Tôi, Charley Và Hành Trình Nước Mỹ

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 24 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
3

❊ ❊ ❊

Quả nhiên có một tấm biển ở Sauk Centre ghi: “Nơi sinh của Sinclair Lewis”.

Vì lý do nào đó, tôi đi nhanh qua nơi ấy rồi quay sang hướng bắc, theo đường 71 đến Wadena. Trời chuyển tối nên tôi cố rướn đi tới Detroit Lakes. Có một khuôn mặt luôn ở phía trước tôi, một khuôn mặt gầy gò, nhăn nheo giống như trái táo ngâm quá lâu trong thùng, một khuôn mặt cô đơn và sầu não vì đơn côi.

Tôi không quen thân ông ta, chưa từng biết ông ta trong những ngày sôi sục lúc ông được gọi là Red. Vào khoảng cuối đời, ông ta có gọi tới New York cho tôi vài lần và lẽ ra chúng tôi hẹn ăn trưa với nhau ở Algonquin. Tôi gọi ông ta là Ông Lewis, và trong thâm tâm tôi vẫn tiếp tục gọi như thế. Ông ta đã thôi rượu và và không còn vui thú gì nữa trong chuyện ăn uống, nhưng cả bây giờ lẫn khi ấy cặp mắt ông ta vẫn lấp lánh ánh thép.

Tôi đã đọc cuốn Main Street hồi còn học phổ thông, và tôi vẫn nhớ như in sự căm thù sôi sục mà cuốn sách đã gây ra ở ngay chính quê hương nơi ông ta sinh thành. Ông ta có trở lại nơi đó không?

Chỉ thảng hoặc đi ngang qua mà thôi. Một cây bút tốt là một cây bút đã chết. Khi đó, ông ta sẽ không còn làm ngạc nhiên ai nữa, không còn làm tổn thương ai nữa. Lần cuối cùng chúng tôi gặp nhau, ông ta thậm chí còn nhăn nheo hơn thế. Ông nói, “Tôi lạnh. Hình như lúc nào tôi cũng lạnh. Tôi đi sang Ý đây”.

Ông ta làm vậy thật, và ông đã chết ở đó. Chẳng biết có đúng hay không nhưng tôi nghe nói ông ta đã chết trong cô đơn. Và giờ thì ông ta làm lợi cho thị trấn, đem khách du lịch đến. Bây giờ thì ông ta đã là một cây bút tốt rồi.

Rocinante mà còn chỗ thì tôi đã đem theo bộ WPA. Guides to the States[1] gồm nguyên bốn mươi tám tập của nó. Tôi có đầy đủ cả bộ, gồm cả một số tập rất hiếm. Nếu tôi nhớ không lầm thì Bắc Dakota chỉ in có tám trăm bản và Nam Dakota in chừng năm trăm bản. Bộ sách này bao gồm những mô tả toàn diện và đầy đủ nhất về Hoa Kỳ, và từ đó đến nay chưa có một bộ sách nào sánh ngang được. Nó được soạn thảo trong thời kỳ suy thoái bởi những cây bút bậc thầy của nước Mỹ, vốn là những người chịu tác động của suy thoái nặng nề hơn bất kỳ nhóm người nào khác, trong khi vẫn phải đáp ứng cái bản năng ăn uống bất di bất dịch của họ. Nhưng những tập sách này không được lòng phe đối lập với Ông Roosevelt[2]. Nếu như các công nhân của WPA. chỉ cậy vào những chiếc xẻng thì các nhà văn chỉ cậy vào ngòi bút của họ mà thôi. Kết quả là, ở một số bang, bản kẽm đã bị đập phá chỉ sau khi mới in ra vài bản, và điều này quả là đáng hổ thẹn vì đó là cả một kho thông tin có tổ chức, được chú dẫn và được viết lách mượt mà, bao gồm cả các lĩnh vực như địa lý, lịch sử và kinh tế. Lấy ví dụ, nếu như tôi đem theo bộ sách hướng dẫn đó, thì tôi đã dò tìm Detroit Lakes ở Minnesota, nơi tôi dừng chân, và tôi sẽ biết được do đâu có cái tên Detroit Lakes, ai đặt ra cái tên đó, khi nào và tại sao. Tôi đã dừng lại gần nơi đó vào đêm khuya và Charley cũng vậy. Và tôi chẳng biết gì về nó nhiều hơn là Charley. Ngày kế tiếp, một tham vọng ấp ủ từ lâu đã đơm hoa kết trái.

