Tôi phải thú nhận là mình không quan tâm mấy đến vấn đề Công viên Quốc gia. Tôi rất ít khi tham quan các Công viên này. Có lẽ đó là vì chúng giam hãm những thác nước độc đáo nhất, ngoạn mục nhất, sửng sốt nhất, hoành tráng nhất, những hẻm núi sâu nhất, những mỏm đá cao nhất, những công trình kỳ diệu nhất của con người và thiên nhiên. Và tôi thà xem một tấm ảnh đẹp của Brady[1] còn hơn là đỉnh Rushmore. Vì, theo thiển ý của tôi, chúng ta đang giam hãm thiên nhiên và khoa trương những trò đồng bóng của dân tộc chúng ta, nền văn minh chúng ta. Xét về tính biểu trưng cho nước Mỹ thì Công viên Quốc gia Yellowstone chẳng hơn gì Disneyland.
Đó là thái độ tự nhiên của tôi. Tôi không hiểu điều gì đã khiến tôi quay ngoắt về hướng nam và băng qua biên giới bang để ghé thăm Yellowstone. Có lẽ là do e ngại mấy người hàng xóm. Tôi như nghe thấy họ nói, “Anh bảo anh đã đến gần Yellowstone mà không ghé qua đó sao? Chắc là anh điên rồi”. Một lần nữa, đó có thể là xu hướng của người Mỹ khi đi du lịch. Người ta đi không phải để xem mà là để kể lại sau đó. Cho dù mục đích ghé thăm Yellowstone của tôi có là gì, tôi vẫn mừng là mình đã đi vì nhờ đó tôi phát hiện ra một số điều tôi chưa từng biết về Charley.
Người bảo vệ trông dễ chịu của Công viên Quốc gia soát vé vào cổng của tôi rồi nói, “Con chó này thì sao? Chó không được phép vào đây trừ phi được cột xích”.
“Tại sao?” tôi hỏi.
“Tại vì có gấu”.
“Ông ơi”, tôi nói, “đây là một con chó rất đặc biệt. Nó chẳng nhe nanh múa vuốt với ai bao giờ. Nó tôn trọng cả quyền làm mèo của bọn mèo mặc dù nó chẳng ngưỡng mộ gì chúng. Nó thà quay lui chứ chẳng muốn làm phiền một con sâu. Điều mà nó sợ nhất là ai đó trỏ tay vào con thỏ và bắt nó rượt. Đây là một con chó yêu hòa bình và thích yên ổn. Theo tôi thì nguy cơ lớn nhất cho mấy con gấu của ông là chúng sẽ phật lòng vì bị Charley phớt lờ”.
Người đàn ông phá lên cười. “Tôi không lo cho mấy con gấu lắm đâu”, ông ta nói. “Nhưng mấy con gấu chỗ chúng tôi lại không dung nạp loài chó. Một con nào đó có thể sẽ bày tỏ thành kiến của nó bằng một cú tát vào mõm, và thế là... tiêu luôn chó”.
“Thưa ông, tôi sẽ nhốt nó ở sau xe. Tôi xin hứa là Charley sẽ không gây chút xáo trộn nào cho thế giới loài gấu, và với tư cách một khách già đi ngắm gấu, cả tôi cũng vậy luôn”.
“Tôi chỉ cảnh báo ông theo nghĩa vụ thôi”, ông ta nói. “Con chó của ông chắc cũng có thiện chí đấy, nhưng đám gấu chỗ chúng tôi thì chẳng thiện chí lắm đâu. Xin đừng để thức ăn lại. Chúng không chỉ cướp thức ăn mà còn rất hay nổi quạu với những ai tìm cách chiêu dụ chúng. Nói tóm lại, đừng tin bộ mặt hiền lành của chúng nếu không ông sẽ trả giá đấy. Và đừng thả con chó ra ngoài. Gấu thì chẳng có lý lẽ gì đâu”.
Chúng tôi đi vào xứ thần tiên của thiên nhiên hoang dã và bạn sẽ phải tin điều gì sắp xảy ra. Cách duy nhất để tôi chứng minh điều đó là có một con gấu.
