Tôi luôn gặp khó khăn khi viết về nơi tôi sinh ra, Bắc California. Lẽ ra đó phải là điều dễ nhất, vì tôi biết rõ dải đất chồm ra Thái Bình Dương này hơn bất cứ nơi đâu trên thế giới. Nhưng với tôi không chỉ có một thứ để viết mà là quá nhiều thứ, thứ này xen chồng lên thứ khác cho đến khi tất cả trở nên rối tung. Thứ hiện tại bị cong oằn dưới ký ức của thứ quá khứ và thứ đã xảy đến với bản thân tôi tại đó, tất cả chồng lấn lên nhau cho đến khi sự khách quan trở thành hầu như vô phương. Con đường bê tông bốn làn bị xẻ dọc bởi những cỗ xe tốc độ cao khiến tôi hồi tưởng về con đường núi nhỏ hẹp, ngoằn ngoèo, nơi có những cỗ xe gỗ do những con la ì ạch kéo. Chúng báo hiệu mình đang đến bằng những tiếng lanh lảnh và ngọt ngào của những chiếc chuông đeo cổ. Đó từng là một thị trấn nhỏ thật nhỏ, một cửa hiệu tổng hợp dưới bóng cây, một tiệm rèn và một băng ghế để người ta ngồi nghe tiếng búa đanh giộng trên đe. Giờ đây, những căn nhà nhỏ, căn này giống hệt căn kế bên – đặc biệt kể từ khi chúng cố sức làm sao để khác biệt – trải dài hàng dặm đường ra khắp mọi hướng. Đó từng là một ngọn đồi xum xuê, với những cây sồi lá xanh xanh trên đám cỏ khô quắt, nơi bọn sói đồng cỏ vẫn hát ca trong những đêm sáng trăng. Đỉnh đồi nay đã bị cạo trọc, một trạm tiếp sóng truyền hình vươn cao lên bầu trời để mớm những hình ảnh căng thẳng cho hàng ngàn ngôi nhà co cụm như những đám rệp dọc theo những con đường.
Và đó phải chăng là một một lời than phiền tiêu biểu? Tôi chưa bao giờ kháng cự những đổi thay, ngay cả khi chúng được gọi tên là tiến bộ, nhưng tôi vẫn cảm thấy oán trách những người lạ đã làm tràn ngập nơi mà tôi nghĩ là quê hương bằng những tiếng ồn ào huyên náo, và bằng những vành đai rác rến không thể nào tránh khỏi. Và dĩ nhiên, đến phiên những người mới này sẽ oán trách những người mới hơn nữa. Tôi nhớ hồi còn nhỏ chúng tôi đã từng nuôi lòng khinh ghét một cách tự nhiên đối với những người lạ. Chúng tôi sinh trưởng nơi đây và cha mẹ chúng tôi cũng cảm thấy một sự ưu việt lạ lùng trước những người mới đến, những người man rợ, những forestiero[1], và họ, những người nước ngoài, cũng oán trách chúng tôi và thậm chí còn làm ra cả một bài thơ khinh mạn về chúng tôi nữa:
Thợ mỏ đến năm bốn chín,
Gái điếm đến hai năm sau
Và khi họ tụ với nhau Xuất đầu thằng Cu bản địa
Chúng tôi là sự sỉ nhục đối với người Mễ gốc Tây Ban Nha, còn họ là nỗi hận của người Da đỏ. Phải chăng đó là lý do vì sao các cây đại thụ làm cho người ta căng thẳng? Những “người bản xứ” đó là những cây đã trưởng thành khi cuộc hành quyết chính trị diễn ra ở Golgotha[2]. Họ cũng là những cây ở độ tuổi trung niên khi Caesar[3] hủy diệt nền cộng hòa La Mã trong quá trình bảo vệ nó. Với các cây đại thụ thì tất cả mọi người đều là kẻ lạ, bọn man rợ.
