con đường trang trại để mua một ít trứng và xin phép được cắm trại cạnh con suối, nói rằng tôi sẵn sàng trả tiền.

Chủ trại là một người đàn ông khắc khổ với khuôn mặt mà tôi cho là rất Yankee[2], cùng những nguyên âm bẹt mà chúng ta vẫn gán cho là lối phát âm của dân Yankee.

“Không cần trả tiền đâu”, ông ta nói. “Đất bỏ không mà. Nhưng tôi muốn ghé đó xem chiếc xế của ông”.

Tôi nói, “Để tôi tìm chỗ nào bằng phẳng và dọn dẹp qua cái đã, rồi mời ông xuống làm một tách cà phê hay gì đó”.

Tôi quay về, đi khảo sát, cho đến khi tìm được một chỗ bằng phẳng mà từ đó có thể nghe thấy tiếng róc rách của con suối hăm hở. Charley đã nhiều lần nói “Phù”, lần này thì điều đó có nghĩa là nó đang đói. Tôi mở cánh cửa Rocinante, bật đèn lên, và thấy bên trong một khung cảnh cực kỳ hỗn độn. Tôi vẫn thường xuyên phải thu dọn trên thuyền mỗi khi nó bị sóng nhồi, nhưng những cú thắng gấp và vọt tới đột ngột của chiếc xe thì lại là một mối nguy khác. Sách và giấy vương vãi khắp trên sàn. Chiếc máy đánh chữ của tôi nằm chông chênh trên một chồng đĩa nhựa, một khẩu súng trường bị rơi xuống, tựa nòng vào bếp lò, và cả một ram giấy năm trăm tờ bị bung ra, vương vãi như tuyết rơi khắp mọi nơi. Tôi bật chiếc đèn măng-sông đốt bằng gas, tống nguyên đống hổ lốn đó vào chiếc tủ nhỏ, rồi đun nước pha cà phê. Sáng mai tôi sẽ phải dọn dẹp lại đồ hàng của mình. Không ai chỉ ra được phải dọn như thế nào. Cần phải học kỹ thuật dọn như cách tôi đã học: thông qua thất bại. Khi trời tối thì cái lạnh cũng trở nên thấu xương, nhưng ngọn đèn và bếp gas đã sưởi ấm căn nhà nhỏ của tôi. Charley ăn bữa tối, đánh một vòng làm bổn phận của nó, rồi lui về cái góc trải thảm dưới gầm bàn, nơi sẽ là của riêng nó trong suốt ba tháng tới.

Có biết bao sản phẩm hiện đại để phục vụ cho một cuộc sống tiện nghi. Trên chiếc thuyền của mình, tôi đã phát hiện ra công dụng của các dụng cụ nấu nướng bằng nhôm dùng một lần rồi bỏ, chảo rán và đĩa sâu. Bạn rán xong con cá là liệng luôn qua mạn tàu chiếc đĩa dùng để nấu. Tôi trang bị rất kỹ những thứ như thế. Tôi khui một hộp thịt bò băm, múc thịt ra một chiếc đĩa dùng một lần. Rồi tôi bỏ nó lên tấm a-mi-ăng ở trên ngọn lửa nhỏ để hâm nó thật chậm. Món cà phê vừa vặn xong thì Charley phát ra tiếng gầm sư tử của nó. Không cách gì mô tả được sự khoan khoái khi được báo trước có ai đó đang tiến đến trong màn đêm. Và nếu như kẻ đang tiến đến có tà tâm thì tiếng gầm này có thể sẽ làm hắn chùn bước mà không hề hay biết rằng Charley về cơ bản yêu hòa bình và có phẩm chất ngoại giao.

Chủ trại gõ cửa và tôi mời ông ta vào.

“Ở đây thích nhỉ”, ông ta nói.

“Vâng, chỗ của ông thích thật”.

Ông ta xoài mình trên chiếc ghế bên cạnh bàn. Chiếc bàn này có thể hạ thấp xuống vào ban đêm và những chiếc gối có thể chuyển thành một chiếc giường đôi. “Thích thật”, ông ta lặp lại.

Tôi rót cho ông ta một tách cà phê. Có cảm giác như cà phê thơm hơn khi trời có sương giá.

“Có cần thêm vào chút gì không?” tôi hỏi. “Thêm chút gì cho phê nhé?”

“Không cần, vậy được rồi. Tốt lắm rồi”.

“Thêm chút rượu táo nhé? Tôi lái xe cũng mệt. Tôi cũng dùng một chút”.

Ông ta nhìn tôi với một vẻ thích thú có kiềm chế mà những người không phải Yankee sẽ cho là kém cởi mở. “Nếu tôi không dùng thì ông có dùng không?”

“Không, chắc là không”.

“Vậy tôi sẽ không làm phiền. Cho tôi xin một thìa thôi nhé”.