Thật là thú vị khi có một nơi chẳng ai thăm viếng nhưng lại khắc sâu trong tâm trí đến mức ngay cả cái tên của nó không thôi nghe cũng vang vọng. Với tôi thì nơi đó chính là Fargo[3], Bắc Dakota. Có lẽ tác động đầu tiên là ở chính cái tên Wells-Fargo[4], nhưng dĩ nhiên mối quan tâm của tôi còn vượt xa hơn nữa. Nếu bạn lấy một tấm bản đồ nước Mỹ rồi xếp đôi nó lại ở giữa, mép tây khớp vào với mép đông, rồi miết cho kỹ, thì Fargo nằm ở ngay nếp gấp. Trên các bản đồ in trang đôi, Fargo thường bị thất lạc ở phần kết nối trang. Đó không phải là một phương pháp khoa học cho lắm để tìm ra cái phần nằm giữa hai cực đông-tây của đất nước, nhưng nó lại rất hiệu quả. Nhưng ngoài chuyện này ra, với tôi Fargo còn là người anh em của những nơi trứ danh khác trên trái đất, có dây mơ rễ má với những địa điểm xa xăm huyền ảo mà Herodotus[5], Marco Polo[6] và Mandeville[7] từng nhắc đến. Theo trí nhớ của tôi, nói về lạnh thì Fargo chính là nơi lạnh nhất trên lục địa, còn nói về nóng thì Fargo cũng nóng chẳng thua bất cứ nơi nào nóng nhất. Về ẩm cũng thế, về khô cũng thế và về độ ngập trong tuyết thì cũng thế. Dù gì thì điều đó cũng gây ấn tượng cho tôi. Nhưng tôi biết có đến hàng tá hay thậm chí dăm ba chục thị trấn sẽ ấm ức kịch liệt phản đối tôi bằng những lý lẽ và số liệu cho thấy chúng mới chính là nơi có khí hậu nghiệt ngã nhất, thậm chí còn hơn cả Fargo nữa. Để xoa dịu những tổn thương, tôi phải thừa nhận rằng khi tôi đi ngang qua Moorhead, Minnesota, và lái nhanh qua sông Red River để đến Fargo ở bờ bên kia, thì đó là vào một ngày thu vàng và cái thị trấn đó cũng đầy nghẹt xe, cũng nhấp nháy ánh đèn neon, cũng huyên náo và nhộn nhịp với các loại hoạt động như tất cả những thị trấn cỡ bốn mươi sáu ngàn dân đang tồn tại và sẽ mọc lên. Vùng đồng quê cũng chẳng khác mấy so với Minnesota ở bên kia sông. Tôi lái xe đi qua thị trấn như thường lệ, chẳng thấy được gì nhiều ngoài cái xe tải ở phía trước tôi và chiếc Thunderbird[8] ở trong kính chiếu hậu. Thật là tồi tệ khi một huyền thoại bị rung rinh. Phải chăng điều đó cũng giống như những gì mà Samarkand hay Cathay hoặc Cipango sẽ hứng chịu nếu như được viếng thăm? Ngay khi tôi vượt ra vùng ngoại ô – cái vòng ngoài khúc khuỷu chỉ toàn xe và kính – và băng qua Mapleton, tôi tìm được một nơi dễ chịu để dừng xe bên sông Maple, cách không xa Alice – một cái tên thị trấn thật dễ thương, Alice. Dân số của nó là 162 người vào năm 1950 và 124 người vào cuộc điều tra dân số gần đây nhất. Sự bùng nổ dân số của Alice là như vậy đấy. Dù sao chăng nữa, bên sông Maple, tôi đã lái xe vào một bãi nhỏ nằm nhô ra sông mọc toàn một loại cây mà tôi nghĩ là ngô đồng, và dừng lại liếm láp những vết thương tưởng tượng của mình. Và tôi vui sướng nhận ra sự thật là Fargo vẫn không hề làm khuấy động bức tranh tâm tưởng của tôi về nó. Tôi vẫn có thể nghĩ về Fargo như tôi luôn hằng nghĩ – nứt nẻ vì bão tuyết, khô héo vì cái nóng, đỏ lòm vì bụi. Tôi thấy sung sướng khi có thể nói rằng trong cuộc chiến giữa thực tại và mộng tưởng, thực tại không phải là phía mạnh hơn.

Mặc dù mới chỉ giữa buổi sáng, tôi vẫn nấu cho mình một bữa ăn hoành tráng, nhưng không sao nhớ nổi là món gì. Charley, vẫn còn vết tích của lần chải chuốt ở Chicago, lội bì bõm dưới nước và trở lại thành chính nó, chó già Charley dơ bẩn.

Sau những tiện nghi và bầu bạn ở Chicago, tôi cần phải học cách sống đơn độc trở lại. Tôi cũng mất chút ít thời gian. Nhưng tại đây, bên sông Maple này, cách không xa Alice, cái khả năng đó mới thực sự trở về. Charley đã tha thứ cho tôi theo cái cách trịch thượng ghê tởm của nó, nhưng giờ thì nó mới bình thường trở lại. Cái phần đất nhô ra sông này thật là dễ chịu. Tôi bê ra chiếc máy giặt-thùng rác và xả nước chỗ quần áo đã được cho nhảy múa trong nước xà-bông hai ngày qua. Và rồi, do có một luồng gió dễ chịu lùa qua, tôi lấy khăn giường ra phơi trên các lùm cây thấp. Chẳng biết đó là loại cây gì, nhưng lá của nó có mùi thơm giống như cây đàn hương, mà khăn giường thơm tho là điều mà tôi mê ly nhất trần đời. Tôi ghi chú vài điều trên một tấm giấy vàng về tính chất và phẩm chất của sự đơn độc. Theo quy luật thông thường, những ghi chú này rồi sẽ bị thất lạc vì các ghi chú luôn thất lạc, nhưng những ghi chú lần này đã sống rất dai nhờ được bọc quanh chai sốt cà chua và cột lại bằng dây thun. Ghi chú đầu tiên là: “Quan hệ giữa thời gian và sự đơn độc”. Và tôi vẫn còn nhớ điều đó. Có người đồng hành thì bạn sẽ bị cố định trong thời gian: thời hiện tại, còn khi phẩm chất của sự đơn độc được xác lập thì quá khứ, hiện tại, tương lai sẽ tuôn chảy cùng nhau. Ký ức, sự kiện hiện tại và dự báo tương lai đều hiện hữu một cách bình đẳng.

Ghi chú thứ hai bị lem nhem bởi nước sốt cà, nhưng ghi chú thứ ba mới thật là bàng hoàng. Nội dung của nó như sau: “Trở lại với căn bản của hạnh phúc và khổ đau”, và đó là điều rút ra từ quan sát của tôi ở một thời kỳ khác.

