Ngay từ đầu cuộc hành trình, tôi đã tránh những con đường bê-tông nhựa lớn dành cho tốc độ cao mà ta thường gọi là “cao tốc” hay “siêu tốc”. Nói chung là các bang có tên riêng khác nhau để gọi chúng. Nhưng vì tôi cứ lởn vởn ở New England, mùa đông đang đến nhanh và tôi thấy trước thể nào cũng bị kẹt tuyết ở Bắc Dakota, cho nên tôi ra Quốc lộ 90, một đường siêu tốc cực rộng với vô số làn đường đầy xe tải chở những hàng hóa của cả nước. Rocinante mở tốc lực. Tốc độ tối thiểu trên con đường này lớn hơn quy định ở tất cả những con đường khác mà tôi đã đi qua. Tôi lái xe đón những cơn gió phần phật lướt qua mui, cảm nhận những cú nhồi làm rung rinh, đôi khi lảo đảo, của cơn bão gió mà tôi góp phần tạo ra. Tôi nghe được cả tiếng rít của gió trên cái diện tích vuông vắn của nóc xe. Những tấm biển báo hét vào tôi dọc suốt con đường: “Đừng dừng lại! Cấm dừng! Hãy duy trì tốc độ!”. Những xe tải dài ngoằng ngoặc như chiếc tàu thủy gầm rú lao qua, tạo ra những đợt gió giống như làn hơi của cú đấm. Những con đường lớn này thật tuyệt vời để vận chuyển hàng hóa, nhưng để đi ngoạn cảnh thì chẳng lấy gì làm hay ho. Bạn phải ôm chặt tay lái, mắt dõi theo chiếc xe ở phía trước, canh chừng cả chiếc xe phía sau qua kính chiếu hậu và để ý đến chiếc gương bên hông xem có xe con, xe tải nào muốn vượt hay không. Và đồng thời bạn phải đọc tất cả những biển báo để khỏi hối tiếc mình đã lỡ mất một chỉ dẫn hay mệnh lệnh nào đó. Không có quầy bán nước ép trái cây nào dọc đường, không có cửa hàng đồ cổ nào, không có sản phẩm trang trại hoặc cửa hàng của xí nghiệp nào. Khi đi trên những con đường cao tốc này dọc suốt đất nước, ta có thể chạy một mạch từ New York đến California mà chẳng thấy gì cả.
Ở từng quãng có những trạm nghỉ ngơi và hồi sức. Ở đó có thức ăn, có xăng dầu, có bưu thiếp, có các món hấp, có bàn ăn dã ngoại, có những thùng rác mới vừa được sơn, có những nhà vệ sinh, phòng rửa mặt sạch tinh tươm, sực nức chất khử mùi và chất tẩy rửa đến mức khứu giác của bạn phải mất một thời gian mới hồi phục lại được bình thường. Chất khử mùi vốn không đúng với tên gọi của nó lắm. Chúng thay thế một mùi này bằng một mùi khác, và chất thay thế phải mạnh và hắc hơn hẳn cái mùi mà nó muốn chinh phục. Tôi đã hờ hững với đất nước của mình quá lâu rồi. Nền văn minh đã sải những bước dài trong khi tôi xao lãng. Tôi còn nhớ cái thời mà bỏ đồng xu vào khe thì chỉ có một thỏi kẹo cao su hoặc một thanh kẹo mút. Giờ đây, tại các cung điện ăn uống này, các cỗ máy bán hàng có thể dùng nhiều loại tiền xu để cung cấp cho bạn từ chiếc khăn tay cho đến bộ đồ làm móng kèm với lược, dầu dưỡng tóc, mỹ phẩm, băng y tế, các loại thuốc tạp nhạp như aspirin, thuốc chống nôn, thuốc giữ cho bạn tỉnh ngủ. Tôi rất mê mẩn mấy cái máy này. Giả dụ bạn muốn có một lon nước ngọt, bạn chọn loại mà bạn thích – Sungrape hay Cooly Cola – nhấn vào chiếc nút, nhét đồng xu vào rồi lui ra một chút. Một chiếc ly giấy rớt xuống đúng chỗ của nó, thức uống được rót vào và dừng lại khi cách mép ly chừng nửa phân – một món uống mát lạnh làm tỉnh người, hoàn toàn nhân tạo. Cà phê thậm chí còn thú vị hơn nữa, vì khi cái chất lỏng nóng màu đen ngừng rót vào thì có một tia sữa phun ra và một bịch đường rớt xuống ngay cạnh chiếc ly. Nhưng trong tất cả các máy này, máy bán súp nóng mới là một kỳ tích. Chọn một trong mười món – đậu Hà Lan, mì gà, thịt bò và rau, vân vân – rồi nhét đồng xu vào. Một tiếng o o phát ra từ cỗ máy khổng lồ và đèn báo sáng lên, nổi rõ dòng chữ “Đang hâm”. Sau một phút, một cái đèn đỏ sáng lên và sẽ tắt đi khi bạn mở cánh cửa nhỏ lấy ra chiếc ly giấy đựng món súp nóng hổi.
Đó là cuộc sống ở đỉnh cao của một dạng văn minh. Những tiện nghi của nhà hàng, những đường viền đẹp mắt của quầy hàng cùng những chiếc ghế giả da. Chúng tinh tươm theo một kiểu khác với các phòng rửa tay, nơi mọi thứ cầm nắm được đều được bọc màng trong. Thức ăn luôn nóng sốt, vô trùng, vô vị, không bàn tay người chạm vào. Tôi nhớ quay quắt một số món ăn ở Pháp và Ý đi qua vô số bàn tay người chạm.
Những trung tâm nghỉ ngơi, ăn uống và nạp năng lượng này được tôn tạo bằng thảm cỏ và bụi hoa. Ở mặt trước, nơi gần xa lộ nhất, là chỗ đậu xe khách với cả một binh đoàn các trạm bơm xăng. Ở phía sau, các xe tải nối vào, và ở đó có những dịch vụ bảo trì dành cho chúng: cả một khu vực lớn các dãy nhà toa. Về lý mà nói thì Rocinante thuộc dạng xe tải cho nên nó phải đậu ở phía sau, và chẳng mấy chốc tôi đã làm quen được với các tài xế xe tải. Các tài xế đường dài là một giống người tách biệt khỏi cuộc sống xung quanh. Đâu đó tại các thị trấn hay thành phố, vợ con họ đang sinh sống trong khi các ông chồng thì dọc ngang khắp đất nước, chở theo đủ loại hàng hóa, thực phẩm, máy móc. Họ rất bè cánh và luôn dính vào nhau, nói năng cũng bằng một thứ ngôn ngữ riêng. Và mặc dù tôi chỉ là tay mơ giữa những quái kiệt ngành giao thông, họ vẫn luôn tử tế và nhiệt tình với tôi. Tôi được họ mách bảo rằng ở các bãi đậu xe tải có vòi tắm, xà-bông và khăn tắm, rằng tôi có thể đậu xe và ngủ qua đêm nếu muốn. Những tài xế này ít trao đổi mua bán với dân địa phương, nhưng là những người say mê nghe đài đến mức có thể kể vanh vách tin tức chính trị khắp mọi miền đất nước. Nhiều bang cho thuê lại các trung tâm ăn uống và tiếp nhiên liệu trên các đại lộ hoặc đường cao tốc, nhưng trên các xa lộ khác, doanh nghiệp tư nhân xây trạm cho tài xế xe tải, ở đó có giảm giá từ xăng dầu, giường ngủ cho đến suất tắm và chỗ ngồi tán dóc. Là một nhóm người đặc biệt với cuộc sống đặc biệt, chỉ giao du với những thành phần cùng loại, lẽ ra họ sẽ giúp tôi có thể đi khắp đất nước mà không trò chuyện với một gã địa phương tỉnh lẻ nào. Bởi lẽ dân xe tải dù lướt đi trên khắp các diện tích của đất nước nhưng vẫn chẳng thuộc về nơi đâu cả. Dĩ nhiên, ở các thị trấn mà gia đình họ sinh sống, thì họ tha hồ tự tung tự tác rồi: các câu lạc bộ, các buổi khiêu vũ, các chuyện tình cảm, và các vụ sát nhân nữa.
Tôi rất thích dân xe tải, bởi lẽ tôi luôn thích các chuyên gia. Nghe họ nói, tôi học được vô số ngôn từ đường sá, về lốp và nhíp xe, về sự quá tải. Dân xe tải đường dài có những trạm dừng riêng dọc lộ trình của họ, nơi họ biết cả những người phục vụ lẫn các cô thu ngân ngồi sau quầy tính tiền. Đó cũng là nơi mà đôi lúc họ gặp những người quen cùng cánh với mình trên một xe tải khác. Biểu tượng tuyệt vời cho sự tâm đầu ý hợp chính là ly cà phê. Tôi thường dừng xe uống cà phê không phải vì thèm mà là để nghỉ ngơi và có chút thay đổi sau những đoạn đường dài. Lái xe đường dài đòi hỏi phải có sức khỏe, sự kiểm soát, sự tập trung cho dù thắng hơi và các thiết bị lái có hỗ trợ nhiều cách mấy. Thật là thú vị nếu biết – và điều này chẳng khó gì xác định nhờ các phương pháp kiểm nghiệm hiện đại – người ta tiêu phí mất bao nhiêu năng lượng khi lái xe tải trong sáu tiếng đồng hồ. Có lần Ed Ricketts và tôi đi thu thập các loài sinh vật biển. Khi lật những tảng đá ở một khu vực nọ, chúng tôi ước chừng mình đã nhấc bao nhiêu trọng lượng trong một ngày thu thập trung bình. Những tảng đá mà chúng tôi lật cũng không lớn lắm, chỉ từ một ký rưỡi đến hai mươi lăm ký. Chúng tôi ước tính trong một ngày sung sức, khi chúng tôi không cảm thấy bị mất quá nhiều năng lượng, mỗi chúng tôi nhấc được từ bốn đến mười tấn đá. Bây giờ ta hãy xem xét cái động tác xoay vô-lăng mà bề ngoài có vẻ như chẳng đáng kể gì. Mỗi động tác như thế có lẽ chỉ hao tổn tương đương nhấc chừng nửa ký đá. Áp lực thay đổi khi ta đạp lên chân ga có lẽ chưa đến một phần tư ký. Nhưng sau sáu tiếng đồng hồ ta sẽ có một con số tổng khổng lồ. Đó là chưa kể các cơ vai và cổ, vốn thường xuyên căng lên một cách vô thức vào những lúc khẩn cấp; đôi mắt lúc nào cũng phải liếc nhìn kính chiếu hậu; hàng vạn những quyết định nằm sâu bên trong đến mức một cái đầu có ý thức không tài nào nhận ra. Sự tiêu hao năng lượng, thần kinh và cơ bắp thật là khủng khiếp. Cho nên việc dừng xe uống cà phê chính là một sự nghỉ ngơi xét trên nhiều phương diện.
