Illinois cho chúng tôi một ngày thu tuyệt đẹp, khô hanh và trong trẻo. Chúng tôi di chuyển nhanh về hướng bắc, tiến thẳng về Wisconsin, băng qua một vùng đất lộng lẫy với những cánh đồng tươi tốt và cây cối tuyệt diệu. Đó là miền quê của những quý ngài. Nó gọn gàng ngăn nắp, được quây trong những bờ rào màu trắng, và tôi đoán là nó phải được trợ cấp bởi những nguồn thu nhập từ bên ngoài. Tôi cảm giác nó không có những căn cơ để hậu thuẫn cho chính nó và các chủ nhân của nó. Nói đúng hơn, nó giống như một phụ nữ đẹp vốn đòi hỏi sự hậu thuẫn và giúp đỡ của rất nhiều khuôn mặt nữ vô danh khác để tiếp tục xinh đẹp. Nhưng điều đó không hề làm cho cô ta kém phần đáng yêu... nếu như bạn chu cấp được cho cô ta.
Có khả năng, thậm chí rất hiện thực, rằng bạn nghe một sự thật về một nơi chốn nào đó, tin vào sự thật đó, biết rõ nó... và đồng thời chẳng biết quái gì về nó cả. Tôi chưa từng đến Wisconsin và trong cả cuộc đời tôi đã nghe kể về nó, ăn những khoanh phô-mai của nó, một số cũng ngon không thua kém bất cứ nơi đâu trên thế giới. Và hẳn là tôi đã thấy những bức ảnh về nó. Ai cũng thế cả thôi. Thế thì cớ sao tôi vẫn cứ bất ngờ trước vẻ đẹp của vùng này, sự đa dạng của các cánh đồng, ngọn đồi, rừng cây và hồ nước của nó? Giờ thì tôi nghĩ rằng, do sản lượng sữa khổng lồ của bang này, cần phải chiêm nghiệm nó từ quy mô lớn của những đồng cỏ cho bò. Tôi chưa từng thấy một miền quê nào thay đổi nhanh như thế, và vì tôi không thể ngờ được nên tất cả mọi thứ tôi thấy đều khiến tôi thích thú. Tôi không biết những mùa khác sẽ như thế nào. Mùa hè có thể trầy trật bởi cái nóng, mùa đông có thể rên xiết bởi cái lạnh thê lương, nhưng khi tôi thấy nó lần đầu tiên và duy nhất vào đầu tháng Mười, không khí của nó tràn ngập ánh nắng màu bơ, không mờ ảo mà khô hanh, trong trẻo, nhờ vậy mà từng ngọn cây sương giá đều hiện rõ, những ngọn đồi vươn cao không hề lẫn với nhau mà tách bạch riêng ra. Có một sự thẩm thấu của ánh sáng vào những vật chất rắn, nhờ đó mà tôi có thể nhìn thấu suốt sự vật. Loại ánh sáng đó tôi không thấy ở bất cứ nơi nào khác, ngoại trừ Hy lạp. Tôi nhớ nhiều người bảo tôi rằng Wisconsin là một bang rất đẹp, nhưng dù đã được báo trước tôi vẫn không tin nổi mắt mình. Đó là một ngày kỳ diệu. Đất đai tràn trề sự viên mãn, bò và heo béo ụ điểm xuyết thảm cỏ xanh, và trên những thửa đất nhỏ hơn, ngũ cốc được chất trong những túp lều nhỏ một cách ngăn nắp, và bí ngô mọc rải rác khắp xung quanh.
Chẳng rõ Wisconsin có lễ hội nếm phô-mai hay không, nhưng một người mê phô-mai như tôi thì tin hẳn phải có.
Phô-mai có mặt ở khắp nơi: các trung tâm phô-mai, hợp tác xã phô-mai, cửa hàng phô-mai, thậm chí có lẽ cả kem phô-mai. Tôi tin tất tật mọi thứ vì đã từng thấy những tấm biển quảng cáo kẹo phô-mai Thụy Sĩ. Thật tiếc là tôi đã không dừng lại để nếm thử món kẹo phô-mai Thụy Sĩ. Giờ thì tôi chẳng thuyết phục được ai rằng nó quả tồn tại, rằng tôi không bịa ra.