Nhiều năm trước đây, tôi đã từng có chút kinh nghiệm sống đơn độc. Trong hai năm liên tiếp, tôi đã sống một mình vào mùa đông suốt tám tháng ròng ở một quãng núi Sierra Nevada trên hồ Tahoe. Khi ấy tôi là người trông nom một biệt thự mùa hè trong những ngày mùa đông khi nó bị tuyết phủ. Và lúc đó tôi đã có vài quan sát. Khi thời gian trôi đi, tôi thấy các phản ứng của tôi cứ tích tụ dần lại. Thông thường thì tôi là người hay huýt sáo. Tôi bỗng ngừng huýt sáo. Tôi ngừng trò chuyện với những con chó của tôi và tin rằng những cảm xúc tinh tế bắt đầu tan biến, cho đến khi tôi lui về với căn bản của hạnh phúc và khổ đau. Rồi tôi chợt nảy ra ý nghĩ là những sắc thái tinh tế của cảm xúc, của phản ứng là kết quả của sự giao tiếp, và không có sự giao tiếp thì những sắc thái đó sớm muộn gì cũng tan biến. Một người không có gì để nói thì sẽ chẳng có ngôn từ. Liệu nói đảo lại một chút thì có đúng hay không nhỉ – một người không có ai để nói chuyện thì sẽ không có ngôn từ vì anh ta có cần gì đâu đến ngôn từ? Xưa nay vẫn có những chuyện kể về những em bé được nuôi bởi thú vật, như chó sói chẳng hạn. Người ta thường kể lại rằng những đứa bé ấy bò bằng cả tứ chi, phát ra những âm thanh học được từ những cha mẹ nuôi của chúng, và có lẽ mang cả những suy nghĩ của sói. Chỉ qua sự bắt chước mà chúng ta mới phát triển thành cái độc đáo riêng. Lấy Charley làm ví dụ. Nó luôn được gắn với sự có học, hiền hòa, có văn hóa, hợp lẽ của cả Pháp lẫn Mỹ. Và Charley không còn giống như một con chó đích thực, cũng chắc chắn như nó không thể giống con mèo vậy. Nhận thức của nó sắc bén và tinh tế và nó đọc được cả suy nghĩ. Tôi không rõ nó có đọc được suy nghĩ của những con chó khác hay không, nhưng rõ ràng là nó đọc được suy nghĩ của tôi. Trước cả khi một kế hoạch được hình thành phân nửa trong tâm trí tôi thì Charley đã biết tỏng cả rồi. Nó còn biết khi nào thì nó bị lôi vào cuộc nữa kìa. Chuyện này là chắc chắn. Tôi hiểu quá rõ cái nhìn tuyệt vọng và hờn dỗi của nó khi tôi vừa chợt nghĩ sẽ để nó lại nhà. Vậy là đã quá đủ cho ba câu ghi chú dưới lớp sốt màu đỏ của một chai sốt cà.

Chẳng mấy chốc, Charley đã xuôi theo con sông và tìm ra vài túi rác đựng đồ vứt đi, mà nó kiểm tra, phân biệt mùi vị bằng khứu giác của mình. Nó đánh hơi một hộp đậu rỗng, ngửi ngửi bên trong, rồi bỏ đi chỗ khác. Rồi nó ngoạm một chiếc bao giấy, lắc giũ nhè nhẹ để những kho báu bên trong tuôn ra ngoài, trong đó có một mảnh giấy trắng dày bị vo tròn.

Tôi trải nó ra và vuốt phẳng những nếp nhăn giận dữ trên bề mặt của nó. Đó là một trát tòa gửi đến Jack Gì-gìđó, thông báo rằng nếu anh ta không chịu trả khoản tiền cấp dưỡng cần phải trả thì coi như anh ta phạm tội không chấp hành pháp luật và sẽ bị trừng phạt. Tòa nằm ở một bang miền Đông, mà đây lại là Bắc Dakota. Một anh chàng đáng thương đang đào tẩu. Anh ta không nên để vương vãi lung tung cái vết tích này, lỡ có ai đó đang truy lùng anh ta. Tôi lôi ra chiếc bật lửa Zippo, châm lửa đốt cái bằng cớ đó với đầy đủ nhận thức rằng tôi đang vi phạm pháp luật. Ôi, Chúa lòng lành, những vết tích mà chúng ta để lại! Giả dụ có ai đó tìm thấy chai nước sốt cà này và cố tái lập tôi từ các ghi chú thì sao nhỉ? Tôi giúp Charley lục lọi mớ rác, nhưng chẳng còn thứ gì có chữ viết nữa, chỉ toàn là những vỏ hộp thức ăn nấu sẵn. Anh chàng này không biết nấu nướng. Anh ta sống bằng thức ăn đóng hộp, nhưng có lẽ cô vợ cũ của anh ta cũng thế thôi.

Lúc này chỉ mới sau giấc trưa một chút, nhưng tôi thấy thoải mái dễ chịu đến mức chẳng muốn đi. “Ta qua đêm ở đây nhé, Charley?” Nó dò xét tôi và ngúc ngoắc chiếc đuôi giống một ông giáo sư đang khua khua cây viết – một ngoắc sang trái, một ngoắc sang phải, rồi trở lại giữa. Tôi ngồi trên bờ, cởi cả giày lẫn vớ, nhúng đôi chân vào dòng nước lạnh đến mức rát bỏng tận thẳm sâu và làm tê dại cảm giác. Mẹ tôi tin rằng ngâm chân vào nước lạnh sẽ làm cho máu dâng lên đầu và nhờ vậy mà người ta suy nghĩ tốt hơn. “Đến lúc đi thám thính rồi đó, anh bạn già”, tôi nói thành lời, “nói cách khác là tao cảm thấy biếng nhác một cách thoải mái. Tao làm chuyến du hành này để học hỏi vài điều về nước Mỹ. Tao có học được gì chưa nhỉ? Nếu có thì tao vẫn chưa biết đó là điều gì cả. Đến giờ liệu tao có thể trở về với một chiếc túi đầy ắp những kết luận, một mớ những câu trả lời cho những thứ bí ẩn? Tao ngờ lắm, nhưng biết đâu. Nếu tao sang châu Âu, người ta hỏi tao nước Mỹ như thế nào thì tao biết nói sao? Tao cũng chả biết nữa. Thôi được, mày cứ dùng cái phương pháp điều tra bằng khứu giác của mày đi, mày tìm hiểu được gì hả anh bạn?”

Hai cái vẫy đuôi hẳn hoi. Chí ít nó đã không phớt lờ câu hỏi này.

“Cho đến nay có phải cả nước Mỹ đều có mùi giống nhau không? Hay có nhiều mùi cục bộ?” Charley bắt đầu quay vòng vòng về bên trái, rồi trở ngược quay tám vòng về bên phải trước khi nằm xuống, gác mõm lên chân và để chiếc đầu của nó trong tầm tay của tôi. Nó đã trải qua một khoảng thời gian khó khăn. Hồi nó còn trẻ, một chiếc xe đã tông vào nó làm nó gãy xương hông, phải bó bột mất một thời gian dài. Giờ vào thời kỳ vàng son, cái hông lại làm khó cho nó mỗi khi nó thấm mệt. Sau mỗi cuộc chạy quá dài nó thường đi cà nhắc bằng cẳng sau bên phải. Nhưng do cái vụ quay vòng vòng trước khi đi nằm nên đôi khi chúng tôi gọi nó là chú chó xù xoắn tít, thật là không đẹp chút nào. Nếu cái quy luật của mẹ tôi là đúng thì tôi đang suy nghĩ rất tốt. Nhưng bà còn bảo, “Chân lạnh thì tim ấm”. Và đó lại là vấn đề khác.