Đôi khi cái nhìn về sự thay đổi bị bóp méo bởi sự đổi thay bên trong chính chúng ta. Căn phòng tưởng như lớn bỗng dưng thu nhỏ lại, ngọn núi cao bỗng chốc thành ngọn đồi. Nhưng trường hợp này thì không có ảo tưởng nào cả. Tôi còn nhớ Salinas – thị trấn nơi tôi sinh ra – từng hãnh diện tuyên bố mình có bốn ngàn dân. Giờ đây, dân số của nó đã là tám chục ngàn, và còn đang nhảy vọt trong sự tăng trưởng toán học: một trăm ngàn dân trong ba năm nữa, hay có lẽ hai trăm ngàn dân sau mười năm, và không có dấu hiệu nào sẽ dừng lại? Ngay cả những người hân hoan với các con số và ấn tượng với sự to lớn cũng đã bắt đầu lo lắng, dần dần ý thức được rằng phải có một điểm bão hòa, và sự tiến bộ có thể trở thành tiến về phía sự bóp nghẹt. Và chưa có giải pháp nào được tìm ra. Đâu thể nào cấm người ta sinh đẻ, ít ra là cho đến lúc này.
Tôi đã nói về sự trỗi dậy của các nhà rơ-moóc, hay các nhà di động. Tôi cũng đã kể về một số điều tiện lợi cho các chủ nhân của chúng. Tôi tưởng rằng chúng có rất nhiều ở miền Đông và Trung Tây, nhưng chính ở California chúng mới thực sự đông kìn kịt. Các bãi nhà di động này nằm rải rác khắp nơi, phủ kín những sườn đồi, tràn xuống các lòng sông. Và chúng mang theo mình một vấn đề mới. Những người này chia sẻ tất cả những phương tiện của địa phương, từ bệnh viện, trường học, đến sự bảo vệ của cảnh sát, các chương trình phúc lợi, nhưng họ lại không đóng một đồng xu thuế nào. Các phương tiện địa phương được thiết lập dựa trên thuế đánh vào địa ốc, mà thuế này thì các nhà di động lại được miễn nhiễm. Thực ra thì tiểu bang cũng có áp đặt một loại phí cấp phép, nhưng phí này không đến được tay tiểu bang hay thị trấn, ngoại trừ phí bảo trì và mở rộng đường xá. Cho nên chủ nhân của các bất-di-động-sản cảm thấy mình đang phải nuôi báo cô một đống những người khách, và họ tỏ ra rất giận dữ về điều đó. Nhưng các luật thuế của chúng ta và cách thức chúng ta nghĩ về chúng đã được triển khai từ lâu rồi. Tinh thần chung là né thuế thân và thuế đánh lên phương tiện. Trong chúng ta từng bén rễ sâu cái ý niệm về bất động sản thực như nguồn gốc và biểu tượng của sự phồn vinh. Và giờ đây một lượng lớn người đã tìm ra được cách để lũng đoạn nó. Điều này cũng có thể là đáng hoan nghênh đấy vì chúng ta nhìn chung chẳng vẫn hay ngưỡng mộ những kẻ trốn được thuế đấy thôi, cho dù gánh nặng của sự tự do này có chất lên vai người khác, mỗi lúc một nặng hơn. Nhưng rõ ràng là, trong một thời gian ngắn, người ta sẽ phải nghĩ ra cả một phương pháp hoàn toàn mới để tính thuế, nếu không thì gánh nặng trên vai các địa ốc sẽ lớn đến mức chẳng còn ai chịu đựng nổi. Sự sở hữu sẽ không còn sinh lợi nhuận nữa mà trở thành một án phạt, và đó sẽ là đỉnh điểm của ngọn kim tự tháp nghịch lý. Trong quá khứ, chúng ta đã từng phải miễn cưỡng thay đổi do bị ép buộc bởi thời tiết, hỏa hoạn hay dịch bệnh. Nay thì áp lực lại đến từ sự thành công sinh học của chính chúng ta với tư cách một giống loài. Chúng ta đã vượt qua tất cả mọi kẻ thù, ngoại trừ chính bản thân mình.