Rất thường xuyên, tôi ngồi với đám người đó, nghe họ nói chuyện, và thỉnh thoảng đặt ra vài câu hỏi. Tôi sớm nhận ra rằng không nên trông đợi vào kiến thức của họ về những vùng đất họ đi qua. Ngoại trừ những lần dừng xe, họ chẳng có mối tiếp xúc nào với chúng. Tôi thấy họ sao mà giống y chang như các thủy thủ. Tôi còn nhớ cái lần đầu tiên tôi ra biển. Tôi đã sửng sốt phát hiện rẳng những người dong tàu đi khắp thế giới, đến biết bao hải cảng lạ lẫm và dị biệt, lại có quá ít mối tiếp xúc với cái thế giới đó. Một số tài xế xe tải đường dài đi thành cặp với nhau để thay phiên nhau lái. Người nào nghỉ thì đi ngủ hoặc đọc mấy cuốn sách giải trí. Nhưng dọc đường thì mối quan tâm của họ chỉ là động cơ, thời tiết, và làm sao duy trì tốc độ để kế hoạch giao hàng được đảm bảo. Một số người thường xuyên chạy tuyến cố định, số khác chạy thuê theo chuyến. Đó là cả một lối sống hoàn toàn khác mà những người định cư dọc đường rất ít khi biết. Tôi cũng chỉ biết những người này ở mức độ đủ để nhận ra rằng cần phải tìm hiểu thêm về họ.
Ai từng lái xe nhiều năm, giống như tôi, thì các phản ứng sẽ trở nên hầu như tự động. Khi đó, người ta sẽ không nghĩ phải làm gì nữa. Hầu hết kỹ thuật lái đã bị chôn sâu vào cỗ máy tiềm thức. Như vậy, một vùng rộng lớn của tư duy ý thức sẽ được rảnh rang để suy nghĩ. Và người ta nghĩ gì khi đang lái xe nhỉ? Trong các hành trình ngắn, có lẽ người ta nghĩ đến mục tiêu hoặc hồi tưởng lại những sự kiện diễn ra nơi xuất phát. Nhưng như vậy thì vẫn hãy còn lại cả một vùng đất rộng lớn – đặc biệt là trong các cuộc hành trình dài – cho mộng tưởng giữa ban ngày hoặc, lạy Chúa tôi, cho suy nghĩ. Không ai biết người khác làm gì trong vùng đất đó. Bản thân tôi đã từng lên kế hoạch xây những ngôi nhà sẽ không bao giờ được xây, trồng những mảnh vườn không bao giờ được trồng. Tôi đã từng thiết kế ra một phương pháp bơm phù sa lỏng và vụn vỏ sò từ dưới đáy khu vịnh của tôi ra đến khu đất của tôi ở Sag Harbor để rồi lọc cát ra, tạo thành một vùng đất màu mỡ. Tôi không rõ liệu mình có làm theo đó hay không, nhưng trong khi lái xe, tôi đã lập kế hoạch chi tiết cho nó, thậm chí còn tính cả đến việc sẽ dùng loại máy bơm nào, thùng lọc cát nào, kiểm tra bằng cách nào để biết đất đã hết mặn. Tôi cũng đã từng chế ra trong đầu chiếc bẫy rùa, từng viết những lá thư dài đầy chi tiết mà sẽ chẳng bao giờ viết ra trên giấy, đừng nói đến chuyện gửi đi. Khi đài bật, âm nhạc sẽ kích thích ký ức về thời gian và địa điểm, thêm vào đó là các các nhân vật và bối cảnh. Những ký ức ấy chính xác đến mức từng lời thoại cũng được tái tạo. Và tôi đã hình dung ra cả những dự án kịch bản tương lai, những kịch bản hoàn chỉnh và thuyết phục đến mức chúng không bao giờ được viết ra. Tôi đã viết những chuyện ngắn trong đầu, tủm tỉm cười vì sự hài hước của chính mình, buồn bã hay kích động bởi cấu trúc hay nội dung câu chuyện.
Tôi chỉ có thể đồ rằng một người cô đơn sẽ đưa bạn bè của mình vào những giấc mơ trong khi lái, người thiếu vắng tình yêu sẽ làm cho quanh mình có đầy những phụ nữ đáng yêu và đang yêu, và trẻ em sẽ leo vào giấc mơ của một người lái xe không con cái. Còn miền đất hối tiếc thì như thế nào nhỉ? Giá như tôi không làm việc này việc nọ, không nói thế này thế kia thì, Chúa tôi, cái việc chết tiệt đó đã không xảy ra. Phát hiện ra khả năng này trong đầu của mình, tôi có thể nghi ngờ nó nằm trong đầu người khác, nhưng tôi sẽ chẳng bao giờ biết được, vì có ai nói ra đâu? Đó là lý do vì sao trong cuộc hành trình được thiết kế để thăm thú, tôi đã cố bám theo các con đường phụ càng lâu càng tốt. Nơi ấy có nhiều thứ để thấy, để nghe, để ngửi. Và tôi tránh những luồng giao thông dài rộng, vốn thường hay cổ vũ cho những giấc mộng ban ngày. Tôi lái xe trên con đường thênh thang bất tận được gọi là Quốc lộ 90, đi bọc Buffalo và Erie để đến Madison, Ohio, rồi ra đến một Quốc lộ 20, cũng nhanh và thênh thang không kém, vượt qua Cleveland và Toledo rồi tiến vào Michigan.
Trên những con đường cách xa các trung tâm sản xuất này có nhiều nhà di động đang di chuyển, được kéo bởi những đầu kéo thiết kế đặc biệt. Vì những nhà di động này bao gồm cả loại xe như xe tôi nên tôi có thể kể mình vào đó. Từ đầu cuộc hành trình, tôi đã để ý đến những chiếc xe mới này dưới ánh mặt trời, đến số lượng đông đảo của chúng, và từ đó chúng xuất hiện ngày càng nhiều khắp đất nước. Tôi bắt đầu quan sát chúng và có lẽ một vài suy nghĩ đã bắt đầu hình thành. Chúng không giống như những rơ-moóc được kéo phía sau xe hơi mà là những cỗ xe sáng loáng, dài như một toa xe hạng sang.
Từ đầu chuyến đi, tôi đã không để ý đến các bãi xe nơi chúng được bán và trao đổi, nhưng rồi tôi bắt đầu để ý đến những bãi xe không thuận tiện để ở lâu của chúng. Ở Maine, tôi đã dừng một đêm trong bãi đậu loại này, nói chuyện với mấy người quản lý bãi và với các cư dân của loại nhà này vì họ thường tập hợp thành từng nhóm những người tâm đầu ý hợp với nhau.
Đó là những ngôi nhà tuyệt diệu với vỏ nhôm, vách kép, cách ly tốt và thường được ốp một lớp trang trí bằng gỗ cứng. Đôi khi, chúng dài đến hơn mười hai mét, có từ hai đến năm phòng, trang bị điều hòa không khí, phòng vệ sinh, phòng tắm và dĩ nhiên là cả tivi. Những bãi mà chúng đậu đôi khi có phong cảnh và trang bị mọi tiện nghi. Tôi trao đổi với những người ở bãi xe, vốn rất nhiệt tình. Nhà di động được kéo đến bãi xe và đưa lên một bệ dốc. Một đường ống thải lớn bằng cao su được bắt vào ở bên dưới, điện nước được nối vào nhà, và cả gia đình coi như an cư. Nhiều quản lý bãi xe thừa nhận rằng, năm ngoái, cứ bốn căn nhà mới xây trên cả nước thì có một căn là nhà di động. Chủ bãi thu một khoản tiền thuê đất nhỏ cộng với phí điện nước. Điện thoại được nối vào hầu hết các căn nhà này, đơn giản bằng cách cắm dây vào ổ. Đôi khi, bãi xe có cửa hiệu bán đồ tổng hợp, nhưng nếu không thì những siêu thị rải rác khắp đất nước cũng chẳng thiếu gì. Khó khăn về bãi đậu ở thành phố khiến các siêu thị này dời về thôn quê, nơi chúng không phải chịu thuế như ở đô thị. Các bãi xe rơ-moóc cũng vậy. Việc các ngôi nhà này có thể di động không có nghĩa là chúng phải di động. Đôi khi, các chủ nhân của chúng ở lại một chỗ hàng năm trời. Họ trồng vườn, xây những vách tường nho nhỏ bằng gạch xỉ, che bạt lên và đặt bàn ghế ngoài trời. Đó là cả một lối sống mà với tôi là rất mới mẻ. Những căn nhà này không rẻ chút nào, thậm chí còn đắt tiền, xa hoa. Tôi biết có một số căn trị giá đến 20.000 đô-la và có chứa hàng ngàn món đồ, từ máy rửa chén, máy giặt và sấy tự động, tủ lạnh cho đến cả tủ đông.