Tôi đậu xe cách xa mặt đường và xe cộ để được thong thả nghỉ ngơi và ôn lại mọi sự. Tôi rất nghiêm túc trong chuyện này. Tôi sẽ không dẹp sang bên sự biếng nhác của mình vì một số chuyện tiếu lâm vui vẻ. Tôi đã lên đường với ước vọng muốn tìm hiểu nước Mỹ. Và tôi không dám chắc mình có đang học hỏi được điều gì không. Tôi thấy mình đang trò chuyện thành tiếng với Charley. Tôi thích ý tưởng này, nhưng việc thực hành nó lại khiến cho Charley buồn ngủ.

“Tán dóc một chút nhé, ta hãy thử một chút thứ mà mấy cu cậu con tao thường gọi là những câu chuyện nhảm. Nhảm lớn, nhảm bé. Hãy nói về thức ăn đi nhé. Có rất nhiều khả năng là ở các thành phố mà chúng ta đã đi qua – những nơi giao thông phiền toái – có các nhà hàng ngon lạ với những bản thực đơn hết ý. Nhưng ở các nơi ăn uống dọc đường thì thức ăn luôn sạch sẽ, không mùi, không màu, và nơi nào cũng y chang như nhau. Cứ như thể khách hàng không quan tâm mình ăn thứ gì miễn sao nó không có những đặc tính khiến cho họ lo lắng. Điều đó đúng cho tất cả các nơi ấy, ngoại trừ bữa điểm tâm là ngon một cách đồng bộ nếu như ta trung thành với món thịt xông khói với trứng và khoai tây chiên chảo. Ở các quán ven đường, tao chưa bao giờ có một bữa tối thực sự ngon miệng và một bữa điểm tâm thực sự dở. Thịt xông khói và xúc xích là những món ăn ngon được đóng gói sẵn ở nhà máy, còn trứng thì tươi hoặc được giữ cho tươi trong tủ lạnh, mà giữ đồ trong tủ lạnh lại là chuyện quá phổ biến rồi”. Tôi thậm chí có thể nói các quán ăn ven đường của Mỹ là thiên đàng cho bữa điểm tâm, chỉ có duy nhất một điều như sau. Đôi lúc tôi thấy những tấm biển ghi “xúc xích nhà làm” hoặc “thịt lưng và thịt đùi được xông khói tại nhà” hoặc “trứng gà mới đẻ”, thế là tôi dừng xe và mua ngay để dự trữ. Rồi khi tự làm bữa sáng và tự pha cà phê, tôi thấy sự khác biệt lập tức hiện ra. Trứng gà mới đẻ ngon hơn xa cái loại trứng nhợt nhạt, được sản xuất hàng loạt và cất giữ trong tủ lạnh. Món xúc xích thì ngọt, cay và hăng hơn nhờ gia vị, còn món cà phê thì là cả một niềm hạnh phúc đen sánh. Thế thì liệu tôi có thể nói rằng nước Mỹ tôi chứng kiến đã đặt sự sạch sẽ lên trên tất cả, hy sinh luôn hương vị? Và – do các dây thần kinh cảm nhận của chúng ta, bao gồm cả vị giác, không chỉ giúp ta cảm thụ mà còn có khả năng gây sốc cho chúng ta – liệu khẩu vị có đang trên đà biến mất và những hương vị nồng, hăng hay lạ lẫm sẽ gây ra những nghi ngờ, ghét bỏ và vì vậy mà cần phải loại trừ?

“Ta hãy đi xa hơn chút nữa sang các lĩnh vực khác, Charley nhỉ. Hãy bàn về những cuốn sách, tạp chí và báo mà ta vẫn thấy bày bán ở những nơi ta dừng chân. Loại ấn phẩm thống trị là truyện tranh. Có nhiều tờ báo địa phương và tao đã mua đọc. Có cả hàng lô lốc những cuốn sách bìa mềm mang những cái tựa rất tuyệt, rất hay nhưng bên trong thì tràn ngập về dung lượng những câu chuyện về tình dục, bạo dâm, và giết người. Báo chí ở các thành phố lớn thì phủ bóng lên các khu vực rộng lớn xung quanh nó. Tờ New York Times phủ khắp vùng Great Lakes, tờ Chicago Tribune thì phủ từ đây đến tận Bắc Dakota. Này, Charley, tao cảnh báo cho mày biết, nếu mày cứ bị lôi kéo bởi những thứ phổ biến. Nếu những người đó cứ bào mòn cái mầm khẩu vị của họ bằng những loại thức ăn không mùi và không chỉ chấp nhận mà còn yêu thích chúng, thì thử hỏi đời sống cảm xúc của dân tộc này sẽ như thế nào? Liệu họ có thấy cái cảm xúc khẩu vị của họ là nhạt nhẽo cho nên phải dặm thêm vào đó những câu chuyện tình dục và bạo dâm qua trung gian những cuốn sách bìa mềm? Và nếu quả là như thế thì cớ sao lại không có những gia vị trừ sốt cà và mù tạc ra để làm tăng hương vị những món ăn của họ?

“Dọc suốt đất nước, chúng ta đã nghe nhiều đài phát thanh địa phương. Ngoài một số ít tường thuật về các trận bóng bầu dục, những chất liệu bồi dưỡng tinh thần cũng phổ biến, cũng đóng gói, và cũng thiếu bản sắc y hệt như thức ăn vậy”. Tôi lấy chân hích Charley để giữ cho nó tỉnh.