Khi tôi còn bé, sống ở Salinas, chúng tôi gọi San Francisco là “Thành phố”. Dĩ nhiên khi ấy đó là thành phố duy nhất mà chúng tôi biết, nhưng đến giờ tôi vẫn nghĩ đó là Thành phố, và tất cả những ai từng gắn bó với nó đều nghĩ hệt như thế. “Thành phố” quả là một từ kỳ lạ và độc đáo. Ngoài San Francisco ra, chỉ vài phần nhỏ của London và Rome còn là “Thành phố” trong tâm trí người dân. Mexico City thì đã là Thủ đô mất rồi.
Từng có thời tôi biết Thành phố rất rõ, trải qua những ngày sôi động của tôi ở đó trong khi những người khác đang mơ tưởng về Paris. Tôi vào đời ở San Francisco, từng leo lên các ngọn đồi của nó, ngủ trong các công viên của nó, làm việc trên các bến cảng của nó, tuần hành và la hét trong các cuộc xuống đường của nó. Theo một cách nào đó tôi luôn cảm thấy mình sở hữu Thành phố chẳng khác gì nó sở hữu chính tôi.
San Francisco trưng ra phía trước tôi. Tôi thấy nó từ bên kia vịnh, từ những con đường bọc qua Sausalito và đi lên cây cầu Golden Gate. Nắng chiều sơn lên nó một màu trắng vàng, ngự trên những ngọn đồi của nó khiến nó giống như một thành phố tráng lệ trong giấc mơ hạnh phúc. Một thành phố trên đồi với những địa điểm bằng phẳng. New York tự tạo ra những ngọn đồi của chính mình bằng những tòa nhà vươn cao, nhưng cái thành lũy vàng trắng lớp lớp dựng trên nền trời xanh Thái Bình Dương này lại là một thứ gây sững sờ, một thứ được vẽ ra như bức tranh trung cổ Ý không có trong thực tại. Tôi dừng xe trong một bãi đậu để chiêm ngưỡng nó, ngắm nghía cả chiếc cầu trông như chiếc vòng cổ từ biển khơi dẫn lối vào nội thành. Trên những ngọn đồi xanh nhô cao ở phía nam, sương đêm ồ ạt tới như bầy cừu bị lùa vào chiếc chuồng bên trong thành phố vàng. Nó chưa bao giờ đẹp như thế. Thuở bé, mỗi khi sắp được lên Thành phố, tôi thường thao thức suốt nhiều đêm trước đó vì sục sôi háo hức. Nó để lại cho tôi một dấu ấn.
Tôi băng qua chiếc vòm lớn treo bằng những sợi dây. Và thế là tôi đã bên trong cái thành phố xiết bao thân thuộc.
Nó vẫn là Thành phố mà tôi nhớ. Nó tự tin xiết bao vào sự vĩ đại của mình, đến mức có thể cư xử một cách tử tế. Nó đã từng tử tế với tôi trong những ngày nghèo túng và không hề oán trách những cơn túng quẫn của tôi. Tôi có thể ở lại đó không biết đến bao lâu, nhưng tôi phải đến Monterey để bỏ lá phiếu vắng mặt của mình.
Những ngày tôi còn trẻ, ở quận Monterey phía nam San Francisco, tất cả mọi người đều theo đảng Cộng hòa. Gia đình tôi cũng theo phe Cộng hòa. Nếu tôi còn ở đó, có lẽ tôi vẫn còn theo phe Cộng hòa. Nhưng Tổng thống Harding[4] đã lôi kéo tôi về phía đảng Dân chủ và Tổng thống Hoover[5] đã chôn chân tôi ở đó. Nếu tôi tự cho phép mình có một lịch sử chính trị cá nhân, ấy là vì tôi nghĩ kinh nghiệm của tôi có thể không phải là độc nhất.