Tôi bèn rót cho mỗi người chúng tôi một ít rượu táo hai mươi mốt tuổi, rồi xoải người ở phía bên kia bàn. Charley xích ra để nhường chỗ và kê chiếc cằm của nó lên bàn chân tôi.

Trên đường đi phải giữ kẽ. Không có chỗ đâu cho những câu hỏi trực tiếp và riêng tư. Nhưng đó âu cũng là thói thường ở khắp nơi trên thế giới. Ông ta không hỏi tên tôi và tôi cũng không hỏi tên ông ta, nhưng tôi đã thấy cái liếc nhanh của ông ta về phía các cây súng trong những chiếc bao cao su đựng chúng, và phía những cần câu gài trên vách.

Khrushchev[3] đang ở Liên Hiệp Quốc. Đó là một trong số ít lý do tôi muốn có mặt ở New York. Tôi hỏi, “Ông có nghe đài bữa nay không?”

“Bản tin lúc năm giờ”.

“Có chuyện gì ở Liên Hiệp Quốc không? Tôi quên chưa nghe”.

“Ông không tin nổi đâu”, ông ta nói. “Ngài K. tháo giày ra đập lên bàn”.

“Để làm gì?”

“Thì không ưng những gì người ta nói”.

“Cách phản đối lạ lùng nhỉ?”

“Thì đó, nó gây được chú ý. Tin tức chỉ toàn nói chuyện này”.

“Lẽ ra họ phải giộng búa bắt ông ấy xỏ giày vào”.

“Ý hay đấy. Có lẽ chiếc búa phải mang hình chiếc giày để ông ấy khỏi ngượng”. Ông ta nhấp một ngụm rượu táo, vẻ nhâm nhi. “Ngon thật”, ông ta nói.

“Dân quanh đây nghĩ gì về chuyện đáp trả người Nga?”

“Tôi chả biết người khác nghĩ gì. Nhưng theo tôi thì việc đáp trả nghe có vẻ thủ thế quá. Tôi muốn thấy ta phải làm gì đó để họ lo mà đáp trả ta mới phải”.

“Ông nói nghe hay đấy”.

“Tôi thấy ta lúc nào cũng bị động cả”.

Tôi tiếp cà phê vào các tách rồi rót thêm một ít rượu táo cho cả hai. “Ông nghĩ ta phải tấn công à?”

“Tôi cho rằng ít ra cũng phải có lúc ta cầm bóng chứ”.

“À mà chuyện bầu bán quanh đây thế nào rồi nhỉ?”

“Làm sao tôi biết được”, ông ta nói. “Đâu có ai nói năng gì. Theo tôi, đây là cuộc bầu cử bí ẩn nhất xưa nay chỗ chúng tôi. Chẳng ai chịu nói ra ý kiến của mình”.

“Hay có khi nào họ không có ý kiến gì?”

“Có thể lắm, hay có thể họ chỉ đơn giản là không muốn nói. Tôi còn nhớ trong các cuộc bầu cử khác, lẽ ra phải có những bàn cãi nảy lửa nhưng tôi có nghe thấy gì đâu”.

Và đó là điều tôi đã phát hiện ra ở khắp đất nước này: không bàn cãi, không tranh luận.

“Ở nơi khác có giống như vậy không?” Ông ta hẳn đã nhìn thấy biển số xe của tôi, nhưng vẫn cứ hỏi trổng.

“Tôi thấy ông nói đúng. Ông nghĩ có phải người ta sợ không dám có ý kiến không?”

“Số nào đó có thể. Nhưng tôi biết có một số người không sợ mà vẫn chẳng nói năng gì”.

“Tôi cũng có gặp những người như thế”, tôi nói. “Nhưng tôi cũng không biết nữa, thật đấy”.

“Tôi cũng vậy. Có lẽ đó là một phần của câu chuyện cũ ấy mà. Không, cảm ơn ông, tôi không uống nữa đâu. Tôi đánh hơi thấy bữa tối của ông sắp sẵn sàng rồi đó. Tôi xin cáo từ đây”.

“Ông nói một phần của chuyện gì?”

“Thì đó, như ông nội tôi và cha của ông ấy – cụ vẫn còn sống đến năm tôi mười hai tuổi. Họ đã biết thứ gì thì biết rất chắc. Họ biết rõ cả những chuyện nhỏ nhặt, và họ biết những gì có thể xảy ra. Còn bây giờ... Điều gì có thể xảy ra nào?

“Tôi không biết”.

“Chẳng ai biết cả. Ý kiến ý cọ để mà làm gì nếu như đã không biết? Ông nội tôi còn biết bộ râu của Thượng đế có bao nhiêu cọng nữa kìa. Còn tôi, chuyện gì xảy ra ngày hôm qua còn chưa biết, nói gì đến ngày mai. Ông ấy biết cái gì tạo ra hòn đá hay chiếc bàn. Còn tôi thì ngay cả cái công thức “không ai biết” cũng chẳng hiểu nổi. Chúng ta chẳng biết bám víu vào đâu cả, chẳng biết đường nào để suy nghĩ về mọi thứ. Tôi rút đây. Sáng mai ta có gặp lại nhau không nhỉ?”