Tôi rất chăm chú lắng nghe người ta nghĩ thế nào về chính trị. Những người mà tôi gặp không hề nói về đề tài này, và có vẻ như cũng chẳng muốn nói. Theo tôi đó một phần là do sự cẩn trọng, và một phần là do sự thờ ơ, nhưng những ý kiến mạnh mẽ đơn giản là không hề được bày tỏ. Một chủ tiệm thừa nhận với tôi rằng ông ta phải lo buôn bán đến đầu tắt mặt tối, lấy đâu ra cho mình cái ý kiến cá nhân xa xỉ đó. Đó là một người đàn ông xám xịt trong một cửa hiệu nhỏ xám xịt nằm ở ngã tư đường, nơi tôi mua hộp bánh quy cho chó và một hộp thuốc rê cho tẩu thuốc. Người đàn ông đó, cửa hiệu đó có thể xuất hiện ở bất cứ nơi đâu trên đất nước này, nhưng thật ra cuộc đối thoại này xảy ra từ hồi ở Minnesota. Người đàn ông có một tia đăm chiêu màu xám trong ánh mắt như thể ông ta nhớ ra một sự khôi hài nào đó khi nó không trái pháp luật, vì vậy tôi đánh bạo dò hỏi. Tôi nói, “Có vẻ như cái bản chất hay sinh sự của dân ta đã chết ngủm cả rồi. Nhưng tôi không tin như thế. Nó chỉ chuyển qua một kênh khác thôi. Này ông, ông có nghĩ ra đó là kênh nào không?”

“Ý ông là họ quậy nơi đâu chứ gì?”

“Họ quậy ở nơi đâu?”

Tôi đã không lầm. Sự long lanh vẫn còn đó, cái ánh mắt quý giá, ẩn chứa sự hài hước.

“Được thôi, thưa ông”, ông ta nói, “lúc này lúc nọ, ta luôn có một tên sát nhân ở đâu đó, hoặc ta có thể đọc về chúng. Rồi ta có World Series[9]. Ông có thể nổi bão lên mỗi lần đội Pirates hay đội Yankees ra quân. Nhưng tôi nghĩ điều hay nhất là ta có bọn Nga[10]”.

“Bà con máu me chuyện này lắm hả?”

“Ồ, dĩ nhiên! Hiếm có ngày nào trôi qua mà không có ai đó chửi bới bọn Nga”. Vì lý do nào đó ông ta trở nên xởi lởi hơn, thậm chí còn tự cho phép mình một tiếng cười khan vốn dễ dàng chuyển thành một tiếng đằng hắng nếu như bắt gặp một phản ứng không hay từ phía tôi.

Tôi hỏi, “Có ai biết người Nga nào sống quanh đây không?”

Và bây giờ ông ta mới bật hết ra, cười lên thành tiếng. “Dĩ nhiên là không. Chính vì thế mà chúng mới có giá. Ông mà chửi bọn Nga thì không ai chê trách gì ông đâu”.

“Vì chúng ta không làm ăn gì với chúng à?”

Ông ta nhặt con dao xắt phô-mai từ quầy hàng, tỉ mẩn liếc ngón cái dọc lưỡi dao rồi đặt con dao xuống. “Có thể là như vậy. Với George thì có thể là như vậy. Ta không làm ăn gì với chúng”.

“Vậy ông nghĩ ta có thể dùng bọn Nga làm chỗ xả cho chuyện gì khác à?”

“Tôi chưa từng nghĩ vậy, nhưng chắc là tôi sẽ nghĩ như thế thôi. Sao không nhỉ, tôi còn nhớ cái hồi người ta xả hết mọi thứ lên đầu Ông Roosevelt. Andy Larsen tức Roosevelt đến đỏ tía cả mặt cái hồi đàn gà của ông ta bị mắc bệnh hen. Đúng đấy, thưa ông”. Ông ta càng nói càng nhiệt tình, “Bọn Nga gặp rắc rối to rồi đấy. Đàn ông mà cãi cọ với vợ là lôi ngay bọn Nga ra chửi”.

“Có lẽ tất cả mọi người đều cần bọn Nga. Tôi dám cá là ngay cả bọn Nga cũng cần bọn Nga. Có lẽ họ gọi là bọn Mỹ”.

Ông ta cắt ra một khoanh từ bánh phô-mai, chìa cho tôi trên lưỡi dao. “Ông đã cho tôi vài thứ để nghiền ngẫm”.

“Tôi tưởng là ông cho tôi ấy chứ”.

“Cho ông cách nào?”

“Thì về chuyện làm ăn và các ý kiến cá nhân đó”.

“Vâng, có thể là vậy. Ông biết tôi sẽ làm gì không? Lần sau Andy Larsen mà đến đây với cái mặt đỏ bừng thì tôi sẽ tìm hiểu xem bọn Nga có quấy rầy gì đàn gà của ông ta không. Ông Roosevelt qua đời là một tổn thất lớn cho Andy đấy”.

Giờ thì tôi sẽ không nói một số lượng khổng lồ dân ta cảm nhận sự việc giống như người đàn ông này. Có thể là không và cũng có thể là có. Cũng còn tùy vào chỗ riêng tư hay trong những lĩnh vực phi kinh doanh.