Dọc đường, tôi thấy có một cơ sở rất lớn. Đó là cơ sở phân phối sò biển lớn nhất thế giới. Và nó nằm ở Wisconsin cơ đấy, một nơi chẳng dính dấp gì tới biển kể từ thời kỳ tiền-Cambri. Nhưng Wisconsin luôn chất chứa những bất ngờ. Tôi đã từng nghe nói về Wisconsin Dells[1], nhưng vẫn hoàn toàn bất ngờ trước cái xứ sở kỳ dị do Kỷ Băng hà đẽo gọt nên, một xứ sở lạ lùng, lung linh bởi nước và những tảng đá nhiều hình hài, mang sắc xanh và đen. Nếu thức dậy nơi đây, người ta sẽ tin rằng mình đang nằm mơ về một hành tinh khác, bởi lẽ người ta không thấy đâu những nét của trái đất này, hay chỉ thấy chăng những ghi khắc của một thời đại khi mà thế giới này còn trẻ trung hơn rất nhiều và khác biệt rất nhiều. Bám theo mép của những con lạch huyền ảo là những rác rưởi của thời đại chúng ta: những khách sạn, quầy hot-dog, những cửa hiệu bán đồ rẻ tiền, kém chất lượng và lòe loẹt mà khách du lịch mùa hè xiết bao yêu thích. Nhưng những lớp vỏ ngoài này cũng đóng cửa do mùa đông tới, và thậm chí nếu có mở thì tôi ngờ rằng chúng chỉ xua tan sự mê hoặc mà Wisconsin Dells mang lại.
Tối hôm đó tôi nghỉ lại tại một bãi đậu trên đỉnh đồi dành cho xe tải, nhưng thuộc loại đặc biệt. Những xe gia súc khổng lồ đậu tại đây và trút bỏ những đống cặn bã từ lô hàng mới nhất. Có đến hàng núi phân và phía trên chúng là những đám mây hình nấm[2] của ruồi và nhặng. Charley tựa như mỉm cười. Nó hít ngửi một cách ngây ngất, chẳng khác gì một phụ nữ Mỹ bước vào một cửa hàng nước hoa Pháp. Tôi không thể phê phán vị giác của nó được. Có người thích thứ này thì cũng phải có người thích thứ kia chứ. Cái mùi nơi đây quả là nồng nặc và hôi hám, nhưng cũng không đến nỗi tởm lợm.
Khi trời tối, tôi tản bộ cùng Charley giữa những núi khoái cảm của nó, ra đến sườn đồi, từ đó trông xuống một thung lũng nhỏ bên dưới. Đó là một khung cảnh thê lương. Tôi nghĩ việc lái xe quá nhiều đã khiến nhãn quan của tôi bị méo mó hoặc khiến tôi gia tăng định kiến, bởi lẽ vùng đất tối đen phía dưới kia có vẻ như đang di chuyển, mạch đang đập, đang hô hấp. Không phải là nước mà là gợn lăn tăn một chất lỏng màu đen. Tôi đi nhanh xuống đồi để san phẳng sự méo mó nói trên. Đáy thung lũng phủ kín gà tây. Có đến hàng triệu con gà tây, túm tụm nhau dày đặc đến mức che lấp cả mặt đất. Đó là một nguồn tiếp viện lớn. Dĩ nhiên, đó là nguồn dự trữ cho dịp lễ Tạ Ơn.
Túm tụm vào nhau là bản năng của gà tây vào ban đêm. Tôi còn nhớ ở trang trại hồi tôi còn trẻ, gà tây tụ tập và đậu thành bầy trên các cây bách, ngoài tầm với của bọn mèo hoang và sói đồng cỏ. Đó là dấu hiệu duy nhất mà tôi biết về trí thông minh của gà tây. Hiểu về gà tây không có nghĩa là ngưỡng mộ chúng, bởi lẽ chúng rỗng tuếch và rất dễ bị kích động. Chúng tụ tập thành những bầy dễ bắt và động chút là hoảng loạn. Chúng mang tất cả các loại bệnh gia cầm, và lại còn phát minh ra cả các bệnh riêng cho chúng nữa. Gà tây có vẻ như thuộc loại dễ bị trầm cảm-kích động. Chúng luôn quang quác với chiếc mào ửng đỏ, bộ đuôi xòe rộng, đôi cánh khua đập, mới phút trước còn tỏ ra quả cảm, đáng yêu thì phút sau đã tỏ ra đớn hèn, ích kỷ. Thật khó nhận ra chúng có gì ăn nhập với những họ hàng hoang dã, khôn ngoan và đa nghi của chúng. Còn tại đây, tụ tập từng đám cả ngàn con phủ kín mặt đất, chúng đang chờ cái ngày sẽ nằm xụi lơ trên bàn ăn của người Mỹ.