“Tôi không biết. Tôi sẽ đi sớm đấy. Tôi muốn tránh kẹt xe khi băng qua Maine để đến Deer Isle”.

“Này, nơi đó rất đẹp, đúng không?”

“Tôi chưa biết. Tôi chưa từng đến đó”.

“Đẹp lắm đấy. Ông sẽ thích nơi đó. Cảm ơn về món cà phê nhé. Chúc ông ngủ ngon”.

Charley dõi theo ông ta, thở dài một tiếng rồi ngủ tiếp. Tôi ăn món thịt bò băm của mình rồi hạ giường xuống rồi rút ra cuốn Sự đi lên và sụp đổ của Đệ tam Quốc xã của Shirer. Nhưng tôi chợt nhận ra mình không đọc được, và khi tắt đèn thì tôi lại không ngủ được. Tiếng con suối róc rách trên các tảng đá là một âm thanh thư giãn, nhưng cuộc trò chuyện với người chủ trại vẫn ở lại trong tôi. Quả là một người đàn ông sâu sắc, nói năng khôn khéo. Chẳng dễ gì gặp được người như ông ta. Và có thể ông ta đã chạm ngón tay vào đó. Loài người có lẽ đã mất hàng trăm triệu năm để quen thuộc với lửa như một món vật và một ý tưởng. Trong khoảng thời gian kể từ lúc một người bị bỏng ngón tay khi chạm vào một thân cây bị sét đánh cho đến khi một người khác khuân một phần cây vào trong hang và nhận thấy nó giữ được ấm, có lẽ phải trải qua hàng trăm ngàn năm, nhưng từ đó đến các lò cao ở Detroit... là bao lâu?

Và giờ đây trong tay ta đã có một lực lượng mạnh hơn biết bao, và chúng ta không có thời gian để triển khai các phương tiện suy nghĩ, vì con người cần phải có cảm xúc rồi tiếp đó là ngôn ngữ trước khi có thể tiếp cận với tư duy và – ít ra là trong quá khứ – điều này mất rất nhiều thời gian.

Gà đã gáy trước cả khi tôi chìm vào giấc ngủ. Tôi cảm thấy cuộc hành trình này rốt cuộc cũng đã được khởi đầu. Trước đây tôi không thực sự tin điều đó.

༺༒༻

Charley thích dậy sớm, và nó thích làm cho tôi cũng dậy sớm theo. Tại sao không nhỉ? Ngay sau bữa sáng, nó đi ngủ lại. Sau nhiều năm, nó học được một số chiêu thức trông như vô tội để dựng tôi dậy. Nó có thể rung lắc thân mình và chiếc vòng cổ, phát ra những âm thanh đủ lớn để đánh thức cả người chết. Nếu việc đó không hiệu quả, nó lên cơn hắt hơi. Nhưng có lẽ biện pháp dễ cáu nhất của nó là lặng lẽ ngồi bên giường, nhìn vào mặt tôi bằng ánh mắt ngọt ngào và vị tha. Dù ngủ sâu cách mấy, tôi cũng phải tỉnh dậy khi có cảm giác bị nhìn.

Nhưng tôi đã học được cách nhắm tịt mắt. Chỉ cần mắt tôi hơi nhấp nháy là nó lại hắt hơi, duỗi mình và giấc ngủ đó của tôi coi như đi tong. Thường thì cuộc chiến ý chí này kéo dài khá lâu. Tôi nhắm nghiền mắt còn nó thì tha thứ cho tôi, nhưng gần như lần nào nó cũng thắng. Nó thích đi du lịch đến mức luôn muốn khởi hành sớm, và sớm đối với Charley là khoảng nhá nhem giữa đêm tối và bình minh.

Tôi nhanh chóng phát hiện rằng nếu một khách du lịch lạ muốn nghe lỏm dân địa phương thì nơi anh ta nên lẻn vào và lắng nghe chính là quán bar và nhà thờ. Nhưng một số thị trấn ở New England lại không có quán bar, và nhà thờ thì chỉ mở cửa ngày chủ nhật. Một giải pháp thay thế tốt là những quán ăn dọc đường, nơi người ta tụ tập dùng điểm tâm trước khi đi làm hoặc đi săn. Để tìm ra những quán như thế mà không bị đông khách thì phải dậy từ rất sớm. Và ngay cả khi đó cũng vẫn có một trở ngại. Những người dậy sớm không bao giờ nói chuyện với người lạ, thậm chí họ cũng chẳng mấy khi nói chuyện với nhau. Những cuộc chuyện trò lúc điểm tâm thường chỉ giới hạn ở vài tiếng càu nhàu cộc lốc. Sự kiệm lời bẩm sinh của người New England đạt đến đỉnh cao hoàn hảo của nó trong bữa ăn sáng.