Charley ngóc chiếc đầu, rống lên lời cảnh báo mà chẳng buồn nhổm dậy. Rồi tôi nghe tiếng động cơ đến gần. Tôi định đứng lên thì phát hiện chân tôi từ lâu đã tê dại do ngâm trong nước lạnh. Đôi chân tôi chẳng còn cảm giác gì nữa. Trong khi tôi xoa bóp chúng và cảm giác đau thức tỉnh khi tiếp xúc với lá kim, một chiếc xe hơi kiểu cổ tiến tới. Nó kéo theo một toa kép khá ngắn, trông ì ạch như một con rùa đang la lết từ ngoài đường vào. Chiếc xe chọn một vị trí ở ven sông, cách chỗ chúng tôi chừng bốn mươi lăm mét. Tôi thấy bực bội với sự xâm phạm cõi riêng tư này, nhưng Charley thì sung sướng ra mặt. Trên những cẳng chân cứng cáp, nó đến thăm dò những kẻ mới tới bằng những bước nhỏ điệu đàng, ra cái điệu bộ của cả chó lẫn người, không nhìn thẳng vào đối tượng quan tâm. Mặc dù tôi có vẻ giễu cợt Charley, nhưng hãy nhìn xem tôi làm gì trong nửa giờ sau đó và người hàng xóm của tôi làm gì. Mỗi bên đều lo việc riêng của mình với một sự chậm rãi cố tình, cố gắng không nhìn sang phía bên kia, nhưng đồng thời cũng lén lút liếc sang, lường định, đánh giá. Tôi thấy một người đàn ông không già không trẻ, nhưng có bước chân hoạt bát, nhún nhảy. Ông ta mặc một chiếc quần màu xám ô-liu và áo khoác da. Trên đầu ông ta là chiếc nón cao bồi với chóp phẳng, vành nón được bẻ lên và cột vào chóp bằng chiếc dây quai. Ông ta có khuôn mặt cổ điển, và dù ở xa tôi cũng biết ông ta có một bộ râu quai nón liền với tóc mai và dính luôn với bộ tóc. Râu của tôi thì chỉ mọc ở cằm mà thôi. Trời nhanh chóng trở lạnh. Tôi chẳng rõ có phải là đầu tôi bị lạnh hay tôi không muốn lộ diện trước người lạ. Dù thế nào, tôi cũng đã đội chiếc nón hải quân cũ của mình lên, đun ấm cà phê, rồi ngồi ở bậc thềm đuôi xe chăm chú nhìn tất cả mọi thứ xung quanh ngoại trừ người hàng xóm. Lúc này ông ta đang quét dọn toa xe và bê ra cái bồn rửa chứa đầy nước xà bông, trong khi vẫn làm ra vẻ như chẳng để ý gì đến tôi. Mối quan tâm của Charley thì hướng vào những tiếng gầm gừ và tiếng sủa từ toa xe vọng ra.

Hẳn là trong mỗi chúng ta đều có một thứ ý thức về thời điểm phù hợp cho xã giao, cho nên tôi đã quyết định ra nói chuyện với người hàng xóm. Thật ra, tôi vừa đứng dậy để tiến đến chỗ ông ta thì ông ta cũng dợm bước về phía tôi. Cả ông ta cũng cảm thấy là thời gian chờ đợi đã hết. Ông ta di chuyển với dáng dấp kỳ lạ, khiến tôi liên tưởng đến thứ gì đó mà tôi không tài nào nhớ ra. Có một sự uy nghi đã tàn tạ ở người đàn ông này. Vào thời đại các hiệp sĩ huyền thoại, người ta hẳn sẽ nghĩ ông ta là một kẻ ăn mày hóa ra lại là một hoàng tử.

Ông ta không cúi rạp mình để chào tôi, nhưng tôi có cảm giác ông ta có thể chào như thế hoặc theo lối người lính chào cả một binh đoàn.

“Xin chào”, ông ta nói. “Tôi thấy ông là dân tài tử”.

Tôi đoán miệng tôi chắc hẳn đang há hốc. Biết bao năm rồi tôi chưa nghe lại thuật ngữ ấy. “Thật ra thì không, không phải đâu. Không, tôi không phải tài tử”.

Giờ thì đến phiên ông ta lúng túng. “Không à? Nhưng, ông bạn thân mến, nếu không phải thì làm sao ông biết thuật ngữ đó?”

“Tôi nghĩ tôi chỉ làm những công việc bên lề”.

“A! Bên lề. Dĩ nhiên rồi. Chắc là ở hậu trường hả – giám đốc hay quản lý sân khấu?”

“Sai luôn”, tôi nói. “Ông muốn uống cà phê không?”

“Hân hạnh”. Ông ta không bao giờ khước từ. Đó là một trong những cái hay của dân tài tử, họ rất hiếm khi khước từ điều gì. Ông ta gập người ngồi lên chiếc ghế băng phía sau chiếc bàn của tôi với một sự duyên dáng mà tôi không bao giờ có được trong suốt cuộc hành trình. Tôi lấy ra hai chiếc ca nhựa và hai chiếc ly thủy tinh, rót cà phê vào rồi đặt chai whisky ở nơi vừa tầm với. Có cảm giác mắt ông ta có một màn lệ mỏng, nhưng cũng có thể màn lệ đó là ở trong mắt tôi.

“Sai luôn”, ông ta nói. “Những người này thì tôi cũng có biết mà”.

“Tôi rót cho ông nhé?”

“Cảm ơn... không, đừng thêm nước”. Ông ta lấy khẩu vị bằng cà phê đen rồi thích thú nhâm nhi món whisky trong khi lia mắt quanh nơi sinh sống của tôi. “Chỗ của ông thích nhỉ, thích lắm”.

“Làm ơn cho tôi biết điều gì khiến ông nghĩ tôi làm trong ngành sân khấu”.

Ông ta cười khan. “Đơn giản lắm, vở Watson[11]. Ông biết đấy, tôi đã diễn vở đó. Hai phần luôn đấy nhé. Thế này, thoạt đầu tôi thấy con chó xù của ông, và tôi quan sát bộ râu của ông. Rồi khi đến gần tôi thấy ông đội chiếc nón hải quân với huy hiệu Quân đội Hoàng gia Anh”.

“Và điều đó đã giúp ông nhận ra?”

“Có thể lắm chứ, bạn hiền. Chắc chắn là có thể. Đôi khi tôi đoán mò mà hóa ra lại trúng”.

Giờ đây, khi nhìn gần, tôi thấy ông ta không hề trẻ. Các động tác của ông ta thì rất trẻ nhưng những thớ da của ông ta, hai bên mép của ông ta nói lên rằng ông ta đang ở tuổi trung niên hay đã qua lứa tuổi đó. Và đôi mắt của ông ta – với những tròng nâu lớn nồng nhiệt trên một nền trắng đã ngả vàng – càng chứng thực điều này.

“Chúc sức khỏe”, tôi nói. Chúng tôi uống cạn hai chiếc ly nhựa chứa cà phê rồi tôi lại rót đầy tiếp.

“Nếu không phải chuyện cá nhân hay chuyện gì quá đau lòng, ông có thể cho tôi biết ông làm gì trong ngành sân khấu không?”

“Tôi viết một số vở kịch”.

“Biên kịch à?”

“Vâng. Chúng đều thất bại cả”.

“Tôi có biết tên ông không nhỉ?”

“Chắc không đâu. Chẳng ai biết cả”.