Các chủ nhân không chỉ sẵn sàng mà còn vui vẻ, hãnh diện giới thiệu cho tôi căn nhà của họ. Các phòng tuy nhỏ nhưng bố trí rất gọn. Mọi thứ đều được tính toán. Những cửa sổ lớn, một số thậm chí còn được gọi là cửa sổ ngắm cảnh, xóa tan mọi cảm giác tù túng. Phòng ngủ và giường nằm đều rộng lớn, còn kho chứa thì không thể tưởng tượng nổi. Tôi có cảm giác đó là cả một cuộc cách mạng về sinh sống, và xu hướng này lại đang tăng nhanh. Tại sao một gia đình lại chọn sống trong ngôi nhà như thế này nhỉ? Thì đó, nó tiện nghi, gọn gàng, dễ lau chùi, dễ sưởi ấm.
Ở Maine: “Sống trong cái chuồng gia súc lạnh lẽo, gió lùa, tôi chán lắm rồi. Tôi chán bị hành hạ bởi những món thuế nho nhỏ, những khoản thanh toán hết thứ này đến thứ nọ. Ngôi nhà di động này ấm cúng dễ chịu và mùa hè thì có máy điều hòa tha hồ mà mát”.
“Thường thì những chủ nhà này có thu nhập cỡ nào nhỉ?”
“Còn tùy, nhưng thu nhập tốt là vào cỡ mười ngàn đến hai chục ngàn đô-la”.
“Công việc không ổn định liệu có liên quan gì đến việc gia tăng nhanh chóng mấy ngôi nhà này không?”
“Ờ thì cũng có thể lắm. Ai biết được ngày mai rồi sẽ như thế nào? Thợ cơ khí, kỹ sư nhà máy, kiến trúc sư, kế toán, và đây đó còn có cả các bác sĩ, nha sĩ sống trong nhà di động nữa đấy. Nếu nhà máy, xí nghiệp đóng cửa thì tài sản sẽ bị kẹt, không bán được. Giả dụ anh chồng có công ăn việc làm, đang trả góp mua một căn nhà rồi sau đó bị mất việc. Nhà của anh ta sẽ tiêu tùng. Nhưng nếu anh ta có căn nhà di động, anh ta có thể thuê dịch vụ kéo và dời đi, và chẳng mất gì cả. Có thể anh ta chẳng bao giờ phải chuyển đi, nhưng nội việc anh ta có thể cũng đủ khiến anh ta thấy thoải mái rồi.”
“Họ trả như thế nào nhỉ?”
“Theo thời gian, giống hệt như thuê xe hơi thôi. Trả tiền thuê ấy mà”.
Và tôi đã phát hiện ra cái hấp lực bán hàng lớn nhất làm mê mệt hầu như tất cả mọi người Mỹ. Những ngôi nhà di động này được sửa sang hàng năm. Nếu làm tốt, bạn có thể biến ngôi nhà của bạn thành một mô-đen nhà di động mới, cũng y như bạn làm với xe hơi nếu bạn có điều kiện. Chuyện này liên quan đến địa vị. Và giá trị mang đến có thể còn cao hơn giá trị chiếc xe vì luôn có một thị trường sẵn sàng cho các ngôi nhà đã qua sử dụng. Sau vài năm, những ngôi nhà trước đây vốn mắc tiền sẽ đón vào những gia đình nghèo hơn. Chúng rất dễ chăm sóc, chỉ cần sơn lại vì chúng thường bằng nhôm. Và chúng chẳng liên can gì đến việc biến động giá đất.
“Còn trường học thì thế nào?”
Xe đưa rước học sinh đến đón trẻ ngay tại bãi xe rồi đưa chúng về. Xe gia đình đưa người chủ gia đình đến chỗ làm và đưa gia đình đến bãi chiếu phim cho khách ngồi trong xe[1] vào ban đêm. Đó là một cuộc sống lành mạnh giữa không khí đồng quê. Các khoản thanh toán, dù có cao và bị tính lãi suất, vẫn không thể nhiều hơn so với thuê một căn hộ và chiến đấu với chủ nhà để được sưởi ấm. Liệu có nơi đâu bạn thuê được một căn phòng tầng trệt tiện nghi như thế, có cả chỗ cho xe của bạn ở trước cửa? Liệu có nơi đâu khác mà trẻ em có thể nuôi chó? Hầu như tất cả các ngôi nhà di động đều nuôi chó. Có lẽ Charley đã sướng rơn khi nhận ra điều đó. Tôi đã hai lần được mời dùng bữa trong một ngôi nhà di động, và nhiều lần ngồi xem bóng bầu dục trên tivi. Một người quản lý cho biết, trong lĩnh vực kinh doanh của ông ta, điều đầu tiên cần cân nhắc là tìm mua chỗ nào có tín hiệu truyền hình tốt. Vì tôi chẳng cần phương tiện gì, chẳng đường nước thải, nước, lẫn điện, nên giá đậu xe qua đêm của tôi chỉ có một đô-la.
Điều gây cho tôi ấn tượng lớn nhất là những cư dân nhà di động không làm gì để ổn định cũng không mong muốn ổn định. Họ mua nhà không phải để dành cho thế hệ mai sau, mà chỉ là trong khi chờ đợi một mô-đen mới vừa với túi tiền của họ. Các ngôi nhà di động không hề giới hạn trong cộng đồng ở bãi xe. Bạn có thể bắt gặp hàng trăm ngôi nhà như thế đang đậu cạnh các ngôi nhà nông trại, và tôi đã được giải thích như sau. Có thời, nhân dịp hôn lễ của con trai, và nông trại được bổ sung một cô vợ và sau này có thêm những đứa con, người ta theo phong tục làm thêm một chái nhà hay ít nhất là một lán nhỏ kề bên ngôi nhà lớn. Giờ đây, trong nhiều trường hợp, nhà di động thế chỗ cho những lán ghép này. Người chủ của nông trại mà tôi đến mua trứng và thịt xông khói nhà làm đã liệt kê cho tôi nghe về những lợi thế của chúng. Mỗi gia đình có được sự riêng tư mà trước đây không hề có. Những cụ già không còn phải điên tiết vì tiếng khóc của em bé. Vấn đề mẹ chồng nàng dâu được xử lý nhờ con dâu có được sự riêng tư mà trước đây không có. Cô ta có được một chốn riêng để dựng lên cấu trúc gia đình của chính mình. Khi họ di chuyển – và hầu hết người Mỹ đều di chuyển – hoặc muốn đi khỏi, họ sẽ không để lại những căn phòng bỏ trống và vô dụng. Quan hệ giữa các thế hệ được cải thiện đáng kể. Người con trai trở thành khách khi anh ta viếng thăm nhà cha mẹ, và cha mẹ cũng là khách khi đến thăm nhà con.
Nhưng có cả những người đơn thân, và tôi cũng đã trò chuyện với họ. Trong khi lái xe, bạn sẽ thấy có những ngôi nhà di động đơn lẻ nằm cao tít trên ngọn đồi để có tầm nhìn rộng. Những nhà di dộng đơn lẻ khác nằm nép dưới bóng cây bên rìa một con sông hay một chiếc hồ. Những người đơn thân này thuê một mẩu đất nhỏ của chủ đất. Họ chỉ cần một chỗ vừa đủ cho xe đậu và quyền được đi đến chỗ đó. Đôi khi, kẻ đơn thân đào một chiếc giếng hay một hầm phân, trồng một căn vườn nhỏ, nhưng cũng có những người khác chở cả nước đến trong những chiếc thùng dầu hai trăm lít. Một số người đơn thân đã thể hiện sự sáng tạo tuyệt vời ở những nơi mà nguồn nước nằm cao hơn chỗ đậu xe: họ lấy ống nhựa nối với nguồn nước, dẫn nước về dùng thoải mái.
Vào một trong những bữa ăn tối trong nhà di động mà tôi được mời, thức ăn được nấu trong một căn bếp sạch boong, vách dán gạch nhựa, bồn rửa bằng inox, và bếp lò gắn vào tường. Nhiên liệu sử dụng là bu-tan hay các loại gas đóng chai có thể mua ở bất cứ nơi đâu. Chúng tôi ăn trong một gian ăn lát ván cây dái ngựa. Tôi chưa bao giờ ăn ngon và khoan khoái như thế. Tôi có mang đến một chai whisky để đóng góp, và sau đó chúng tôi ngồi trên những chiếc ghế sâu thoải mái bọc nệm mút. Gia đình này yêu thích lối sống của họ và không nghĩ sẽ quay về với lối sống cũ. Người chồng là thợ cơ khí ở một ga-ra cách đó hơn sáu cây số và hưởng lương cao. Mỗi sáng, hai đứa con đi bộ ra xa lộ, ở đó một xe đưa rước học sinh màu vàng sẽ đến đón chúng.
Nhấm nháp món rượu pha soda sau bữa ăn, nghe tiếng nước rì rào trong chiếc máy rửa chén chạy điện trong nhà bếp, tôi nêu lên câu hỏi mà tôi hằng thắc mắc. Họ là những người tốt, chín chắn và thông minh. Tôi nói: “Một trong những cảm xúc quý giá nhất của chúng ta là về cội nguồn, sự trưởng thành có cội rễ từ một mảnh đất hay một cộng đồng nào đó”. Họ cảm nghĩ như thế nào khi nuôi dạy những đứa con mà không có những cội rễ? Điều này là tốt hay xấu? Họ có nhớ về cội rễ hay không?