Tôi vừa đến Monterey là cuộc chiến đã bắt đầu. Các chị em gái của tôi vẫn còn theo phe Cộng hòa. Nội chiến được xem là cuộc chiến cay đắng nhất, và quan điểm chính trị của gia đình đương nhiên là thứ gì đó vừa say đắm vừa độc địa. Tôi không thể tranh luận về chính trị một cách lạnh lùng và sắc sảo như với những người lạ. Với các chị em gái tôi thì đừng hòng. Mỗi cuộc thảo luận chính trị đều kết thúc trong sự hổn hển và kiệt quệ vì giận dữ. Không thể có bất cứ thỏa hiệp nào. Không bên nào buông tha hoặc xin buông tha.
Mỗi tối, chúng tôi đều tự hứa, “Phải hòa thuận và thân ái với nhau. Tối nay không được bàn chính trị”. Và chỉ mười phút sau chúng tôi đã quát tháo vào mặt nhau. “John Kennedy[6] là người tuyệt vời thế này, tuyệt vời thế nọ...”
“Thôi được, nếu thái độ của cậu là như vậy, cậu làm cách nào đây để hòa giải với Dick Nixon[7]?”
“Bình tĩnh đã nào. Chúng ta là những người có lý lẽ mà. Hãy xem xét chuyện này cái đã”.
“Chị đã xem xét rồi. Ta làm một ly whisky Scotland nhé?”
“Ồ, chị đã nói thế thì cứ gì whisky. Tại sao không phải là cửa hàng tạp phẩm ở Santa Ana? Tại sao ta không làm một ván cờ, hả bà chị thân mến?”
“Cha mà nghe cậu nói thì chắc ông ấy phải đội mồ mà dậy”.
“Này, đừng có lôi cha vào đây. Ông ấy mà còn sống thì có khi giờ đây ông ấy đã theo phe Dân chủ rồi”.
“Cậu nói vậy mà được à. Bobby Kennedy[8] đang chạy rông mua hàng túi phiếu bầu kia kìa”.
“Bộ phe Cộng hòa chưa bao giờ mua phiếu sao? Chị làm tôi thấy buồn cười quá đi”.
Cay nghiệt và không có hồi kết. Chúng tôi đào lên tất cả những món vũ khí quy ước đã lạc hậu và sỉ vả nhau bằng những lời lẽ to tiếng qua lại.
“Cậu nói cứ y như Cộng sản ấy”.
“Vâng. Còn chị thì nói nghe chẳng khác gì Thành Cát Tư Hãn cả”.
Thật là kinh khủng. Người lạ mà nghe chúng tôi tranh luận thì có khi đã gọi cảnh sát để ngăn ngừa đổ máu rồi. Và tôi nghĩ chúng tôi không phải là những người duy nhất. Tôi tin rằng chuyện như thế này xảy ra ở những chốn riêng tư trên khắp đất nước ta. Có lẽ chỉ ở những nơi công cộng dân tộc ta mới bị líu lưỡi lại.
Mục đích chính của lần về nhà này có vẻ như để đấu tranh chính trị, nhưng giữa các trận đấu tôi cũng đã viếng thăm những nơi xưa cũ. Đã diễn ra một cuộc đoàn tụ cảm động ở quán bar của Johnny Garcia tại Monterey với những cái ôm và những giọt nước mắt, với sự âu yếm và những lời trìu mến giữa làn điệu Tây Ban Nha thuở thiếu thời. Ở đó có những người da đỏ Jolón mà tôi biết hồi còn rất trẻ. Chúng tôi nhảy múa một cách trang trọng, hai tay khóa lại phía sau lưng. Và chúng tôi hát vang khúc ca của quận nam, “There was a jung guy from Jolón – got seek from leeving halone. He wan to Keeng Ceety to get sometheeng pretty[9] – Puta chingada carbrón”[10]. Đã nhiều năm qua tôi không nghe bài hát này. Đó là một bài hát hội hè. Những năm tháng lổm ngổm bò ra từ những hang hốc của chúng. Đó là Monterey, nơi mà người ta đưa lên võ đài một con bò điên và một con gấu xám cho chúng đấu với nhau, nơi của bạo lực ngọt ngào và cảm động, khi mà sự láu cá giả nai vẫn còn là điều xa lạ, và vì thế không bị vấy bẩn bởi những tư duy tã lót.