Ông ta thở dài. “Đó là một công việc nhọc nhằn. Nhưng một khi ông đã dính vào là nó đeo cứng ông luôn. Tôi bị dính vào nghiệp của ông nội tôi và cha tôi chính là người đưa tôi vào tròng”.

“Cả hai là diễn viên à?”

“Cả mẹ tôi và bà ngoại tôi cũng thế”.

“Chúa ơi. Đó nghệ thuật biểu diễn! Ông đã...” – Tôi tìm kiếm một từ ngữ cũ, “... giải nghệ chưa?”

“Không hề. Tôi vẫn đang diễn đấy chứ”.

“Nhân danh Chúa, ông diễn gì vậy, diễn ở đâu?”

“Ở bất cứ nơi đâu có khán giả. Trường học, nhà thờ, các câu lạc bộ. Tôi mang lại văn hóa, tôi biểu diễn để phục vụ. Tôi nghĩ ông đã nghe cộng sự của tôi ở đằng kia đang phàn nàn. Nó cũng rất giỏi giang đấy. Nó lai giữa giống Airedale[12] và sói đồng cỏ. Nó mà hứng lên là được hoan nghênh nhiệt liệt ngay”.

Tôi bắt đầu thấy thích người đàn ông này. “Tôi đâu biết những công việc như thế vẫn đang diễn ra”.

“Có những lúc chúng không diễn ra thật”.

“Ông làm việc này lâu chưa?”

“Hai tháng nữa là tròn ba năm”.

“Đi khắp đất nước à?”

“Bất cứ nơi đâu có vài ba người tụ họp. Tôi đã không làm việc gì khác hơn một năm rồi. Chỉ lôi bầu đoàn đi lang thang, biểu diễn và sống tằn tiện bằng thu nhập của mình. Với tôi thì không có chuyện làm gì khác. Đó là tất cả những gì tôi biết, tất cả những gì tôi am hiểu từ trước đến nay. Cách đây lâu rồi, dân kịch nghệ sống thành một cộng đồng ở đảo Nantucket. Cha tôi có mua một lô đất đẹp ở đó và dựng lên một ngôi nhà gỗ. Vâng, tôi đã bán nó, rồi mua đạo cụ ở đó và kể từ đấy tôi cứ luôn di chuyển, và tôi thích như thế. Tôi không nghĩ mình sẽ trở lại với cuộc sống cũ. Dĩ nhiên, nếu chỉ là một phần thì cũng được. Nhưng, chết tiệt, nếu là một phần, dù là phần nào đi nữa, thì liệu có còn ai nhớ ra tôi?”

“Ở đó thì ông coi như ở nhà rồi còn gì”.

“Phải, đó là một công việc nhọc nhằn”.

“Tôi mong ông đừng nghĩ tôi tọc mạch cho dù tôi có quả là như thế. Tôi rất muốn biết ông chèo chống như thế nào. Điều gì xảy ra? Người ta đối xử với ông thế nào?”

“Người ta đối xử với tôi rất tốt. Và tôi cũng chả biết mình chèo chống như thế nào nữa. Đôi khi tôi thậm chí phải thuê một căn sảnh và chi cho quảng cáo, đôi khi tôi nói chuyện với hiệu trưởng trường học”.

“Nhưng liệu người ta có sợ dân du mục, kẻ lang thang và những người diễn rong?”

“Tôi nghĩ lúc đầu họ cũng sợ chứ. Lúc đầu họ nghĩ tôi là một gã dị hợm vô hại. Nhưng tôi là người lương thiện và tôi không tính giá cao. Sau một hồi thì chất liệu vào cuộc và chinh phục được họ. Ông thấy đấy, tôi tôn trọng chất liệu lắm. Nó tạo ra sự khác biệt. Tôi đâu phải loại lừa bịp. Tôi là một diễn viên, dù giỏi hay dở thì cũng vẫn là diễn viên”. Màu da ông ta ửng lên cùng với rượu whisky và sự sôi nổi. Và có lẽ cũng vì đang được tâm sự với một người có kinh nghiệm hơi hơi giống như ông. Tôi rót thêm vào ly của ông ta và hài lòng ngắm nhìn sự thích thú đang dâng cao. Ông ta uống rồi thở dài. “Chớ để cho những điều như thế diễn ra quá thường xuyên”, ông ta nói. “Hy vọng tôi không gây ấn tượng cho ông là tôi đang nợ ngập đầu. Đôi khi cũng có khó khăn một chút thật”.

“Ông kể nữa đi. Nói tiếp đi”.

“Tôi nói đến đâu rồi nhỉ?”

“Ông nói ông tôn trọng chất liệu và ông là một diễn viên”.

“Ồ, phải. Vâng, còn một điều này nữa. Chắc ông biết khi mà dân diễn viên phải về diễn ở nơi mà họ gọi là nhà quê, họ khinh miệt các khán giả nhà quê. Tôi mất một thời gian, nhưng khi tôi học được rằng chẳng có người nào là nhà quê cả thì tôi bắt đầu ổn lại. Họ cảm thấy điều đó và họ hợp tác với tôi chứ không chống lại tôi. Một khi ông tôn trọng họ thì họ hiểu ra tất cả những gì ông nói với họ”.

“Kể về chất liệu của ông đi. Ông sử dụng những gì?”

Ông ta nhìn xuống đôi bàn tay. Tôi thấy là chúng được giữ gìn rất tốt và trông rất trắng trẻo, cứ như ông ta lúc nào cũng đeo găng tay. “Tôi hy vọng ông không nghĩ là tôi đánh cắp chất liệu”, ông ta nói. “Tôi rất ngưỡng mộ cách diễn của ngài John Gielgud[13]. Tôi đã nghe ông ấy diễn màn độc thoại The ages of Man[14] của Shakespeare. Sau đó tôi mua một bản thu băng vở kịch đó đem về nghiên cứu. Không thể tưởng tượng nổi ông ấy đã làm gì với ngôn từ, với sắc điệu và sự truyền cảm!”.

“Ông sử dụng chúng à?”

“Vâng, nhưng tôi không đánh cắp chúng. Tôi đã kể tôi nghe Ngài John diễn và nó tác động lên tôi như thế nào. Và rồi tôi tự nhủ tôi sẽ cố gắng cho người ta cái ấn tượng theo cách thức mà ông ấy đã làm”.