Tôi cho Charley ăn, dẫn nó đi dạo quanh một chút rồi lên đường. Một màn sương giá phủ kín những ngọn đồi và kết băng trên tấm kính chắn gió của xe tôi. Tôi không phải là người thường ăn sáng, nhưng lúc này tôi phải ăn vì nếu không thì sẽ chẳng gặp được ai trừ khi dừng xe để đổ xăng. Đến quán ăn bên đường đầu tiên sáng đèn, tôi đẩy cửa bước vào và ngồi xuống bên quầy. Khách hàng đang khom cả xuống tách cà phê của họ như những cây dương xỉ. Cuộc trao đổi thông thường như sau:

PHỤC VỤ: “Vẫn vậy?”

KHÁCH HÀNG: “Vâng”.

PHỤC VỤ: “Nguội chút nhé?”

KHÁCH HÀNG: “Vâng”.

(mười phút sau)

PHỤC VỤ: “Rót thêm nhé?”

KHÁCH HÀNG: “Vâng”.

Vị khách hàng này xem ra là bép xép lắm rồi. Một số nói trong cổ họng “Ừ” và số khác chẳng thèm trả lời. Các cô phục vụ bàn vào buổi sáng sớm ở New England thường sống cô độc, nhưng tôi nhanh chóng nhận ra rằng nếu tôi cố mang sự sống và sự vui vẻ đến cho công việc của họ bằng một lời nhận xét vô tư thì các cô sẽ cụp mắt xuống và nói “Vâng” hoặc “Ừ”. Dù vậy, tôi vẫn cảm thấy có một dạng giao tiếp nào đó, nhưng chả hiểu là dạng nào.

Cách tốt nhất để biết tin tức là nghe đài buổi sáng. Tôi đã học được cách để yêu thích thói quen này. Mỗi thị trấn vài ngàn dân có trạm phát thanh riêng, và nó soán vị trí của các tờ báo địa phương xưa cũ. Nhà đài thông báo về các cuộc ngã giá và buôn bán, các hoạt động xã hội, giá cả hàng hóa, các loại thông điệp. Các bản nhạc thì giống nhau trên khắp đất nước. Nếu như “Thiên thần tuổi teen” nằm đầu danh sách các bài hát ở Maine thì nó cũng nằm đầu danh sách ở Montana. Trong một ngày, bạn có thể nghe “Thiên thần tuổi teen” phát đi phát lại từ ba đến bốn chục lần. Nhưng ngoài tin tức địa phương ra, cũng có vài mẩu quảng cáo của địa phương khác lọt vào. Càng đi xa lên phía bắc và càng lạnh thì tôi càng thấy nhiều quảng cáo bất động sản ở Florida. Và với mùa đông kéo dài và lạnh giá đang đến gần, tôi có thể hiểu vì sao Florida lại là một từ bằng vàng. Càng đi, tôi càng thấy có nhiều người thèm khát Florida và hàng vạn người đã di chuyển xuống đó, thêm hàng vạn người khác đang muốn và sẽ đi. Những mẩu quảng cáo, được Ủy ban Truyền thông liên bang duyệt sơ, chẳng mang thông tin gì nhiều ngoài cái thực tế là đất đai được rao bán đều nằm ở Florida. Một số mẩu còn đi quá đà, hứa hẹn rằng đất rao bán nằm trên mực nước biển. Nhưng chẳng sao, tự cái tên Florida đã mang theo một thông điệp ấm áp, thoải mái và sung túc. Không thể cưỡng lại được cái tên đó.

Tôi sống ở nơi thời tiết tốt, và điều đó làm tôi chán muốn chết đi được. Tôi thích thời tiết hơn là khí hậu. Ở Cuernavaca, Mexico, nơi mà tôi từng sống và cũng là nơi mà thời tiết gần như là hoàn hảo – như người ta vẫn nói – tôi nhận thấy khi người ta rời khỏi đó thì người ta thường đi đến Alaska. Tôi rất muốn biết một người sống ở hạt Aroostook sẽ cầm cự được bao lâu ở Florida. Rắc rối nằm ở chỗ, một khi tiền dành dụm được chuyển đến và đầu tư ở đó, anh ta sẽ khó lòng mà quay trở về. Con súc sắc của anh ta đã được gieo, anh ta đâu thể nào nhặt nó lên trở lại. Tôi nghĩ đến một người ở Down East ngồi trên chiếc ghế nylon-nhôm giữa một bãi cỏ mà mùa nào cũng xanh như mùa nào, bận rộn với việc đập muỗi trong một buổi tối Florida. Liệu con dao của ký ức có đâm vào bụng anh ta ngay phía dưới xương sườn, khiến anh ta đau đớn? Và trong cái ẩm ướt của mùa hè vĩnh cữu, tôi dám thách ký ức hình ảnh của anh ta không quay trở lại với tiếng hét của màu sắc, với cái se se của bầu không khí sương giá, với mùi gỗ thông đang cháy và cái ấm ve vuốt của nhà bếp. Vì làm sao người ta biết được thế nào là màu sắc khi ở giữa một màu xanh vĩnh cữu? Và ấm áp để làm gì nếu không có cái lạnh để khiến nó trở nên ngọt ngào?

