Đoạn kế tiếp trong cuộc hành trình của tôi là một câu chuyện tình. Tôi si tình Montana. Với các bang khác, tôi thấy khâm phục, nể nang, thừa nhận, thậm chí có ít nhiều tình cảm, nhưng với Montana thì tôi yêu, và thật khó mà giải thích vì sao bạn yêu một khi bạn đang yêu. Có lần, khi thấy tôi ngất ngây trong vầng hào quang màu tím của Người đẹp lòng tôi, cha tôi đã hỏi tôi vì sao, và tôi đã nghĩ ông ấy chắc là điên mới không nhận ra. Giờ thì tôi biết cô ta khi đó chỉ là một cô bé tóc bù xù, mũi tàn nhang, đầu gối đầy nốt ghẻ, chất giọng như loài dơi, và sự tử tế đáng yêu thì giống như loài thằn lằn độc. Nhưng lúc đó cô ta phủ hào quang khắp xung quanh và cả lên chính tôi. Với tôi, Montana có vẻ như là một kỳ quan vĩ đại nhất. Kích thước của nó khổng lồ nhưng không đến mức áp chế. Miền đất ấy rất giàu cỏ cây và màu sắc. Và những ngọn núi của nó chính là loại mà tôi muốn tạo ra nếu như có quyền năng sáng tạo. Montana với tôi cũng giống như những tưởng tượng của một cậu bé về Texas qua lời kể của một người Texas[1]. Tại đây, lần đầu tiên tôi nghe thấy những phát âm đích thực địa phương, không hề bị truyền hình tác động, một thứ phát âm chậm rãi và ấm áp. Có vẻ như sự bùng phát điên cuồng của nước Mỹ không với tới Montana. Người dân ở đây có vẻ không sợ cái bóng của những nhóm kiểu như John Birch Society[2]. Sự tĩnh tại của những ngọn núi và đồng cỏ bạt ngàn đã thẩm thấu vào người dân. Tôi lái xe qua bang này vào giữa mùa săn bắn. Những người đàn ông mà tôi nói chuyện không có vẻ gì đang lao vào một cuộc tàn sát theo mùa, mà chỉ đơn giản đi săn để lấy thịt ăn. Một lần nữa, thái độ của tôi có thể bị tình yêu chi phối, nhưng tôi cảm thấy các thị trấn ở đây là những nơi để sống chứ không phải là những tổ ong chộn rộn. Người dân có thời gian dừng tay khỏi công việc để trao cho nhau tình láng giềng hòa thuận.
Tôi nhận ra mình không vội vã đi qua các thị trấn để chúng khuất mắt. Tôi thậm chí nhận ra tôi đã mua những thứ lặt vặt chỉ để nấn ná ở lại. Ở Billings, tôi mua một chiếc nón, ở Livingston tôi mua một chiếc áo khoác, ở Butte, tôi mua một khẩu súng trường mà chẳng đặc biệt cần đến. Đó là một khẩu Remington .222 dùng then trượt, tuy là hàng xài rồi nhưng trong tình trạng tốt. Rồi tôi tìm ra một ống ngắm mà tôi cần, và chờ người ta lắp vào súng cho tôi. Trong thời gian này tôi đã làm quen được với tất cả mọi người trong cửa hiệu và tất cả mọi khách hàng bước vào đó. Súng đã lắp ống ngắm và gỡ then trượt, chúng tôi ngắm vào một mục tiêu trên ống khói cách đó ba lô đất, và sau này, khi tôi có dịp dùng đến khẩu súng nhỏ này, tôi thấy chẳng có lý do gì phải thay súng mới cả. Tôi dành phần lớn buổi sáng cho chuyện này, chủ yếu vì tôi muốn nấn ná thôi. Nhưng tôi hiểu rằng tình yêu, như muôn thuở, là không thể giãi bày được. Montana đã bỏ bùa tôi. Nó quá kỳ vĩ và ấm áp. Nếu Montana mà có bờ biển hoặc nếu tôi sống được xa bờ biển, tôi sẽ lập tức dọn đến đó và nộp đơn xin thường trú. Trong tất cả các bang, đó là bang tôi ưa thích và yêu mến nhất.
Tại Custer, chúng tôi rẽ xuống phía nam để tưởng niệm tướng Custer và tù trưởng Sitting Bull tại chiến trường Little Big Horn. Tôi không tin có người Mỹ nào không ghi tạc trong tâm trí bức tranh của Remington vẽ về đợt phòng thủ cuối cùng của đội hình trung tâm của Lữ đoàn kỵ binh số 7. Tôi ngả nón tưởng niệm những con người quả cảm, và Charley cũng chào theo kiểu cách của nó, nhưng tôi tin là cũng rất thành kính.
Toàn bộ miền Đông Montana và miền Tây Dakota trong ký ức xưa thuộc về xứ Injun, mà thật ra ký ức đó cũng chẳng xa xưa mấy. Vài năm trước đây, tôi có một người hàng xóm tên là Scott Wood, tác giả của cuốn Heavenly Discourse[3]. Lúc tôi quen ông ta thì ông ta đã là một ông cụ rất già, nhưng hồi là một trung úy trẻ vừa tốt nghiệp học viện quân sự, ông đã được điều động đến chỗ tướng Miles và phục vụ trong chiến dịch Chief Joseph[4]. Ký ức của ông ta rất sống động và đau thương. Ông ta nói đó là một cuộc rút lui hào hoa nhất trong toàn bộ lịch sử. Chief Joseph và các chiến binh Nez Percés cùng phụ nữ, trẻ em, chó và toàn bộ tài sản của họ đã rút lui, vượt qua hàng ngàn dặm để trốn sang Canada dưới đạn pháo dữ dội. Ông Wood nói họ chiến đấu với muôn vàn khó khăn trên từng bước đi, cho đến khi cuối cùng bị vây hãm bởi đội kỵ binh dưới quyền tướng Miles, và phần lớn đoàn người đã bị quét sạch. Theo ông Wood, đó là nhiệm vụ đau buồn nhất mà ông phải thực thi, và ông chưa bao giờ thôi khâm phục tinh thần chiến đấu của người Nez Percés. “Nếu họ không phải gồng gánh gia đình thì chúng tôi sẽ chẳng bao giờ bắt kịp họ”, ông nói. “Và nếu người và vũ khí của hai bên là ngang nhau thì chúng tôi sẽ chẳng đời nào đánh bại được họ. Họ là những người đàn ông”, ông ta nói, “Những người đàn ông thực thụ”.
❀ ❀ ❀
[1] Texas là nơi nổi tiếng với những huyền thoại về cao bồi.
[2] Một nhóm cấp tiến khuynh hữu vừa chủ trương chống cộng, vừa muốn hạn chế quyền lực của chính quyền và gia tăng tự do cá nhân.
[3] Trò chuyện thiên đường.
[4] Biệt danh của tù trưởng da đỏ Hin-mah-too-yah-lat-kekt, sinh năm 1840, mất năm 1904, thuộc nhánh Wallowa của bộ lạc Nez Percés. Tướng Oliver O. Howard đã toan cưỡng chế nhánh của ông và những nhánh Nez Percés “không tham gia hiệp ước”, buộc họ rời đặc khu người da đỏ ở Idaho. Chief Joseph đã kháng cự lại quyết liệt và trở thành biểu tượng cho chính nghĩa.