“Thông minh lắm”.

“Vâng, và nó cũng giúp được tôi, vì nó tạo uy lực cho cuộc biểu diễn, mà Shakespeare thì không cần phải quảng cáo. Bằng cách đó, tôi không đánh cắp chất liệu của ông ấy. Nó giống như tôi đang tôn vinh ông ấy, mà tôi làm như thế thật”.

“Họ đáp ứng như thế nào nhỉ?”

“Vâng, tôi nghĩ giờ đây tôi đã giống như ở sân nhà của mình, vì tôi có thể ngắm những ngôn từ thấm vào, và họ đã quên khuấy cả tôi, ánh mắt của họ như hướng ngược vào trong, và với họ tôi không còn là một gã dị hợm nữa. À, ông nghĩ thế nào?”

“Tôi nghĩ Gielgud sẽ rất hài lòng”.

“Ồ! Tôi đã viết cho ông ấy một lá thư rất dài, thuật lại tất cả những gì tôi đang làm”. Ông ta rút từ túi hông ra một chiếc bóp xù xì, lấy ra một mẩu giấy nhôm được xếp lại cẩn thận. Bằng những ngón tay cẩn trọng, ông ta mở nó, lôi ra một tấm giấy viết thư nhỏ có tên được ép kim trên đầu trang. Thư được đánh máy, nội dung như sau, “Ông... thân mến; Xin cảm ơn lá thư tử tế và lý thú của ông. Tôi sẽ chẳng thể là diễn viên nếu không thấu hiểu những lời khen tụng chân thành đã được ông áp dụng cho công việc của mình. Chúc ông may mắn và cầu Chúa phù hộ cho ông. John Gielgud”.

Tôi thở dài, nhìn những ngón tay kính cẩn của ông ta xếp lại tấm giấy, bọc nó vào lớp áo giáp bằng giấy nhôm và cất vào trong bóp.

“Tôi chưa bao giờ khoe nó cho bất cứ ai để có được một cuộc trình diễn”, ông ta nói. “Tôi không bao giờ nghĩ mình sẽ làm như thế”.

Tôi tin chắc ông ta không làm thế.

Ông ta xoay xoay chiếc ly nhựa trong bàn tay, nhìn chỗ whisky còn sót lại ở bên trong, một động tác dễ gây sự chú ý của chủ nhà về chiếc ly đã cạn rượu. Tôi mở nút chai rượu.

“Không”, ông ta nói. “Tôi không uống nữa đâu. Từ lâu tôi đã học được rằng kỹ thuật diễn xuất quan trọng và giá trị nhất là biết rút lui đúng lúc”.

“Nhưng tôi đang muốn hỏi thêm ông vài câu nữa đây”.

“Thế thì càng có lý do để rút lui”. Ông ta uống nốt giọt cuối cùng. “Giữ cho người ta luôn thắc mắc”, ông ta nói, “và rút lui nhanh gọn. Cảm ơn ông và chúc ông một buổi tốt tốt lành”.

Tôi nhìn ông ta khẽ đong đưa trở về chiếc xe của mình, và tôi biết mình sẽ bị ám ảnh bởi một câu hỏi. Tôi gọi với theo: “Chờ chút đã”.

Ông ta dừng lại, quay về phía tôi.

“Con chó thì làm gì?”

“Ồ, vài trò ngớ ngẩn ấy mà”, ông ta nói. “Nó giúp cho cuộc biểu diễn được suôn sẻ. Khi biểu diễn nhạt nhẽo thì nó làm cho sôi động lên”. Rồi ông ta đi tiếp về nhà mình.

Thế là nó vẫn tiếp diễn, một cái nghề còn xưa hơn cả nghề viết và biết đâu nó sẽ còn tiếp diễn cả sau khi nghề viết lụi tàn. Và tất cả các thành tựu vô trùng như điện ảnh, truyền hình và phát thanh sẽ chẳng thể nào quét nó đi. Một người sống thực trong cuộc giao tiếp với một khán giả sống thực. Nhưng ông ta sống bằng cách nào? Ai đồng hành cùng ông ta? Cuộc sống ẩn của ông ta ra sao? Ông ta đã nói đúng. Sự rút lui của ông ta kích thích những câu hỏi.

❀ ❀ ❀

[1] Dự án các nhà văn Liên bang giai đoạn 1935-1942 nhằm xây dựng loạt sách hướng dẫn du lịch ở 48 bang nước Mỹ lúc bấy giờ. W.P.A được viết tắt từ Works Progress Administration, tạm dịch là Cơ quan tiến bộ công việc. Cơ quan này sử dụng hàng triệu công nhân tay nghề thấp để làm những công việc công cộng trong thời kỳ suy thoái, nhưng cũng làm chủ nhiều dự án về nghệ thuật, văn học, truyền thông...

[2] Tổng thống Mỹ thứ 32, giai đoạn từ 1933 đến 1945.

[3] Có nghĩa là “Đi xa”.

[4] Well: Giếng.

[5] Nhà sử học Hy Lạp vào thế kỷ thứ năm trước công nguyên.

[6] Nhà thám hiểm người Ý, được xem là một trong những người Âu đầu tiên đến Trung Quốc.

[7] Nhà triết học kiêm kinh tế chính trị học người Hà Lan.

[8] Tên một loại xe hạng sang của hãng Ford Motor.

[9] Giải vô địch bóng chày Mỹ hàng năm.

[10] Bối cảnh của câu chuyện là thời kỳ Chiến tranh lạnh.

[11] Vở kịch kinh điển trong đó người bạn của thám tử Sherlock Holms trở thành nhân vật chính trong một vụ án.

[12] Tên một giống chó sục.

[13] Diễn viên kiêm đạo diễn kịch nổi tiếng người Anh.

[14] Tên đầy đủ vở kịch này là Seven ages of Man (Bảy thời kỳ của người đàn ông).

harley và hành trình nước Mỹ Cánh cửa mở rộng ebook©MotSAch TVE-4u©VCTVEGROUP —★— Nhà xuất bản: NXB Trẻ 03/2012
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.