Thật đáng tiếc là tôi chưa bao giờ ghé thăm hai thành phố sinh đôi tráng lệ là St. Paul và Minneapolis, nhưng còn đáng hổ thẹn hơn khi tôi vẫn chưa ghé thăm hai nơi đó mặc dù đã đi ngang qua chúng. Khi tôi đến gần chúng, một dòng thác giao thông bỗng chốc nhấn chìm tôi: cả một làn sóng các xe station wagon[3], cả dòng thác những xe tải gầm rú. Tôi tự hỏi cớ sao cứ mỗi khi tôi vạch một lộ trình quá đỗi chi ly thì y như rằng nó sẽ tan tành mây khói, còn khi tôi nhắm mắt đưa chân thì lại chẳng gặp trục trặc gì. Từ sáng sớm tôi đã nghiên cứu các bản đồ, vẽ ra một đường tỉ mỉ theo lộ trình tôi muốn đi. Tôi vẫn giữ cái kế hoạch ngạo nghễ đó: vào St. Paul bằng đường Cao tốc số 10, rồi từ từ băng qua Mississippi. Đường cong hình chữ S ở Mississippi sẽ đưa tôi ba lần vượt sông. Sau cuộc rong chơi thú vị này, tôi rất muốn đi qua Golden Valley do đã nghe tiếng nơi này. Điều này xem chừng khá đơn giản, chắc có thể thực hiện được, nếu như đó không phải là tôi.
Thứ nhất là giao thông như một làn sóng triều đã nhấn chìm tôi và cuốn tôi theo. Tôi dật dờ đi theo một chiếc xe bồn chở xăng dài đến nửa dãy nhà. Phía sau tôi là một cỗ máy trộn xi-măng khổng lồ trên bánh xe, cái trống của nó cứ quay đều trong lúc chạy. Phía bên phải tôi là thứ mà tôi cho là một khẩu pháo nguyên tử. Tôi thường hay phát hoảng vì bị lạc trong tình cảnh như thế. Như một tay bơi bị đuối sức, tôi tấp sang phải để tìm đến một làn đường dễ chịu hơn, để rồi bị cảnh sát chặn lại. Anh cảnh sát cho tôi biết là xe tải và các loại xe ăn theo không được phép đi làn đó. Rồi anh ta tống tôi trở vào dòng xe tải cuồng nhiệt.
Tôi lái hàng giờ liền, mắt dính chặt vào mấy con voi ma-mút bao xung quanh. Hẳn là tôi đã băng qua sông, nhưng tôi chẳng thấy gì cả. Tôi chưa bao giờ thấy con sông ấy. Tôi chưa bao giờ thấy St. Paul và Mineapolis. Điều duy nhất tôi thấy là một dòng sông xe tải, điều duy nhất tôi nghe là tiếng gầm rú của máy xe. Không khí bão hòa bởi khói dầu diesel làm phổi tôi muốn cháy bỏng. Charley lên cơn ho sặc sụa mà tôi cũng chẳng có thời gian để vỗ lưng nó vài cái. Đến chỗ đèn đỏ, tôi nhận ra mình đang ở trên một con đường sơ tán[4]. Phải mất một lúc tôi mới nhận biết điều đó. Đầu tôi quay mòng mòng. Tôi mất hết cả mọi cảm giác về phương hướng. Nhưng các biển hiệu – “Đường sơ tán” – vẫn tiếp tục. Dĩ nhiên, đó là con đường được hoạch định để thoát khỏi trái bom chưa được thả xuống. Một con đường sơ tán ở ngay giữa cái miền Trung Tây này, một con đường được thiết kế ra từ nỗi sợ hãi. Tôi có thể thấy nó trong tâm trí vì tôi đã từng chứng kiến cảnh người ta chạy nạn: những con đường chật kín đến không thể cục cựa và sự tán loạn nơi cái vách đá do chính chúng ta thiết kế lên. Và bất chợt tôi nghĩ về cái thung lũng gà tây ấy và tự hỏi cớ sao tôi lại dám cả gan nghĩ bọn chúng là ngu xuẩn. Thật ra, chúng còn có điểm ưu việt hơn cả chúng ta nữa đấy: thịt chúng ăn rất ngon.
Tôi mất gần bốn tiếng đồng hồ để băng qua hai thành phố sinh đôi. Nghe nói một số khu vực của chúng rất đẹp. Tôi không bao giờ tìm thấy Golden Garden. Charley chẳng giúp được gì. Nó chẳng muốn dây dưa với cái giống loài có thể tạo ra một thứ để rồi phải chạy trốn khỏi nó. Nó chẳng thích lên mặt trăng chỉ để rồi phải cuốn xéo ra khỏi đó. Đối mặt với sự ngu xuẩn của chúng ta, Charley chấp nhận chúng như đúng bản chất của chúng: sự ngu xuẩn.