Rời khỏi cổng khoảng một cây số rưỡi, tôi thấy một con gấu ở bên đường. Nó thong thả đi như thể đang muốn vẫy xe quá giang. Đột nhiên, một sự thay đổi chợt đến với Charley. Nó gào lên giận dữ. Lợi của nó nhe hết cả ra, để lộ hàm răng lởm khởm vốn thường ngày đã vất vả trong việc nhai những chiếc bánh quy cho chó. Nó tuôn ra những lời chửi bới hướng về con gấu. Nghe tiếng nó, con gấu xồng xộc lao đến, và tôi có cảm giác khi chồm lên nó còn cao hơn cả Rocinante. Tôi cuống cuồng quay cửa kính đóng lại, nhoài thật nhanh sang trái để né con thú, trong khi Charley giận dữ quát tháo ngay cạnh tôi, diễn tả một cách cụ thể nó sẽ làm những gì với con gấu nếu được thả ra ngoài. Tôi chưa bao giờ ngạc nhiên đến thế trong cuộc đời. Theo như tôi biết thì Charley chưa từng bao giờ gặp gấu, và trong suốt lịch sử cuộc đời, nó luôn thể hiện sự khoan dung cao độ với mọi loài sinh vật. Cạnh đó, Charley còn là một con chó nhát gan, nhát gan thậm tệ đến mức nó thường phải phát triển các kỹ thuật để che giấu điều đó. Thế mà lúc này nó lại thể hiện rất rõ ràng rằng nó chỉ muốn lao ra để tàn sát con gấu vốn nặng cân hơn nó dễ đến cả một ngàn lẻ một lần. Tôi không sao hiểu nổi.
Lên trên chút nữa có hai con gấu xuất hiện, và tác động lên Charley cũng được nhân đôi lên. Charley trở nên phát rồ. Nó nhảy tán loạn qua người tôi, gầm gừ, nguyền rủa, nhe nanh và sủa vang trời đất. Tôi không ngờ nó có khả năng nhe nanh dữ tợn như thế. Nó học điều đó ở đâu vậy kìa? Gấu ở đây rất nhiều nên con đường trở thành cơn ác mộng. Lần đầu tiên trong đời, Charley chống cự lại lý lẽ, thậm chí chống cự lại cái bạt tai. Nó trở thành một sát thủ nguyên thủy đang khát máu kẻ thù, và cho đến tận lúc đó nó chưa từng có kẻ thù. Trên một quãng đường không có gấu, tôi mở cửa buồng lái, nắm lấy vòng đeo cổ của Charley để lôi nó nhốt vào nhà. Nhưng điều này chẳng ích lợi gì. Khi chúng tôi băng qua những con gấu khác, nó nhảy dựng cả lên bàn và cào vào kính cửa để đòi ra ngoài xử lý chúng. Tôi nghe thấy những đồ hộp thức ăn bị ngã đổ khi Charley vật vã với cơn điên loạn của nó. Điều gì đã gây ra chuyện này? Bọn gấu đơn giản đã lôi ra ông Hyde trong chiếc đầu Jekyll của con chó[2]. Điều gì có thể gây ra chuyện này? Phải chăng đó là thứ ký ức nguyên thủy của một thời kỳ mà con sói vẫn còn bên trong nó? Tôi hiểu nó rất rõ. Cũng có lúc nó chơi trò láu cá, nhưng đó là sự giả dối có thể sờ nắn được. Còn lần này thì tôi thề rằng đó không phải là sự giả dối. Tôi dám chắc nếu thả nó ra, nó sẽ tấn công mọi con gấu chúng tôi gặp để tìm chiến thắng hay cái chết.
Đó là một màn kịch quá đỗi căng thẳng, quá sức kích động, giống như ta thấy một người bạn già, hiền hòa của mình bỗng chốc lên cơn điên. Không một cảnh quan thiên nhiên, một vách đá cứng, một dòng nước phun trào, một dòng suối bốc khói nào còn lôi cuốn sự chú ý của tôi khi mà cái Pandomonium[3] đó còn đang tiếp diễn.