Ông bố – một người điển trai, da trắng trẻo, mắt đen – trả lời tôi, “Thử hỏi ngày nay bao nhiêu người có cái mà ông nói? Cội rễ nào ở trong một căn hộ cao tít tắp tận tầng thứ mười hai? Cội rễ nào trong các khu nhà chung cư chứa hàng trăm hàng ngàn chỗ ở nhỏ mà nơi nào nơi nấy đều giống hệt như nhau? Cha tôi đến từ Ý. Ông ấy lớn lên ở Tuscany, trong một ngôi nhà mà gia đình ông đã sinh sống dễ đến cả ngàn năm. Cái cội rễ của ông đấy: không nước sạch, không nhà vệ sinh... Và họ nấu nướng bằng than đá hay củi từ cây nho. Họ chỉ có hai căn phòng, một nhà bếp và một phòng ngủ, nơi mọi người đều ngủ chung, ông nội tôi, bố tôi và đám con cái chúng tôi. Chẳng có chỗ nào để đọc sách, để ngồi một mình, và sẽ chẳng bao giờ có nổi. Như vậy có phải là tốt hơn hay không? Tôi dám cá nếu ông để ông cụ nhà tôi lựa chọn thì ông ấy sẽ phang sạch những cội rễ và sống như thế này”. Anh ta vung tay về phía căn phòng tiện nghi. “Sự thực là ông ấy đã cắt bỏ những cội rễ ấy và đi đến nước Mỹ. Rồi ông ấy sống trong một chung cư ở New York. Chỉ có một phòng, không thang máy, chỉ có nước lạnh và không có lò sưởi. Đó là nơi tôi sinh ra và trải qua tuổi thơ ngoài đường phố, cho đến khi cụ nhà tôi tìm được việc làm cách xa New York, tại một vùng trồng nho. Ông biết đấy, ông ấy sành về nho. Đó là tất cả những gì ông ấy biết. Bây giờ ta hãy xem trường họp của vợ tôi. Cô ấy là hậu duệ người Ailen. Dân tộc của cô ấy cũng có cội rễ chứ”.
“Trong đầm than bùn”, cô vợ lên tiếng. “Và sống nhờ khoai tây”. Qua cánh cửa, cô ta trìu mến nhìn căn bếp tươm tất.
“Chẳng lẽ anh chị không khao khát một dạng ổn định nào đó?”
“Ổn định nào ở đây? Nhà máy đóng cửa, người ta phải chuyển đi thôi. Gặp thời làm ăn được, mọi thứ mở ra, người ta cũng di chuyển đến nơi nào tốt hơn. Cứ bám lấy cội rễ thì ngồi đó mà chết đói. Ông cứ xem những người tiên phong trong các sách sử ấy. Họ là những người luôn di chuyển. Họ chiếm đất, bán nó, rồi chuyển đi. Tôi có đọc một cuốn sách kể rằng gia đình Lincoln[2] đã đến Illinois trên một chiếc bè. Họ có vốn liếng vài thùng whisky để mở một tài khoản ở ngân hàng. Thử hỏi có bao nhiêu đứa trẻ ở Mỹ ở mãi nơi mà chúng được sinh ra, nếu như chúng có điều kiện ra đi?”
“Anh suy nghĩ nhiều về chuyện này nhỉ”.
“Cần gì phải suy nghĩ. Nó hiển nhiên là như thế. Tôi có công ăn việc làm tốt. Khi nào còn xe cộ thì tôi còn việc làm, nhưng giả sử chỗ tôi làm bị dẹp tiệm thì sao? Tôi buộc phải đi đến chỗ nào khác có công việc. Tôi chỉ cần ba phút là có việc. Ông muốn tôi chỉ đi trong vòng ba mươi cây số vì tôi có cội rễ sao?”
Sau đó, họ cho tôi xem các tạp chí chuyên biệt cho các cư dân di động, trong đó có những phóng sự, những bài thơ và những mẹo vặt cho cuộc sống di động. Làm sao ngăn dột. Làm sao chọn một chỗ có nắng hoặc mát mẻ. Và có cả những quảng cáo cho các loại phụ tùng, những thứ rất thú vị để nấu nướng, để lau chùi, để giặt giũ, rồi nào là bàn ghế, giường ngủ, cũi cho em bé. Ngoài ra còn có những ảnh chiếm nguyên trang chụp các mô-đen xe mới, mô-đen sau hoành tráng và bóng lộn hơn mô-đen trước.
“Có đến hàng ngàn kiểu xe mới”, ông bố nói, “và sắp tới sẽ là hàng triệu”.
“Anh Joe anh ấy hay mơ mộng lắm”, cô vợ nói. “Anh ấy cứ tưởng tượng ra mọi thứ. Nói ông ấy nghe các ý tưởng của anh đi, Joe”.
“Ông ấy chẳng quan tâm đâu”.
“Tôi quan tâm chứ”.
“Được thôi, không phải là mơ mộng như cô ấy nói đâu, đó là thật đấy, và tôi sẽ sớm làm việc đó cho coi. Chỉ cần một ít vốn, nhưng sẽ lấy lại nhanh thôi. Tôi đang tìm quanh đây xem có nhà di động cũ nào ưng ý với giá cả vừa túi tiền không. Sau đó tôi dọn dẹp bên trong rồi đưa nó đi sửa. Tôi đã có sẵn gần đủ đồ nghề rồi, và tôi sẽ lắp vào đó những thứ lặt vặt như cần gạt kính chắn gió, cua-roa quạt tản nhiệt, bạc xi-lanh, ruột bánh xe, những thứ đại loại như thế. Cứ tích tiểu thành đại. Một số dân di động có tới hai xe. Tôi sẽ thuê một diện tích chừng ba mươi mét ngay bên cạnh và thế là kinh doanh được rồi. Nói về xe thì hầu như bao giờ cũng có thứ này thứ kia hỏng hóc, cần phải chỉnh sửa. Và tôi sẽ có căn nhà của tôi, căn này sẽ nằm ngay cạnh cửa hàng của tôi. Như vậy, chỉ cần gắn chuông vào là tôi có ngay dịch vụ sửa chữa hai mươi bốn trên hai mươi bốn”.
“Có vẻ được đấy”, tôi nói. Mà đúng vậy thật.
“Điều hay nhất là”, Joe tiếp tục, “nếu kinh doanh thất bại thì cũng chả sao, tôi sẽ di chuyển đến nơi nào làm ăn được”.
Cô vợ nói, “Anh Joe anh ấy vẽ ra giấy, tính toán tất tật mọi thứ, đến từng cái cờ-lê, cái khoan, thậm chí cả cái hàn điện. Joe là thợ hàn cừ lắm đấy”.
Tôi nói, “Tôi xin rút lại những điều nói ban nãy. Tôi nghĩ cội rễ của anh chắc là trong ngành kỹ thuật rồi”.
“Ông đã có thể nói tệ hơn. Tôi thậm chí còn hình dung ra. Và ông biết không, khi nào bọn nhỏ lớn lên, chúng tôi thậm chí có thể sẽ đi xuống phía nam vào mùa đông và lên phía bắc vào mùa hè”.
“Anh Joe giỏi nghề lắm”, cô vợ nói. “Ở chỗ làm, anh ấy có nhiều khách hàng ruột. Một số người đi những tám mươi cây số để đến tìm Joe, nhờ anh ấy sửa xe vì anh ấy rất giỏi nghề”.
“Tôi là thợ cơ khí xịn đấy”, Joe nói.
Lái xe trên con đường lớn gần Toledo, tôi có cuộc trò chuyện với Charley về chủ đề cội rễ. Nó lắng nghe nhưng không trả lời. Trong suy nghĩ về cội nguồn, tôi và hầu hết mọi người đều bỏ qua hai điều. Phải chăng người Mỹ là những người không ngơi nghỉ, một dân tộc di động không bao giờ thỏa mãn với nơi họ đang sống, và đó là một vấn đề chọn lọc? Những người tiên phong, những người di cư đã tràn vào lục địa này, là những người không ngơi nghỉ ở châu Âu. Những người bám giữ cội nguồn thì đã ở yên tại nhà mình và vẫn ở đó suốt bao đời nay. Và mỗi người chúng ta – trừ người da đen bị buộc phải đến đây để làm nô lệ – đều là hậu duệ của những người không ngơi nghỉ, những kẻ lang bạt không thỏa chí nếu phải ở nhà. Có phải là bình thường không nếu chúng ta thừa hưởng cái xu hướng đó? Sự thật là chúng ta đã thừa hưởng nó. Nhưng đó là cái nhìn nhỏ hẹp. Cội nguồn là gì và chúng ta đã có nó bao lâu rồi? Nếu loài người chúng ta đã từng tồn tại vài triệu năm thì lịch sử là gì? Những tổ tiên xa xôi của chúng ta cũng theo cuộc chơi đó. Họ di chuyển theo nguồn lương thực, trốn thoát khỏi thời tiết, băng giá và mùa màng thay đổi. Rồi sau nhiều thiên niên kỷ mông muội, họ bắt đầu thuần hóa một số loài vật để họ có thể sống với nguồn lương thực. Do nhu cầu, họ đi theo những vùng đồng cỏ vốn nuôi sống đàn gia súc lang thang bất tận của họ. Chỉ khi nông nghiệp thành hình – và điều này cũng chỉ mới đây thôi nếu so sánh với cả chiều dài của lịch sử – nơi chốn mới trở nên có ý nghĩa, có giá trị, đem lại sự ổn định. Nhưng đất đai là thứ hữu hình, và vì hữu hình mà nó có cách để rơi vào tay một số ít người. Ai đó muốn sở hữu đất đai thì kẻ đó cũng muốn cả sự quy phục vì phải có người để canh tác đất. Cội nguồn nằm ở sự sở hữu đất đai, ở sự cưỡng đoạt hữu hình và không suy suyển. Với cách nhìn đó, chúng ta là một giống loài không ngơi nghỉ với một lịch sử có cội nguồn rất ngắn, và lịch sử ngắn này cũng không ảnh hưởng là bao. Có lẽ chúng ta đã đề cao quá mức cội nguồn do nhu cầu về tâm lý. Có lẽ sự thôi thúc càng lớn thì nhu cầu, ý muốn, sự thèm khát được đến nơi nào khác càng sâu lắng và cổ xưa.