Tôi lái xe chậm tối đa ở mức mà thông lệ và quy luật của sự kiên nhẫn cho phép. Đó là cách duy nhất để thấy được mọi thứ. Cứ cách vài dặm là các bang lại cung cấp một chỗ để người ta nghỉ ngơi dọc đường, đôi khi là nơi trú chân gần những con suối sẫm màu. Có những thùng dầu được sơn lên để làm thùng đựng rác, và có những chiếc bàn dã ngoại, đôi khi có cả lò sưởi hay lò nướng barbecue. Cứ cách vài chỗ như thế, tôi lại đưa Rocinante rời đường nhựa và để cho Charley ra ngoài đánh hơi những gì lưu lại từ những người khách trước. Rồi tôi đun món cà phê của tôi và thoải mái ngồi trên bậc thang ở đuôi xe, ngắm nghía rừng và nước và những ngọn núi đang dâng cao nhanh chóng, với những chòm tùng bách và linh sam phủ tuyết phía bên trên. Cách đây lâu lắm rồi, trong dịp lễ Phục sinh, tôi có một quả trứng-nhìn[4]. Nhòm vào chiếc lỗ kim ở một bên đầu, tôi thấy một trang trại nhỏ đáng yêu, một trang trại trong mơ. Và trên ống khói của ngôi nhà nông trại có một con cò đang ngồi trên chiếc tổ. Tôi coi đó như một trang trại cổ tích và dĩ nhiên tưởng tượng ra những chú lùn ngồi trên những trái nấm dù. Và rồi, ở Đan Mạch, tôi đã thấy trang trại đó hay một phiên bản anh em của nó, y hệt như trong quả trứng-nhìn. Và ở Salinas, California, nơi tôi lớn lên, mặc dù nơi ấy cũng có chút sương giá nhưng khí hậu vẫn rất tuyệt, nhiều sương mù. Khi chúng tôi thấy những bức ảnh màu chụp rừng thu ở Vermont thì đó cũng lại là một thứ cổ tích, và chúng tôi nói trắng ra là không tin vào nó. Ở trường, chúng tôi học thuộc bài thơ “Nghẽn tuyết” và những bài thơ nho nhỏ về Ông già tuyết và cây cọ của ông ấy, nhưng điều duy nhất mà Ông già tuyết làm cho chúng tôi là tráng một lớp băng mỏng lên máng xối và cũng hiếm khi ông làm điều đó. Tôi thấy sửng sốt khi nhận ra không chỉ mớ màu sắc hỗn loạn ấy là thật mà ngay cả các bức ảnh cũng chỉ là những diễn dịch nhợt nhạt và không chính xác. Tôi thậm chí không hình dung nổi những màu sắc của rừng khi không thấy chúng trước mắt. Tôi tự hỏi liệu quá quen với màu sắc có làm người ta mất đi sự chú ý. Và tôi đã đem thắc mắc này hỏi một phụ nữ quê gốc ở New Hampshire. Bà ta nói mùa thu chưa bao giờ làm bà thôi ngạc nhiên, thôi phấn chấn. “Nó là cả một sự huy hoàng”, bà nói, “và người ta không thể nhớ được nó. Vì vậy nó luôn đến như một sự bất ngờ”.

Trong dòng suối cạnh chỗ nghỉ, tôi thấy một con cá hồi nhảy lên từ làn nước sẫm của chiếc vũng, làm tuôn ra những vòng tròn bàng bạc. Cả Charley cũng thấy. Nó bèn lội xuống, bị ướt be bét. Đúng là chó ngốc. Nó chả bao giờ biết nghĩ về tương lai cả. Tôi bước vào Rocinante để lấy ra mấy món rác nho nhỏ của tôi, cho vào chiếc thùng dầu: hai chiếc hộp thiếc rỗng. Tôi đã ăn một hộp và Charley ăn một hộp. Trong số những cuốn sách tôi mang theo, tôi thấy có một bìa dễ nhớ. Tôi bèn lôi nó ra ánh sáng: một bàn tay vàng cùng lúc nắm một con rắn và một tấm gương có cánh. Và dưới hình này là những chữ trông giống như viết tay: “Khán giả, Henry Morley biên soạn”.