Chúng tôi ngồi ở quầy bar và Johnny Garcia nhìn chúng tôi với đôi mắt Gallego[11] rơm rớm nước. Áo của anh ta phanh ngực và trên cổ anh ta treo lủng lẳng tấm mề đay vàng đeo trên sợi dây chuyền. Anh ta chồm qua quầy và nói với người đàn ông ở gần nhất, “Nhìn nó nè! Juanito[12] đã tặng nó cho tôi nhiều năm trước đây. Anh ấy mang nó đến từ Mexico, la Morena, La Virgincita de Guadalupe, và coi nè!” Anh ta xoay chiếc mề đay vàng hình bầu dục. “Tên tôi và tên anh ấy”.
Tôi nói, “Khắc bằng kim đấy”.
“Tôi chưa bao giờ cởi nó ra”, Johnny nói.
Một paisano[13] đen bự mà tôi không quen bỗng đứng lên thanh gác chân, chồm qua quầy bar. “Favor”[14] anh ta nói. Rồi, không thèm nhìn Johnny, anh ta nâng tấm mề đay lên, hôn nó đánh chụt, nói “Gracias”[15] rồi đi một mạch ra ngoài qua cánh cửa lò xo.
Lồng ngực Johnny căng lên vì xúc động, mắt anh ta rơm rớm nước. “Juanito”, anh ta nói. “Về nhà đi! Hãy về với bạn bè của anh. Chúng tôi yêu anh. Chúng tôi cần anh. Đây là chỗ ngồi của anh, comprade,[16] đừng để nó bị trống chứ”.
Phải thừa nhận rằng tôi cảm thấy sự trỗi dậy của tình yêu và muôn điều muốn nói, và rằng tôi không có lấy một giọt máu Galicia[17] nào. “Cuñado mio”[18], tôi rầu rĩ nói. “Giờ đây tôi sống ở New York mất rồi”.
“Tôi không ưa New York”, Johnny nói.
“Anh chưa từng đến đó mà”.
“Tôi biết chứ. Chính vì vậy mà tôi không ưa nó. Anh phải trở về thôi. Anh thuộc về nơi đây”.
Tôi uống một ngụm dài, tự nguyền rủa mình nếu như không tìm ra được lời. Những từ ngữ cũ lâu ngày không dùng bỗng ồ ạt kéo về. “Hãy để trái tim của anh biết lắng nghe, bạn thân ạ. Anh và tôi, chúng ta đâu còn bé bỏng gì cho cam. Thời gian đã giải quyết một số vấn đề của chúng ta”.
“Anh im đi”, anh ta nói. “Tôi sẽ không nghe điều đó. Nó không đúng. Anh vẫn thích rượu, anh vẫn mê gái. Điều gì đã thay đổi nào? Tôi biết rõ anh. No me cagas, ñino”.[19]
“Anh không hiểu đâu. Có một người vĩ đại tên là Thomas Wolfe. Ông ấy đã viết một cuốn sách mang tựa đề You Can’t Go Home again (Không thể trở lại nhà). Và đó là sự thực”.
“Nói dối”, Johnny nói. “Đây là chiếc nôi của anh, là mái nhà của anh”. Bất chợt anh ta giộng lên quầy bar bằng cây gậy bóng chày chơi trong nhà bằng gỗ sồi mà anh ta thường hay dùng trong các cuộc tranh luận để vẫn hồi trật tự. “Theo dòng thời gian, có khi là hàng trăm năm nữa, đây sẽ là nấm mồ của anh”. Cây gậy rơi khỏi tay anh ta khi anh ta khóc trước viễn cảnh sự từ trần của tôi. Bản thân tôi cũng rớm nước mắt trước viễn cảnh đó.
Tôi nhìn chằm chặp chiếc ly rỗng của mình. “Người Gallego các anh thật là bất lịch sự”.