Charley không trả lời giả thiết ấy của tôi. Mà trông nó đúng thật là nhếch nhác. Tôi đã tự hứa với bản thân sẽ thường xuyên chải lông cho nó, để nó được tỉa tót và đẹp mã, nhưng tôi đã không giữ lời. Lông của nó vón cả lại và rất bẩn. Chó xù không rụng lông nhiều như cừu. Ban đêm, lúc tôi định xúc tiến vụ chải chuốt danh giá này, tôi luôn mắc bận việc gì đó. Ngoài ra tôi còn phát hiện nó mắc phải một chứng dị ứng hiểm nghèo mà trước đó tôi không biết. Một đêm nọ, tôi đánh xe đến một bãi xe tải, nơi những xe lớn chở gia súc đang đậu để rửa sàn. Quanh bãi là cả núi phân và cả đám mây ruồi. Mặc dù Rocinante đã được đóng chặt cửa nẻo, ruồi vẫn bay được vào hàng đống, nấp trong những xó xỉnh và không dễ gì mà đuổi ra. Lần đầu tiên tôi lấy ra chiếc bình xịt côn trùng và xịt tứ tung. Charley bị hắt hơi dữ dội và kéo dài, khiến tôi rốt cuộc phải bế nó ra ngoài. Đến sáng, trong xe đầy những con ruồi say thuốc nên tôi lại xịt nữa, khiến Charley lại lên cơn hắt hơi. Sau vụ này, mỗi khi bị các vị khách ruồi xâm lấn, tôi luôn đưa Charley ra ngoài rồi mớt xịt thuốc trong nhà hay trên xe cho lũ ruồi chết hết. Tôi chưa từng thấy những cơn dị ứng dữ dội như thế.
Vì từ lâu chưa đến miền Trung Tây nên trong tôi chồng chất lên nhiều ấn tượng khi lái xe đi qua Ohio, Michigan và Illinois. Ấn tượng đầu tiên là sự gia tăng dân số nhanh chóng. Các thôn làng trở thành thị trấn, còn thị trấn thì trở thành đô thị. Các con đường đều nhung nhúc xe. Các đô thị có mật độ dân cư cao đến mức ta luôn phải thận trọng để không tông phải ai và không bị ai tông. Ấn tượng kế tiếp là một thứ điện năng, một sức mạnh, hầu như một dòng năng lượng mạnh đến mức ta sẽ giật bắn người nếu chạm phải. Bất kể theo hướng nào, bất kể là tốt hay xấu, sức sống hừng hực ở khắp nơi. Tôi chưa từng nghĩ, dù chỉ một giây, rằng những người mà tôi gặp và trò chuyện ở New England là thiếu thân thiện hay bất lịch sự, nhưng họ nói năng rất cộc lốc và thường là đợi cho người mới đến mở lời trước. Hầu như chỉ băng qua biên giới Ohio là tôi đã cảm thấy người dân ở đây cởi mở và xởi lởi hơn. Cô phục vụ ở một quầy hàng ven đường chào hỏi tôi buổi sáng trước cả khi tôi có cơ hội để chào. Cô ta nói về bữa điểm tâm như thể cô ta thích cái ý tưởng ăn sáng, bàn luận rất nhiệt tình về thời tiết, thậm chí còn cung cấp thông tin về chính mình mà chẳng cần tôi tìm hiểu. Những người xa lạ có thể nói chuyện với nhau thoải mái mà không phải giữ kẽ. Tôi đã quên khuấy mất vùng quê nơi đây trù phú và tươi đẹp như thế nào, chỉ nhớ những thửa đất được cày sâu, những cây lớn xum xuê. Xứ hồ Michigan trông đẹp như một người phụ nữ thon thả, ăn mặc điệu đàng, được tô điểm bởi nữ trang, và có lẽ tính cách người dân nơi đây cũng chịu ảnh hưởng của vùng đất này.
Một trong những mục tiêu của tôi là lắng nghe cách nói, chất giọng, tiết tấu, bội âm, cách nhấn giọng. Bởi lẽ cách nói quan trọng hơn xa từ ngữ và câu cú. Tôi lắng nghe ở khắp nơi. Tôi có cảm giác thổ ngữ nơi đây đang trong quá trình biến mất, chưa biến hẳn nhưng đang. Bốn mươi năm phát thanh và hai mươi năm truyền hình hẳn đã có tác động. Truyền thông hẳn đã hủy diệt tính địa phương trong một quá trình chậm chạp và không thể tránh khỏi. Tôi còn nhớ cái thời mà tôi hầu như nhận ra được quê quán của ai đó chỉ qua giọng nói. Giờ đây, việc này càng lúc càng khó hơn và trong một tương lai thấy trước sẽ trở nên bất khả. Phát âm trên phát thanh và truyền hình trở nên chuẩn mực, có lẽ bằng thứ tiếng Anh nghe hay nhất xưa nay. Hệt như ổ bánh mì của chúng ta, nó được nhào, được nướng, được đóng gói và bán mà không phải ngại ngần bất kỳ sự sơ sẩy nào của con người. Nó ngon một cách đồng bộ và vô vị một cách cũng đồng bộ. Phát âm của chúng ta cũng sẽ trở thành một phát âm duy nhất.
Là người yêu từ ngữ và những khả năng bất tận của ngôn từ, tôi thấy buồn vì cái sự không tránh khỏi này. Vì, cùng với thổ ngữ, phong thái địa phương sẽ biến mất. Những thành ngữ, những sắc thái trong lối nói vốn làm cho ngôn ngữ trở nên giàu có, ngập chất thi ca, đầy ắp những nơi chốn và thời gian... giờ đây phải ra đi. Và thế chỗ cho nó là cách nói quốc gia, được bọc, được gói, được chuẩn hóa... và vô vị. Tính địa phương không mất hẳn, nhưng đang nhạt dần. Tôi đã lắng nghe suốt nhiều năm và thấy sự thay đổi là rất lớn. Di chuyển sang phía tây dọc theo các con đường miền bắc, tôi không nghe thấy một phát âm địa phương thứ thiệt nào cho tới khi đến Montana. Đó là một trong những lý do tôi lại đâm si tình Montana. Bờ Tây đã du nhập tiếng Anh đóng gói. Vùng Tây Nam cố bám giữ phát âm địa phương, nhưng chỉ được hơi hơi mà thôi. Dĩ nhiên, Deep South dốc toàn lực để bám giữ những diễn đạt địa phương, giống như nó giữ rịt lấy những nét xưa cũ khác của nó. Nhưng không vùng nào trụ vững lâu dài trước những đường cao tốc, đường cao áp, và truyền hình quốc gia. Cái mà tôi thương tiếc có lẽ chẳng đáng để gìn giữ, như tôi vẫn thấy tiếc nuối khi nó đã mất đi vĩnh viễn.
Trong khi tôi chống lại các dây chuyền lắp ráp hàng loạt áp dụng cho thực phẩm, cho âm nhạc, cho ngôn ngữ và thậm chí cả cho tâm hồn chúng ta, tôi vẫn biết có một nơi hiếm hoi nào đó đang làm ra những ổ bánh mì thơm ngon của những ngày xa xưa. Món ăn mẹ nấu thường rất hiếm khi dở. Đó là thứ sữa không khử trùng, chỉ duy nhất bị chạm vào bởi ruồi và một chút ít phân lúc nhúc vi khuẩn. Cuộc sống lành mạnh theo lối xưa luôn ẩn chứa những cơn đau nhức, những cái chết đột ngột không rõ nguyên do, và cái thổ ngữ tôi thương tiếc thật ra là con đẻ của sự thất học và kém hiểu biết. Khi người ta già đi – với thời gian, điều này cũng chóng vánh thôi – lẽ tự nhiên người ta hay phản đối những thay đổi, đặc biệt là những thay đổi để tốt hơn lên. Nhưng sự thực là chúng ta đã đánh đổi sự đói khát lấy sự béo phì, và cả hai thứ này đều giết chết chúng ta. Những ranh giới của sự thay đổi đã hạ thấp. Chúng ta, hay ít ra là tôi, có lẽ chẳng có ý niệm nào về cuộc sống và suy nghĩ của con người trong suốt một trăm năm hay năm mươi năm. Có lẽ sự khôn ngoan lớn nhất của tôi là tôi biết rằng mình chẳng biết gì cả. Những kẻ đáng thương là những kẻ hoài công níu giữ, bởi lẽ họ chỉ có thể cảm nhận nỗi cay đắng của mất mát và không biết đến niềm vui của những gì đạt được.