Sau lần chạm trán thứ năm, tôi đầu hàng, cho Rocinante quay đầu lại trở về. Nếu tôi ở lại qua đêm và việc nấu nướng của tôi lôi kéo bọn gấu đến, tôi không biết điều gì sẽ xảy ra.
Ở cổng, người bảo vệ cho tôi ra. “Ông không ở lâu lắm nhỉ. Con chó đâu mất rồi?”
“Tôi nhốt nó phía sau. Tôi nợ ông một lời xin lỗi đấy. Con chó này có trái tim và tâm hồn sát gấu mà trước đây tôi không biết. Trước giờ nó chỉ là một con thú dịu dàng, chỉ ăn thịt nấu sẵn mà thôi”.
“Vâng!” ông ta nói. “Chuyện đó đôi khi cũng xảy ra. Chính vì vậy nên tôi mới cảnh báo ông. Một con chó sát gấu thì phải coi xem nó may mắn cỡ nào. Tôi từng thấy một con Pomeranian[4] bắn lên trời cứ y như một cột khói vậy. Ông biết đấy, một con gấu bảnh có thể vụt con chó như một trái banh quần vợt”.
Tôi lái nhanh, theo đường cũ trở về. Và tôi đã do dự, không cắm trại lại vì sợ có những con gấu không chính thức, phi chính phủ, còn quanh quẩn đâu đây. Đêm đó tôi ngụ tại một bãi xe đẹp gần Livingston. Tôi dùng bữa tối tại nhà hàng. Và trong khi nhâm nhi ly rượu trên chiếc ghế thoải mái, đôi chân trần vừa được kỳ cọ đặt trên tấm thảm có thêu những bông hồng đỏ, tôi quan sát Charley. Trông nó phờ phạc. Ánh mắt nó xa xăm và nó hoàn toàn kiệt quệ, không nghi ngờ là về mặt tinh thần. Nó khiến tôi nghĩ đến một người đàn ông vừa trải qua một bữa nhậu lớn, kéo dài: tả tơi, rời rã, suy sụp. Nó không ăn nổi bữa tối, từ chối đi tản bộ. Khi vào đến phòng thì nó đổ sụp xuống sàn và ngủ thiếp đi. Ban đêm, tôi nghe tiếng nó rên rỉ và kêu ăng ẳng. Tôi bật đèn lên thì thấy chân nó khua khua như đang chạy, thân mình nó giật thót còn đôi mắt thì mở thao láo. Nhưng đó chỉ là một cơn ác mộng về gấu. Tôi đánh thức nó dậy và cho nó uống chút nước. Lần này thì nó chìm vào giấc ngủ và không co giật gì nữa suốt cả đêm. Đến sáng nó vẫn chưa hết mệt. Tôi tự nhủ những suy nghĩ và xúc cảm của loài vật cũng không hề đơn giản.
❀ ❀ ❀
[1] Mathew Brady, nhà nhiếp ảnh Mỹ nổi tiếng thế kỷ 19.
[2] Cuốn sách nổi tiếng Trường hợp kỳ lạ của Tiến sĩ Jekyll và ông Hyde – Strange Case of Dr Jekyll and Mr Hyde – của tác giả người Scotland Robert Louis Stevenson, xuất bản lần đầu năm 1886, nói về trường hợp đa nhân cách của tiến sĩ Jerkyll: hai nhân vật, người thiện kẻ ác, cùng tồn tại trong một người. Cuốn sách này nổi tiếng đến độ thuật ngữ “Jekyll và Hyde” đã được dùng phổ biến để nói về những người đa nhân cách. Ở đây, tác giả ám chỉ, bọn gấu đã làm sống lại nhân cách thứ hai trong Charley.
[3] Thủ phủ của địa ngục trong anh hùng ca Thiên đàng đã mất – Paradise Lost – của John Milton.
[4] Một giống chó lông xù gốc Trung Âu.