Đối với một nhà văn thì hình như tôi đã có một tuổi thơ may mắn. Ông ngoại của tôi, Sam’l Hamilton, yêu những áng văn hay và cũng rất rành về chúng. Ông có vài cô con gái là nữ sĩ, trong đó có mẹ tôi. Cho nên tại Salinas, trên chiếc kệ sách lớn màu sẫm bằng gỗ hồ đào có lắp cửa kính, luôn có những thứ kỳ diệu để mà phát hiện. Cha mẹ tôi chưa bao giờ cho phép và những cánh cửa kính rõ ràng là để canh giữ chúng, cho nên tôi phải chôm chúng từ kệ sách. Điều này chưa bao giờ bị cấm đoán mà cũng chưa bao giờ được khuyến khích. Tôi nghĩ nếu như ngày nay ta cứ cấm những đứa con ít chữ nghĩa của chúng ta, không cho chùng sờ vào những thứ đẹp đẽ của nền văn chương, thì có khi chúng lại lấy trộm những thứ đó và tìm được niềm vui thầm kín chưa biết chừng. Từ rất sớm, tôi đã mang nặng một tình yêu chưa bao giờ phai nhạt đối với Joseph Addison[5]. Ông ta bay lượn với ngôn ngữ chẳng khác gì Casals[6] dạo chơi với cây cello vậy. Chẳng biết ông ta có ảnh hưởng gì đến văn phong của tôi không, nhưng tôi hy vọng là có. Ở White Mountains năm 1960, ngồi dưới mặt trời, tôi mở tập sách đầu tiên khó quên ấy, in năm 1883. Tôi giở Phần 1 của Khán giả – thứ năm, ngày 1 tháng 3 năm 1711. Nó khởi đầu như sau:

“Non Fumum ex fulgore, sed ex fumo dere lucem Cogitat, et speciosa dehine miracula promat”. — Horace.[7]

Tôi còn nhớ cái cách mà Addison xiết bao yêu quý đã dùng chữ viết hoa cho các danh từ. Dưới ngày tháng nêu trên, ông viết:

“Tôi quan sát thấy Người đọc hiếm khi nghiền ngẫm một Cuốn sách với sự Hào hứng trừ phi anh ta biết được Tác giả của nó là người bất chính hay đàng hoàng, Tính tình hòa nhã hay cáu hắt, Độc thân hay đã Lập Gia đình, cùng những Đặc điểm khác trong Tính cách. Điều này giúp đỡ rất nhiều để có được sự Hiểu biết đúng đắn về Tác giả. Để thỏa mãn sự Hiếu kỳ này, điều cũng rất tự nhiên ở Người đọc, tôi dùng Bài viết này và bài kế tiếp để làm Lời Giới thiệu cho những bài viết tiếp nữa của tôi, trong đó tôi sẽ có sự Liệt kê nhiều nhân vật đã tham gia vào Công trình này. Do việc Sưu tập, Phân loại và Sửa chữa rơi vào Phần Trách nhiệm của tôi, tôi buộc phải tạo sự Công bằng cho bản thân bằng cách mở đầu Công trình này bằng Tiểu sử của chính mình”.

Chủ nhật, 29 tháng 1 1961. Vâng, thưa Joseph Addison, tôi đã nghe và xin tuân theo ông không cần sự Bàn cãi, vì rõ ràng sự Hiếu kỳ mà ông đề cập đến quả không có Phương cách nào để làm cho suy giảm. Tôi đã thấy nhiều Người đọc quan tâm đến cách tôi ăn mặc hơn là cách tôi suy nghĩ, háo hức với cách tôi làm hơn là việc tôi làm. Về phần Công trình của tôi, một số Người đọc thể hiện nhiều Cảm xúc đối với việc nó gây ấn tượng gì còn hơn cả nó nói gì. Do sự Gợi ý của Thượng đế chính là một Mệnh lệnh, tương tự như Kinh Thánh, nên tôi có thể coi là mình đồng thời vừa lạc đề, vừa vô đề.

So với bình quân thì tôi là người cao ráo – cao đến một mét tám ba – mặc dù so với các thành viên nam trong gia đình thì tôi bị xem là một chú lùn. Họ cao phải từ một mét tám tám đến một mét chín sáu, và tôi biết cả hai đứa con trai của tôi sẽ vượt tôi khi chúng đạt đến độ cao tối đa. Vai tôi rất rộng và, trong trạng thái hiện nay, tôi tự thấy hông của mình rất hẹp. Chân tôi dài so với thân hình, và người ta nói là trông chúng rất thon thả. Tóc tôi màu xám bạc, mắt tôi xanh và má tôi hồng hào, một làn da thừa hưởng từ bà mẹ Ai-len của tôi. Khuôn mặt tôi không khỏi bị thời gian làm hao mòn, và dấu vết của nó đã được ghi lại qua những vết xẹo, nếp nhăn, và sự héo hắt. Tôi để râu quai nón và ria mép, nhưng lại cạo nhẵn ở vùng má. Cái gọi là râu quai nón có một dải sẫm lông chồn ở giữa và viền trắng, gợi nhớ đến một số người họ hàng. Tôi nuôi bộ râu này không phải vì những lý do thông thường như da xấu hay ngại đau khi cạo, cũng chẳng phải để bí mật che lấp chiếc cằm yếu ớt, mà thuần túy chỉ là một sự trang trí trâng tráo, khá giống với con công khoái chí với bộ lông đuôi của nó. Và cuối cùng, trong thời đại chúng tôi, râu là thứ mà phụ nữ không thể vượt trội hơn so với nam giới, và nếu như vượt được thì sự thành công của họ chỉ có thể được đảm bảo ở rạp xiếc.