Khi tôi đi ngang qua hoặc ở gần những trung tâm sản xuất huyên náo – Youngstown, Cleveland, Akron, Toledo, Pontiac, Flint, và sau này là South Bend và Gary – cả đôi mắt lẫn tâm trí tôi bị tràn ngập bởi sự kỳ vĩ và sinh lực của nền sản xuất, một phức hợp giống như sự hỗn loạn và cũng không thể nào là như thế. Cũng giống như khi ta nhìn xuống một tổ kiến và nhận thấy chẳng có phương pháp, hướng đi, hay mục tiêu nào trong những cư dân đang lao đi vội vã. Thật tuyệt vời biết mấy nếu như tôi lại ra được con đường quê yên ắng rợp bóng cây, với những cánh đồng và đàn bò khuôn trong bờ rào. Và tôi có thể đưa Rocinante đến bên một chiếc hồ nước sạch, trong veo, dõi mắt tít lên cao để ngắm nhìn những đàn vịt và ngỗng đang bay thành hình mũi tên, hướng về phương Nam. Nơi đó Charley có thể dùng chiếc mũi thám thính nhạy cảm để đọc thứ văn chương của riêng nó trong bụi cỏ, gốc cây, và để lại đó những thông điệp của nó, mà có lẽ trong thời gian bất tận cũng quan trọng chẳng kém tiếng sột soạt của cây viết khi tôi ghi chép trên những tờ giấy dễ hủy. Ở đó, trong sự yên tĩnh, với những cơn gió làm xào xạc những cành cây và làm lăn tăn tấm gương mặt nước, tôi nấu những bữa ăn phi thực trong chiếc chảo nhôm dùng một lần, pha món cà phê đậm đà và ngon bổ đến mức gây hưng phấn. Và, ngồi trên bệ cửa sau, tôi rốt cuộc có thể đến được những suy nghĩ về những điều đã thấy, cố gắng sắp xếp lại một vài lối tư duy để thích ứng với đầy ắp những điều đã thấy và nghe.
Tôi sẽ kể bạn nghe nó là như thế nào. Đến bảo tàng Ufizzi ở Florence hay bảo tàng Louvre ở Paris, bạn sẽ thấy mình bị đè bẹp bởi số lượng, vốn từng là sức mạnh của sự vĩ đại, đến mức bạn sẽ ra về trong sầu não, với cảm giác như mình bị táo bón. Và rồi, khi bạn một mình và nhớ lại, những bức tranh sơn dầu tự chúng sẽ hiện ra. Một số bị gạt đi do gu thẩm mỹ hoặc do những hạn chế của bạn, nhưng số khác sẽ bật dậy, hiện lên rõ mồn một. Rồi bạn trở lại để ngắm nghía chỉ một thứ duy nhất, không hề bị quấy nhiễu bởi tiếng hét của số đông. Sau một hồi hỗn độn, tôi có thể đến bảo tàng Prado ở Madrid, băng qua mà không thèm để mắt đến hàng ngàn bức họa đang hét vào tôi để lôi kéo sự chú ý, và đi thẳng đến người bạn của tôi – bức tranh không lớn lắm của El Greco: San Pablo con un Libro. Thánh Paul đóng lại một cuốn sách. Các ngón tay của ông còn để lại dấu vết trang cuối cùng vừa đọc, và khuôn mặt ông vẫn đọng lại nỗi thắc mắc mà ông sẽ phải tìm hiểu sau khi đóng sách lại. Có thể sự thông hiểu chỉ diễn ra sau đó. Nhiều năm trước đây, khi tôi còn hay làm việc ở trong rừng, người ta nói rằng những người thợ rừng đốn cây trong nhà thổ và làm tình ở trong rừng. Cho nên tôi phải tìm đường vượt qua những dây chuyền sản xuất đang bùng nổ ở Trung Tây trong khi đang ngồi một mình bên bờ hồ ở phía bắc Michigan.
Giữa lúc tôi đang ngồi bình yên trong tĩnh lặng, một chiếc jeep thắng kít trên mặt đường và Charley giỏi giang liền làm việc của nó, cất lên một tiếng rống. Một chàng trai mang giày ống, quần nhung, áo khoác dạ ca-rô đỏ và đen, bước ra và sải những bước dài tiến lại gần. Anh ta nói bằng một giọng gay gắt, thiếu thân thiện mà cánh đàn ông vẫn thường dùng khi miễn cưỡng phải làm điều gì.
“Ông không biết đất ở đây bị cấm à? Đây là tài sản tư nhân”.
Thông thường thì giọng điệu của anh ta sẽ làm tôi nổi cáu. Tôi sẽ nổi cơn thịnh nộ khủng khiếp và anh ta sẽ có cớ để trục xuất tôi với sự hài lòng đã làm việc đúng đắn. Chúng tôi có thể sẽ sa vào một cuộc cãi vã hăng máu và dữ dội. Điều đó là lẽ thường, chỉ có điều là cái đẹp và sự yên tĩnh đã khiến tôi chậm đáp trả bằng sự hằn học, và trong khi lưỡng lự tôi đánh mất luôn sự hằn học đó. Tôi nói, “Tôi cũng đoán đây là đất tư. Tôi đang định tìm ai đó để xin phép hay nếu được thì xin trả tiền để nghỉ lại nơi đây”.
“Ông chủ không thích những người cắm trại. Họ xả rác và nhóm lửa lung tung cả lên”.
“Chả trách ông ta. Tôi biết họ gây hỗn độn như thế nào”.
“Ông thấy cái tấm biển trên cây này chưa? Cấm vào, cấm săn bắn, cấm câu cá, cấm cắm trại”.
“Được thôi”, tôi nói, “nghe có vẻ dứt khoát đấy. Nếu công việc của anh là tống cổ tôi ra thì anh cứ việc tống cổ tôi. Tôi sẽ ra đi trong hòa bình. Nhưng tôi mới vừa pha xong một bình cà phê. Anh nghĩ chủ của anh có phiền hà gì không nếu tôi uống xong rồi mới đi? Anh vui lòng uống với tôi một tách nhé? Như vậy anh sẽ đuổi được tôi nhanh hơn”.
Chàng trai nhăn mặt lại. “Quỷ tha ma bắt!”, anh ta nói. “Ông không được nhóm lửa và không được xả rác đấy”.
“Tôi còn đang làm tệ hơn thế. Tôi đang cố hối lộ anh bằng một tách cà phê. Và cả điều này cũng tệ hơn thế: tôi đang đề nghị bỏ một chút Old Granddad[3] vào cà phê đấy”.
Chàng trai phì cười. “Quỷ tha ma bắt!” anh ta nói. “Để tôi lui chiếc jeep ra khỏi đường cái đã”.
Thế đấy, toàn bộ kịch bản cũ đã đổ vỡ. Anh ta ngồi xếp bằng trên đám lá thông và nhâm nhi tách cà phê của anh ta. Charley đến đánh hơi và để cho anh ta chạm vào, đó là điều hiếm thấy ở Charley. Nếu là chỗ nào khác thì nó chả bao giờ cho người lạ chạm vào nó. Nhưng các ngón tay của anh chàng này đã tìm đến đúng cái chỗ phía sau tai mà Charley rất khoái được gãi. Cho nên nó hài lòng thở hắt ra và ngồi xuống.
“Ông làm gì, định đi săn hả? Tôi có thấy mấy cây súng trên xe ông”.
“Chỉ lái xe qua thôi. Anh biết đấy, anh mà thấy một nơi trông rất ổn và anh đã thấm mệt, tôi nghĩ là anh cũng sẽ dừng lại thôi”.
“Ờ”, anh ta nói. “Tôi hiểu ý ông. Ông có cái xe cũng ngon đấy”.
“Tôi thích nó, và Charley cũng thích”.
“Charley à? Chưa từng nghe con chó nào tên Charley. Chào Charley”.
“Tôi không muốn anh gặp rắc rối với ông chủ. Anh nghĩ tôi cuốn xéo được chưa?”
“Quỷ tha ma bắt!”, anh ta nói. “Ông ta không có đây. Tôi là người quyết định. Ông đâu có làm hại gì”.
“Tôi đang xâm nhập mà”.
“Ông biết không? Fella cắm trại ở đây, một thằng cha gàn dở. Cho nên tôi đến để tống cổ hắn đi. Hắn nói nghe mắc cười. Hắn nói, “Xâm nhập không phải là tội mà chỉ là một lỗi nhỏ thôi”. Hắn nói đó là một lỗi lầm. Nói vậy là thế quái gì? Thằng cha đó đúng là gàn dở”.
“Anh khám xét tôi đi”, tôi nói, “Tôi không gàn dở đâu. Để tôi đun cà phê cho anh đã”. Tôi hâm lại cà phê.
“Ông pha cà phê ngon thật đó”, vị khách của tôi nói.
“Trước khi trời quá tối tôi phải tìm ra nơi nào để đậu xe. Anh có biết chỗ nào dọc đường người ta cho phép tôi ở qua đêm không?”
“Nếu ông đánh xe ra sau các cây thông thì từ ngoài đường sẽ chẳng ai thấy ông”.
“Nhưng như vậy là tôi phạm lỗi”.
“Ừ. Cầu Chúa cho tôi hiểu từ ấy nghĩa là gì”.
Anh ta lên xe jeep dẫn đường cho tôi, giúp tôi tìm một nơi bằng phẳng trong rừng thông. Sau khi trời tối anh ta vào thăm Rocinante và rất khâm phục các trang bị của nó. Chúng tôi cùng uống whisky với nhau, có một cuộc thăm viếng tốt và trao đổi với nhau về tình hình cuộc sống và công việc. Tôi cho anh ta xem vài lưỡi câu và mồi giả mà tôi mua ở Abercrombie và Fitch, rồi tặng anh ta một chiếc. Tôi cũng tặng anh ta một số sách truyện kinh dị mà tôi đã đọc xong, trong đó dày đặc chuyện tình dục và bạo dâm, và tặng luôn cuốn Field and Stream (Đồng và suối). Đổi lại, anh ta mời tôi ở lại bao lâu cũng được. Anh ta bảo sẽ trở lại ngày mai và chúng tôi sẽ câu cá một chút. Tôi nhận lời ở lại ít nhất một ngày. Thật là dễ chịu khi có bạn bè. Ngoài ra, tôi cũng cần chút thời gian để suy nghĩ về những thứ tôi đã thấy, những xí nghiệp và nhà máy khổng lồ cùng với sự nhốn nháo của nền sản xuất.