“Ồ, nhân danh Chúa”, Johnny nói. “Ôi, cho tôi xin lỗi!” rồi anh ta rót rượu cho cả hai chúng tôi.
Hàng người ở quầy bar giờ đây im phăng phắc, những khuôn mặt tối, lịch sự không biểu lộ cảm xúc.
“Mừng anh trở về nhà, compadre”, Johnny nói. “John the Babtist[20], hãy trục xuất địa ngục ra khỏi những lời lẽ tầm phào đó đi”.
“Conejo de mi alma.[21] Linh hồn tôi rất yếu mềm.”
Anh chàng đen bự từ ngoài đường trở vào. Anh ta chồm qua quầy bar, hôn tấm mề đay của Johnny rồi bỏ đi lần nữa.
Tôi cáu kỉnh nói, “Ở đây khó nói chuyện quá. Tôi có phải mua vé không vậy? Chẳng lẽ phải đăng ký mới nói chuyện được hay sao?”
Johnny quay sang quầy bar im ắng. “Im lặng!” anh ta quát rồi lượm cây gậy bóng chày chơi trong nhà.
“Tôi sẽ nói thật với anh, anh rể ạ. Cứ bước ra đường là thấy người lạ, người ngoại quốc, hàng ngàn, hàng vạn người. Nhìn mấy ngọn đồi mà xem, cả đống chuồng bồ câu. Ngày nay tôi đi dọc đường Alvarado rồi trở về theo đường Calle Principal và tôi chỉ thấy có những người lạ mà thôi. Chiều nay tôi bị lạc ở Cổng Peter. Tôi ra Cánh đồng Tình yêu rồi trở về qua nhà của Joe Duckworth gần công viên Ball. Ở lô đất chứa các xe cũ ấy mà. Đến các đèn giao thông là thần kinh tôi căng thẳng. Ngay cả cảnh sát cũng là người lạ, người ngoại quốc. Tôi ra thung lũng Carmel, nơi có thời ta có thể bắn súng trường ba mươi – ba mươi ra khắp mọi hướng. Giờ thì anh không thể quăng một viên bi gỗ[22] mà không trúng phải một người ngoại quốc. Johnny à, tôi không ghét bỏ gì họ, anh biết rồi đấy. Nhưng bọn họ là những người giàu có. Họ trồng cây phong lữ trong những chậu to đùng. Họ có những hồ bơi nuôi được cả ếch và tôm. Không, bạn vàng của tôi. Nếu đây là nhà tôi thì sao tôi lại bị lạc ở đó? Nếu đây là nhà tôi thì sao tôi đi trên đường mà không nghe thấy những lời chúc phúc cho nhau?”
Johnny ngả người dựa vào quầy bar. “Nhưng, Juanito ạ, ở đây vẫn như cũ. Chúng tôi không để họ bước vào”.
Tôi nhìn xuống hàng dài những khuôn mặt. “Phải, ở đây thì khá hơn rồi. Nhưng liệu tôi có thể sống mãi ở quầy bar này? Chúng ta hãy đừng dối mình nữa. Những gì chúng ta biết đều đã chết cả rồi, và có lẽ phần lớn những gì là chúng ta cũng đã chết. Những thứ ở ngoài kia là mới mẻ và cũng có thể là tốt đẹp, nhưng chẳng có thứ nào chúng ta biết cả”.
Johnny chống thái dương trong lòng bàn tay khom khom, cặp mắt anh đỏ hoe.
“Những người tuyệt vời đâu hết cả rồi nhỉ? Nói tôi nghe xem, Willie Trip đang ở đâu?”
“Chết rồi”, Johnny nói một cách vô hồn.
“Còn Pilon, Johnny, Pom Pom, Miz Gragg, Stevie Field, họ ở đâu?”
“Chết, chết, chết”, Johnny lầm bầm.
“Còn Ed Ricketts, Whitey Số Một và Số Hai? Sonny Boy, Ankle Varney, Jesús Maria Corcoran, Joe Portagee, Lee Lùn, Flora Wood, và cái con bé dấu nhện trong nón ấy, họ đâu hết cả rồi?”