Trang phục du lịch của tôi là khá thực dụng, xen lẫn đôi chút lập dị. Đôi ủng cao su kiểu Half-Wellington có đế lót bằng bần, giữ cho bàn chân tôi ấm áp và khô ráo. Quần ka-ki bông – mua tại một cửa hiệu bán hàng dạt của quân đội – bó ở cổ chân tôi, trong khi ở phía trên, tôi thích khoác áo đi săn có cổ và tay áo bằng dạ cùng một túi để đồ săn sau lưng, đủ rộng để đưa lậu một nàng công chúa da đỏ vào YMCA[8]. Chiếc nón là thứ tôi đã đội suốt nhiều năm qua, một chiếc nón hải quân Anh bằng vải serge với phần lưỡi trai ngắn và trên chóp của nó có thêu biểu tượng sư tử và kỳ lân vương giả, như đang đấu đá nhau bất tận để giành giật chiếc vương miện của nước Anh. Chiếc nón này trông khá cổ và bụi, nhưng người hoa tiêu trưởng của một tàu rà ngư lôi đã tặng nó cho tôi lúc tôi đi trên con tàu này rời Dover hồi chiến tranh, ông ta là một quý ông hào hoa và một sát thủ. Sau khi tôi rời khỏi sự chỉ huy của ông ta, ông ta đã tấn công một tàu E-boat[9] của Đức. Ông ta không khai hỏa để cố giữ cho nó nguyên vẹn vì chưa từng ai bắt được loại tàu này, rồi loay hoay thế nào đó mà chính tàu của ông ta lại bị đánh chìm. Từ đó, tôi đội chiếc nón của ông ta để vinh danh ông và cũng để tưởng nhớ đến ông. Hơn nữa, tôi rất thích nó. Nó hợp với tôi. Ở Down East thì chiếc nón này chẳng ai thèm ngoái đầu nhìn, nhưng sau đó ở Wisconsin, Bắc Dakota, Montana, khi tôi đã bỏ lại biển rất xa phía sau lưng, tôi nghĩ nó đã gây sự chú ý. Tôi bèn mua một thứ mà ta vẫn hay gọi là “nón cao bồi” hiệu Stetson, vành không rộng lắm, một chiếc nón miền Tây trông đẹp đẽ nhưng thủ cựu, loại mà các ông chú chăn bò của tôi vẫn thường hay đội. Chỉ đến khi ra đến một vùng biển khác ở Seattle, tôi mới đội lại chiếc nón hải quân kia.

Chuyện này quả là không ăn nhập gì với những lời huấn thị của Addison, nhưng tôi sẽ trở lại với Người đọc của mình tại cái địa điểm dã ngoại này ở New Hampshire. Tôi đang ngồi đó lật giở tập đầu tiên của Khán giả và suy ngẫm về việc làm cách nào trí óc có thể thường xuyên làm hai việc cùng lúc nếu là những việc mà nó biết, và nhiều việc cùng lúc nếu là những việc nó không biết, thì một chiếc xe sang trọng chạy vào. Một phụ nữ khá đẫy đà và lòe loẹt thả ra một con chó thuộc giống Pomerania[10] cũng không kém đẫy đà và lòe loẹt, có vẻ như là chó cái. Tôi chắc sẽ không biết chi tiết sau cùng này, nhưng Charley thì biết. Ló đầu ra từ phía sau chiếc thùng đựng rác, nó cho rằng con chó ấy đẹp, và dòng máu Pháp của nó liền trỗi dậy. Nó bèn trổ tài tán tỉnh một cách sống sượng, ngay cả đối với ánh mắt uể oải của chủ nhân nàng chó. Con chó ấy phát ra một tiếng kêu inh ỏi tựa như một con thỏ bị thương. Nó vọt ra khỏi xe và có lẽ đã túm được ngực của bà chủ nếu bà ta cúi xuống thấp một chút. Điều duy nhất mà bà ta có thể làm là phát một cú vào đầu của Charley cao kều. Một cách rất tự nhiên và ngẫu hứng, nó táp nhẹ vào tay bà ta trước khi tiếp tục cuộc tán tỉnh. Cho đến lúc đó tôi vẫn chưa hiểu rõ lắm ý nghĩa của thành ngữ “to make the welkin ring” – “làm rung chuyển bầu trời”. Đầu tiên là tôi không biết bầu trời ở đây có ý gì. Tôi sẽ tra lại sau. Nhưng cái bà chết tiệt đó chắc chắn đã làm rung chuyển mọi thứ. Tôi tóm lấy tay bà ta, thấy da dẻ bà thậm chí còn chưa bị xây xước, do đó tôi tóm lấy con chó của bà ta, và nó tức thì đớp tôi một phát chảy cả máu me trước khi tôi tóm được cổ con quái vật nhỏ đó và nhè nhẹ siết lại.