Anh chàng bảo vệ hồ là một gã cô đơn, và anh ta càng cô đơn hơn vì đã lấy vợ. Anh ta cho tôi xem ảnh cô vợ bọc nhựa cất trong bóp. Một cô gái tóc vàng xinh xắn đang cố hết sức để giống các ảnh trên tạp chí, một cô gái của hàng hóa, của những thứ gia dụng, dầu gội đầu, dầu xả, kem dưỡng da. Cô ta ghét đi đến những nơi mà cô ta gọi là “khỉ ho cò gáy”, luôn nhung nhớ quãng đời huy hoàng ở Toledo hay South Bend. Bạn đồng hành duy nhất của cô ta là những trang giấy bóng lộn của tạp chí Charm and Glamour (Duyên dáng và quyến rũ). Có những lúc, cô ta hờn dỗi muốn hướng tới con đường của thành công. Chồng của cô phải có việc làm trong một tổ chức lớn, tân tiến, có cái tên nghe thật oách, và sau đó họ sẽ mãi hạnh phúc ở bên nhau. Tất cả những điều này được lượm lặt từ những thổ lộ nho nhỏ, không trực tiếp, trong cuộc trò chuyện của anh ta. Cô ta biết đích xác mình muốn gì, còn anh ta thì không. Nhưng điều anh ta muốn thì có thể khiến anh ta đau đớn suốt cả cuộc đời. Sau khi anh ta lên xe jeep ra về, tôi đã thử sống cuộc đời của anh ta và điều đó phủ lên tôi một màn sương tuyệt vọng. Anh ta muốn cô vợ nhỏ xinh xinh và anh ta cũng muốn cả thứ khác, nhưng anh ta không thể nào có cả hai.
Charley có một giấc mơ rất dữ, khiến tôi phải thức giấc. Chân của nó khua khoắng giống như động tác chạy, và nó khẽ thốt ra những tiếng kêu ăng ẳng. Có lẽ nó mơ thấy đang đuổi theo một con thỏ khổng lồ mà không sao bắt được. Hay có lẽ trong mơ có thứ gì đó đang rượt nó. Với giả thiết thứ hai, tôi đưa tay ra đánh thức nó dậy, nhưng giấc mơ hẳn là rất dữ. Nó gừ gừ như nói chuyện với chính mình hay kêu ca gì đó. Nó uống hết nửa tô nước rồi mới chịu ngủ lại.
Anh chàng bảo vệ trở lại ngay sau khi mặt trời lên. Anh ta mang theo một cần câu và tôi cũng lấy cần của mình ra lắp tang quay rồi đeo mắt kính vào để gắn con mồi giả màu sặc sỡ. Sợi dây câu ni-lông trong suốt, người ta nói là để cá không nhìn thấy, và nó cũng trong suốt với tôi nếu không có mắt kính.
Tôi nói, “Anh biết đấy, tôi không có giấy phép câu cá”.
“Quỷ tha ma bắt”, anh ta nói. “Nhưng chắc gì đã câu được cá đâu mà lo”.
Và anh ta nói đúng, chúng tôi chẳng câu được con nào.
Chúng tôi đi một quãng rồi quăng dây, rồi lại đi, làm tất cả những gì chúng tôi biết để lôi kéo sự chú ý của bọn cá vược hay cá măng. Anh bạn của tôi luôn miệng nói: “Chúng ở ngay dưới đó, chỉ cần chúng ta truyền được tín hiệu đến chúng”. Nhưng chúng tôi chẳng làm sao truyền được cả. Nếu chúng ở dưới đó thì chúng vẫn cứ ở dưới đó. Một số đáng kể những lần đi câu cá của tôi diễn ra giống thế này, nhưng tôi vẫn cứ thích đi câu. Mong muốn của tôi rất giản dị. Tôi chẳng thiết gì theo đuổi cái biểu tượng khổng lồ của số phận và chứng tỏ sự cương nghị của tôi trong cuộc chiến ngoan cường với cá. Nhưng đôi lúc tôi cũng thích có vài chú cá với kích cỡ vừa vặn với chiếc chảo rán chịu hợp tác. Đến trưa, tôi từ chối lời mời dùng bữa tối và gặp gỡ cô vợ. Tôi ngày càng nôn nóng muốn gặp lại cô vợ của chính tôi, cho nên tôi cũng gấp rút hơn.
Có một thời, cũng chẳng lâu la gì lắm, khi đàn ông đi biển và biệt tích trong hai ba năm hoặc vĩnh viễn. Và khi những cỗ xe ngựa bước vào cuộc hành trình xuyên lục địa, bạn bè và thân nhân ở lại nhà có thể chẳng bao giờ còn nghe được tin tức gì từ những kẻ lang bạt. Cuộc sống vẫn tiếp diễn, các vấn đề rồi cũng được giải quyết, các quyết định được đưa ra. Ngay cả tôi cũng còn nhớ cái thời mà một bức điện tín chỉ mang một ý nghĩa: cái chết của một người trong gia đình. Trong thời gian ngắn ngủi một đời người, điện thoại đã làm thay đổi tất cả. Nếu như trong bản tường thuật lan man này tôi có vẻ như đã cắt đứt mối liên hệ với những buồn vui gia đình, đến món nợ quá hạn của con trai và chiếc răng mới mọc của cháu trai, đến những thành tựu và khó khăn trong kinh doanh, thì thật ra không phải là như vậy. Ba lần mỗi tuần, từ một quán bar hay siêu thị hay một trạm vá săm lốp nào đó, tôi vẫn gọi điện thoại về New York và tái lập lại danh tính của mình trong cả thời gian lẫn không gian. Trong ba hoặc bốn phút tôi lại có cái tên, có những bổn phận, có niềm vui nỗi buồn mà một người đàn ông luôn mang theo mình như chiếc đuôi sao chổi. Điều đó cũng giống như dao động từ chiều kích này sang chiều kích khác, một cú nổ yên ắng phá tan chiếc hàng rào âm thanh, một thể nghiệm kỳ lạ giống như cú lặn nhanh vào vùng nước vừa quen thuộc mà cũng vừa xa lạ.
Chúng tôi hẹn nhau rằng, vào giữa cuộc hành trình, vợ tôi sẽ bay đến Chicago để gặp tôi trong một thời gian ngắn. Trong hai giờ đồng hồ, ít ra là trên lý thuyết, cô ấy sẽ băng qua một múi giờ của trái đất mà tôi phải mất nhiều tuần lễ lê lết để vượt qua. Tôi trở nên sốt ruột, bám dính vào những con đường có thu phí khổng lồ giăng ngang biên giới phía bắc của Indiana, đi bọc qua Elkhart, South Bend và Gary. Tính chất của con đường nói lên tính chất của cuộc hành trình. Độ thẳng của đường đi, độ nhanh của giao thông, sự không suy suyển của tốc độ, tất cả đều như trong mộng du. Và khi các dặm đường lùi xa thì sự kiệt quệ ngấm ngầm lại ập tới. Đêm và ngày chỉ là một. Mặt trời lặn không hề là sự mời mọc hay mệnh lệnh để dừng xe, bởi lẽ giao thông cứ đều đều tiếp diễn.
Đến rất khuya, tôi mới dong xe vào một khu vực nghỉ ngơi, ăn món hamburger tại một quầy ăn uống tuyệt vời không bao giờ đóng cửa, rồi đi bộ cùng Charley trên thảm cỏ mới xén. Tôi ngủ được một giờ và thức dậy rất lâu trước khi trời sáng. Tôi có mua mấy bộ đồ thành thị, áo vét, sơ-mi, giày, nhưng lại quên mang va-li để đưa chúng từ xe ra phòng khách sạn. Thật ra, tôi không biết phải cất va-li ở đâu trên xe. Trong một chiếc thùng rác dưới ngọn đèn đường hồ quang, tôi tìm thấy một hộp các-tông dợn sóng còn sạch sẽ. Tôi dùng nó để gói ghém những bộ đồ thành thị của mình. Tôi lấy mấy tấm bản đồ bọc các áo sơ-mi và dùng dây câu cá cột chiếc hộp các-tông.
Biết mình dễ bị hoảng khi nghe tiếng xe cộ gầm rú, tôi lên đường đến Chicago từ khá lâu trước trời sáng. Tôi muốn đến sớm Ambassador East, nơi tôi đã đặt phòng trước, nhưng dù tính toán kỹ như thế, tôi rốt cuộc vẫn bị lạc. Cuối cùng, trong một cơn bột phát của óc sáng tạo, tôi thuê một chiếc ta-xi chuyên chạy đêm để dẫn đường cho tôi. Và tôi khá chắc chắn rằng tôi đã chỉ vượt qua khách sạn một đoạn không xa lắm. Không biết người gác cổng và người khuân hành lý có nhận thấy phương cách du lịch dị thường của tôi không, nhưng họ chẳng thể hiện điều gì cả. Tôi trao lại bộ đồ vét trong móc, đôi giày trong túi áo đi săn, các sơ-mi trong lớp bọc gọn ghẽ bằng những tấm bản đồ đường xá New England. Rocinante đã được đưa đến một nhà xe để cất giữ. Charley thì phải đến một chuồng chó để nhốt, để tắm rửa và chải chuốt. Ở cái tuổi của nó, Charley vẫn là một con chó điệu đàng, rất thích được làm đẹp, nhưng khi nó nhận ra mình bị bỏ lại Chicago, sự vững tin thường ngày của nó bị sụp đổ và nó đã rống lên giận dữ và tuyệt vọng. Tôi bưng tai, đi thẳng một lèo về khách sạn.