“Chết, chết cả rồi”, Johnny nói như rên rỉ. “Có vẻ như chúng ta là một băng những hồn ma”.
Anh chàng đen bự bước vào và Johnny chìa ra chiếc mề-đay cho anh ta hôn mà không đợi phải hỏi.
Johnny quay đầu sải những bước dài đi về phía tấm gương của quầy bar. Anh ta nhìn ngắm bộ mặt mình một hồi lâu rồi lấy một chai whisky, mở nút bần, ngửi và nếm rượu. Rồi anh nhìn xuống các móng tay. Dọc quầy bar bỗng trở nên náo nhiệt, những bờ vai khuỳnh ra, những đôi chân dang rộng.
Sắp có rắc rối rồi đây, tôi tự nhủ.
Johnny trở lại, nhẹ nhàng đặt chai rượu lên quầy bar giữa chúng tôi. Cặp mắt anh xa xăm và mơ màng.
Johnny lắc đầu. “Tôi nghĩ anh không ưa chúng tôi nữa rồi. Có lẽ anh quá tốt so với chúng tôi”. Các đầu ngón tay của anh chầm chậm gõ chiếc bàn phím vô hình trên quầy bar.
Trong một thoáng, tôi cảm thấy háo hức. Tôi nghe thấy tiếng rên rỉ của kèn đồng và tiếng va chạm của vũ khí. Nhưng chết tiệt, tôi đã quá già để làm chuyện đó. Tôi phóng hai bước ra đến cửa rồi quay đầu lại. “Tại sao anh chàng đó lại hôn chiếc mề-đay?”
“Anh ta đang cá độ”.[23]
“Thôi nhé, hẹn gặp anh ngày mai, Johnny”.
Cánh cửa kép đong đưa sau lưng tôi. Tôi đang ở trên đường Alvarado sáng choang đèn neon. Và quanh tôi chỉ toàn những người lạ.
❀ ❀ ❀
[1] Tiếng Ý, người nước ngoài.
[2] Nơi Chúa Jesus bị hành hình theo Kinh Thánh.
[3] Hoàng đế La Mã.
[4] Tổng thống thứ 29 của Mỹ, nhiệm kỳ 1921-1923.
[5] Tổng thống thứ 31 của Mỹ, nhiệm kỳ 1929-1933.
[6] Tổng thống thứ 35 của Mỹ, nhiệm kỳ 1961-1963.
[7] Richard M. Nixon, tổng thống thứ 37 của Mỹ nhiệm kỳ 1969-1974. Ông có biệt danh là “Tricky Dick”.
[8] Nghị sĩ Dân chủ, em của tổng thống J.F. Kennedy.
[9] Phát âm địa phương. Dịch lời là: Có một chàng trai trẻ từ Jolón – chán sống một mình. Anh ta đến Thành phố Vua để tìm thứ gì đẹp.
[10] Câu chửi thề rất tục bằng tiếng Tây Ban Nha.
[11] Tên một địa phương ở Bắc Tây Ban Nha.
[12] Tên gọi thân mật bằng tiếng Tây Ban Nha của Juan (hay John trong tiếng Anh). Johnny Garcia dùng tên này để gọi tác giả.
[13] Tiếng lóng Tây Ban Nha, có nghĩa là chiến hữu, bạn chí cốt.
[14] Cho phép nhé.
[15] Cảm ơn.
[16] Chiến hữu ạ.
[17] Một cộng đồng tự trị ở Bắc Tây Ban Nha.
[18] Anh rể của tôi, có lẽ đây chỉ là một cách gọi thân mật.
[19] Đừng có vớ vẩn với tôi, nhóc ạ.
[20] Cách nói đùa của Johnny, ví tác giả như thánh John, vị thánh đã từng rửa tội cho Chúa Jesus.
[21] Con thỏ của linh hồn tôi.
[22] Một trò chơi cổ.
[23] Ý tác giả là hôn để lấy hên.