Charley xem toàn bộ khung cảnh này là nhảm nhí. Nó tè vào chiếc thùng đựng rác có lẽ đến lần thứ hai mươi, rồi mới quyết định thôi.

Phải mất khá nhiều thời gian để xoa dịu quý bà kia. Tôi đem ra nguyên một chai brandy có thể giết chết bà ta được, và bà ta hớp một ngụm có thể khiến bà ta chết lăn quay ra.

Sau tất cả những gì tôi đã làm cho nó, hẳn bạn nghĩ Charley sẽ đến đỡ đần cho tôi? Nhưng không, nó không ưa sự kích động và rất ghét cảnh chè chén. Nó leo vào Rocinante, trườn xuống dưới gầm bàn và đánh một giấc ngon lành. Hết biết nổi loài khuyển.

Cuối cùng thì mệnh phụ kia cũng xéo đi trong khi xe vẫn còn gài thắng tay. Một ngày mà tôi dày công xây dựng cũng theo đó mà tan nát. Adisson biến thành tro bụi, con cá hồi không khuấy động vũng nước nữa, và một đám mây đã che lấp mặt trời, đưa cái lạnh se se vào không khí. Tôi thấy mình đang lái xe nhanh hơn mong muốn và trời bắt đầu đổ mưa, một cơn mưa lạnh như thép. Tôi không dành cho những ngôi làng xinh xắn sự chú ý mà chúng đáng được hưởng. Từ trước đó rất lâu tôi đã băng qua Maine và tiếp tục đi về phía đông.

Ước gì các bang chịu thống nhất với nhau về giới hạn tốc độ. Đúng lúc bạn vừa làm quen với tốc độ tám mươi kmh thì bạn băng qua ranh giới bang và buộc phải nâng tốc độ lên một trăm lẻ bốn kmh. Tôi tự hỏi tại sao họ không thể đạt đến một thỏa thuận với nhau. Tuy nhiên, có một điều mà tất cả các bang đều thống nhất: mỗi bang đều khẳng định bang của mình là tốt nhất và tuyên bố điều này bằng những dòng chữ lớn khi bạn vượt qua ranh giới bang. Trải qua gần bốn mươi bang, tôi chưa thấy một bang nào không dành những lời lẽ tốt đẹp để nói về bản thân. Điều này có phần hơi khiếm nhã. Có lẽ tốt hơn cả là cứ để cho khách tham quan tự đánh giá. Nhưng có thể chúng ta sẽ chẳng đánh giá đánh giủng gì nếu họ không tìm cách lôi kéo sự chú ý của chúng ta.

❀ ❀ ❀

[1] Loại giày bằng da hươu và các loại da mềm khác, có xuất xứ từ người da đỏ ở Canada, kiểu dáng như giày da lộn mà ở ta hay gọi là “giày lười”.

[2] Thường chỉ người miền Bắc nước Mỹ hay cụ thể hơn là người New England.

[3] Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô từ năm 1953 đến 1964.

[4] Looking egg. Trước đây, một trong các dạng trứng Phục Sinh là trứng thật – trứng gà, vịt, hay ngỗng – nhưng tháo hết lòng đỏ và trắng bên trong, thay bằng một hình ảnh nào đó. Qua lỗ kim ở một đầu trứng có thể thấy hình ảnh này.

[5] Nhà viết tiểu luận, nhà thơ kiêm chính trị gia người Anh thời kỳ cuối thế kỷ 17, đầu thế kỷ 18.

[6] Nghệ sĩ viô-lông-xen nổi tiếng người Tây Ban Nha, sinh năm 1876, mất năm 1973.

[7] Tiếng La tinh, có nghĩa:

[8] Viết tắt Young Men’s Christian Association, tức Hiệp hội Thanh niên Cơ đốc, một tổ chức liên giáo phái quốc tế kết nạp rộng rãi giáo phái các quốc gia. Đây là lối nói ẩn dụ, ngụ ý là chiếc túi rất rộng.

[9] Một loại tàu ngầm rà ngư lôi của Đức Quốc xã.

[10] Một giống chó có nguồn gốc Trung Âu.

harley và hành trình nước Mỹ Cánh cửa mở rộng ebook©MotSAch TVE-4u©VCTVEGROUP —★— Nhà xuất bản: NXB Trẻ 03/2012
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.