Tôi nghĩ mình được nhiều người biết đến và yêu quý ở Ambassador East, nhưng điều đó sẽ chẳng đúng nữa nếu tôi xuất hiện trong bộ đồ đi săn nhàu nát, râu ria lởm chởm, mình mẩy phủ bụi đường và đôi mắt lờ đờ vì lái xe gần suốt đêm. Đã hẳn là tôi đặt được phòng, nhưng từ đây đến trưa chưa chắc phòng đã trống. Lập trường của khách sạn được giải thích cho tôi một cách cặn kẽ. Tôi hiểu và chẳng chấp người quản lý. Lập trường của chính tôi là tôi muốn được tắm táp và có chiếc giường để ngủ, nhưng vì chuyện đó là bất khả thi, tôi chỉ còn nước ngồi một đống trên chiếc ghế ở sảnh đợi và đánh một giấc cho đến khi có phòng.
Tôi thấy sự lúng túng trong ánh mắt người đàn ông ở quầy tiếp tân. Thậm chí tôi biết mình chẳng là niềm vinh dự cho cái tòa nhà lịch lãm, mắc tiền và dễ chịu này. Ông ta ra dấu cho người trợ lý, có lẽ bằng thần giao cách cảm, và cùng với nhau chúng tôi đã tìm ra được giải pháp. Một quý ông vừa trả phòng để đón một chuyến bay sớm. Phòng ông ta chưa được dọn, nhưng tôi sẵn sàng sử dụng nó cho đến khi có được phòng của mình. Thế là vấn đề đã được giải quyết bằng sự thông minh và kiên nhẫn, và mỗi bên đều có được điều mình muốn: tôi có cơ hội để tắm táp nước nóng và ngủ nghê, còn khách sạn thì tránh được cái rủi ro phải chịu đựng tôi trong sảnh đợi.
Căn phòng còn nguyên vẹn từ khi người thuê cũ rời đi. Tôi thả mình lên chiếc ghế êm ái để tháo giày, thậm chí đã tháo được một chiếc trước cả khi kịp ngồi. Tôi bắt đầu để ý đến nhiều thứ, rồi nhiều hơn, nhiều hơn nữa. Trong một thời gian ngắn đến bất ngờ, tôi quên cả việc tắm rửa, ngủ nghê và thấy mình đang can dự sâu vào câu chuyện của chàng Harry Cô độc.
Một con thú nghỉ ngơi hoặc đi ngang qua sẽ để lại đám cỏ dập nát, dấu chân, và có thể cả những chất thải của nó. Một người ngụ trong căn phòng trong một đêm cũng để lại những dấu vết về tính cách, tiểu sử, những chuyện gần đây, và đôi khi cả những kế hoạch và hy vọng tương lai. Tôi thậm chí còn tin rằng tính cách con người có thể ngấm vào tường rồi từ từ nhả ra. Điều này giải thích chuyện ma quỷ hiện hình cũng rất ổn. Mặc dù tôi có thể kết luận sai, tôi vẫn thấy mình khá nhạy cảm với các dấu vết của người. Hơn nữa, tôi chẳng ngại ngùng gì khi thú nhận rằng tôi cũng là một Peeping Tom bất trị. Tôi chưa bao giờ đi qua một cánh cửa sổ lộ thiên mà không dõi mắt vào nhìn, chưa bao giờ bưng tai trước một cuộc đối thoại chẳng can hệ gì đến tôi. Tôi có thể bào chữa hay thậm chí tự nâng lên ý nghĩa cao cả bằng cách viện dẫn rằng công việc của tôi đòi hỏi phải am hiểu người đời, nhưng tôi e rằng đó đơn giản chỉ là vì tôi tọc mạch.
Khi ngồi trong căn phòng chưa dọn này, Harry Cô độc bắt đầu hiện lên, cả hình hài lẫn kích khổ. Tôi có thể cảm nhận một vị khách vừa rời đi qua từng mẩu, từng mảnh của anh ta mà anh ta bỏ lại ở phía sau. Dĩ nhiên, Charley cũng có thể biết được thậm chí còn hơn thế, ngay cả với chiếc mũi không hoàn hảo của nó. Nhưng Charley đang ở trong chuồng chó, chuẩn bị được đưa đi chải chuốt. Dù vậy, Harry cũng rất thật với tôi như bất cứ người nào tôi từng gặp, thậm chí còn thật hơn nhiều người. Anh ta không đặc sắc, kỳ thực là thành viên của một nhóm khá lớn. Cho nên anh ta trở thành đối tượng quan tâm của mọi cuộc thăm dò ở nước Mỹ. Trước khi tôi ghép từng mảng miếng của anh ta lại khiến một số người phải lo lắng, hãy để tôi công bố rằng tên thật của anh ta không phải là Harry. Anh ta sống ở Westport, Connecticut. Thông tin này được lấy từ biên lai giặt giũ những chiếc áo sơ-mi. Đàn ông thường sống nơi đâu có thể đưa quần áo đi giặt. Tôi chỉ phân vân không rõ anh ta có dùng phương tiện công cộng để đi làm ở New York hay không. Chuyến đi đến Chicago của anh ta chủ yếu là vì lý do kinh doanh, xen lẫn vào đó là vài hoạt động vui vẻ truyền thống. Tôi biết tên anh ta vì anh ta ký tên một vài lần ở quầy khách sạn, mỗi chữ ký có độ nghiêng hơi khác nhau. Điều này chỉ ra rằng anh ta không tự tin lắm về bản thân trong thế giới kinh doanh, nhưng cũng còn nhiều vết tích khác nói lên điều này.
Anh ta đã bắt đầu một bức thư viết cho vợ, nhưng nó đã kết thúc trong sọt rác. “Em yêu. Mọi thứ đều rất ổn. Anh đã gọi cho dì em nhưng không thấy trả lời. Giá có em ở đây với anh thì tốt biết mấy. Anh thấy rất cô đơn ở thị trấn này. Em quên bỏ theo khuy măng-sét cho anh rồi. Anh đã mua một cặp rẻ tiền ở Marshall Field. Anh đang viết thư trong khi chờ CE. gọi đến. Hy vọng anh ta mang theo hợp...”
Thật may mà Em yêu không theo cùng để Chicago bớt cô đơn với Harry. Vị khách của anh ta không phải là CE., cầm theo bản hợp đồng. Cô gái ấy tóc nâu và bôi son rất lợt – Những mẩu tàn thuốc lá trong gạt tàn và mép ly rượu soda. Họ uống loại Jack Daniel’s, hết nguyên chai – chiếc chai rỗng, sáu chai soda và một chiếc xô đựng đá. Cô ta dùng nước hoa rất nồng và không ở lại qua đêm – Chiếc gối thứ hai được sử dụng nhưng không phải để ngủ, ngoài ra không có dấu son trên khăn giấy trong sọt rác. Chẳng hiều sao, tôi thích gọi tên cô ta là Lucille. Có lẽ đó từng và đang là tên cô ta. Cô ta là một người bạn gái hơi căng thẳng – hút những điếu thuốc đầu lọc của Harry nhưng chỉ hút chừng một phần ba điếu thuốc là dập đi và châm điếu mới, và cô ta không bỏ điếu thuốc xuống mà dúi, mà chà nát đầu thuốc. Lucille đội một chiếc nón be bé, gài bằng những chiếc lược. Một trong những chiếc lược này đã bị bung ra. Điều đó, cùng với chiếc kẹp tóc cạnh giường, nói với tôi rằng Lucille là một cô gái tóc nâu. Tôi không biết Lucille có phải là dân chuyên nghiệp hay không, nhưng ít ra cô ta rất thành thục. Cô ta có một phẩm chất kinh doanh khá tốt, không để lại phía sau quá nhiều dấu vết giống như dân nghiệp dư. Ngoài ra, cô ta không để bị say. Ly cô ta tuy có cạn thật nhưng chiếc bình cắm hoa hồng nhung – nhờ sự ý tứ của ban quản lý khách sạn – có phảng phất mùi Jack Daniel’s, và điều này chẳng tốt lắm cho những đóa hồng.
Tôi tự hỏi chẳng biết Harry và Lucille tâm sự gì với nhau. Tôi tự hỏi chẳng biết cô ta có làm Harry bớt cô đơn. Tôi thấy nghi ngờ điều đó. Tôi nghĩ cả hai người đã làm những việc mà họ được trông đợi phải làm. Harry lẽ ra không nên nốc nhiều như thế. Bao tử anh ta không kham nổi – những vỉ thuốc bao tử trong sọt rác. Tôi đoán ngành kinh doanh của anh ta chắc là rất nhạy cảm và có hại cho bao tử. Harry Cô độc hẳn đã uống nốt chai rượu sau khi Lucille ra về. Anh ta đã bị một cơn khó ở – hai ống Bromo Seltzer[4] trong phòng tắm.
Có ba điều ám ảnh tôi về Harry Cô độc. Thứ nhất, tôi nghĩ anh ta cũng chẳng vui vẻ gì; thứ hai, tôi nghĩ anh ta thực sự cô đơn, có khi đã đến tình trạng mãn tính mất rồi; thứ ba, anh ta không làm bất kỳ điều gì mà không thể dự đoán trước: không đập bể chiếc ly hay tấm gương, không có hành động bạo lực nào, không để lại dấu vết vật chất nào của sự vui thú. Tôi đã đi tập tễnh quanh phòng với chỉ một bên giày được tháo, để tìm hiểu về Harry. Tôi thậm chí còn xem xét dưới gầm giường và trong tủ áo. Anh ta thậm chí còn không bỏ quên chiếc cà-vạt. Tôi cảm thấy buồn cho Harry.
❀ ❀ ❀
[1] Drive-in movie – bãi chiếu phim dành cho những người đi xe, có thể lái xe vào và ngồi trên xe xem phim.
[2] Tổng thống thứ 16 của nước Mỹ, giai đoạn 1861-1865.
[3] Một loại whisky chưng cất ở Boston, Kentucky.
[4] Một loại thuốc chống thuốc rối loạn tiêu hóa và nhức đầu, thường dùng cho người say rượu.