Đôi lúc, trong những giờ cuồng loạn này, tôi hẳn đã băng qua sông một lần nữa vì tôi thấy mình trở lại với Quốc lộ 10, ở phía đông của Mississippi và đang đi về hướng bắc. Miền quê mở ra và tôi kiệt quệ dừng xe ở một quán ăn bên đường. Đó là một quán ăn Đức có bán xúc xích, sauerkraut[5] và bán bia. Những ly vại treo thành hàng phía trên quầy trông sáng loáng nhưng không ai dùng tới. Vào giờ này trong ngày mà tôi vẫn là khách hàng duy nhất. Cô phục vụ chẳng phải là Brunhild[6] mà là một sinh thể gầy gò, khuôn mặt sạm. Hoặc đó là một cô gái trẻ đang gặp rắc rối, hoặc đó là một bà cụ già rất hoạt bát, tôi chẳng biết đằng nào là đúng. Tôi gọi món bratwurst[7] và sauerkraut, thấy rõ người đầu bếp bóc màng giấy kính khỏi thanh xúc xích và thả nó vào nước sôi. Bia được phục vụ trong lon. Món bratwurst quả là khủng khiếp còn món kraut là một thứ hổ lốn lõng bõng nước đáng nguyền rủa.
“Tôi nhờ cô chuyện này được không?” Tôi hỏi người nữ phục vụ nửa già nửa trẻ.
“Ông có vấn đề gì à?”
“Hình như tôi hơi bị lạc”.
“Ý ông nói lạc là sao?”
Người đầu bếp nhoài mình ra khỏi cửa tò vò, chống cùi chỏ trên bệ phục vụ.
“Tôi muốn đi Sauk Centre nhưng hình như bị nhầm đường”.
“Ông từ đâu đến vậy?”
“Từ Minneapolis”.
“Thế thì ông làm gì ở bên này sông?”
“Ừ thì, hình như tôi cũng bị lạc luôn cả ở Minneapolis”.
Cô ta nhìn người đầu bếp. “Ông ấy bị lạc ở Minneapolis”, cô ta nói.
“Ở Minneapolis thì làm sao lạc được”, người đầu bếp nói. “Tôi sinh ở đó nên tôi biết chứ”.
Cô phục vụ nói, “Tôi đến từ St. Cloud thế mà tôi cũng chẳng thể nào lạc ở Minneapolis”.
“Chắc là tôi thuộc loại không giống ai. Nhưng nơi tôi muốn đến là Sauk Centre”.
Người đầu bếp nói, “Nếu ông ta cứ thẳng đường mà đi thì không thể nào lạc được. Ông đang ở trên đường Năm mươi hai. Ông băng qua St. Cloud rồi cứ bám theo đường Năm mươi hai mà đi”.
“Thế St. Cloud có nằm trên đường Năm mươi hai không?”
“Chứ còn gì nữa. Chắc ở đây ông là người lạ nên mới lạc ở Minneapolis. Tôi thì có bịt mắt cũng không thể nào lạc được”.
Tôi nói có phần hơi cáu kỉnh, “Nếu ở Albany hay San Francisco thì ông có bị lạc không?”
“Tôi chưa từng đến mấy nơi đó, nhưng tôi dám cá tôi sẽ không bị lạc”.
“Tôi từng đến Duluth”, cô phục vụ nói. “Và đến Giáng Sinh tôi sẽ đi thác Sioux Falls. Tôi có bà dì sống ở đó”.
“Cô có bà con nào ở Sauk Centre không?” người đầu bếp hỏi.
“Dĩ nhiên là có, nhưng nó không xa như San Francisco mà ông ấy nói. Anh tôi làm việc cho Hải quân. Anh ấy sống ở San Diego[8]. Ông có bà con ở Sauk Centre à?”
“Không, tôi chỉ muốn ngó qua thôi. Sinclair Lewis[9] quê ở đó”.
“Ồ! Phải. Họ có dựng tấm biển. Tôi nghĩ cũng có người đến đó xem. Chắc thị trấn đó cũng được chút lợi lộc”.
“Ông ấy là người đầu tiên kể cho tôi nghe về khu vực này của nước ta”.
“Ai cơ?”
“Sinclair Lewis”.
“Ồ! Phải. Ông quen ông ta à?”
“Không, chỉ đọc sách của ông ấy thôi”.
Tôi dám cá cô ta sắp sửa hỏi “Của ai?” nhưng tôi ngắt lời cô ta. “Ông nói tôi băng qua St. Cloud rồi bám theo đường Năm mươi hai?”
Người đầu bếp nói, “Tôi nghĩ cái ông mà ông nói không còn ở đó nữa đâu”.
“Tôi biết. Ông ta mất rồi mà”.
“Thế mà ông không nói”.
❀ ❀ ❀
[1] Thành phố ở Trung Nam Wisconsin.
[2] Tác giả liên tưởng đến đám mây hình nấm do bom nguyên tử tạo ra khi nổ.
[3] Kiểu xe giống như xe con thông thường nhưng đường bao mái phía sau rộng hơn.
[4] Vào thời kỳ Chiến tranh lạnh, những con đường này được xây dựng để phòng kịch bản chiến tranh nguyên tử.
[5] Dưa món của Đức.
[6] Nữ hoàng xứ Băng đảo trong thần thoại Đức thời trung cổ.
[7] Món xúc xích lợn.
[8] San Francisco và San Diego đều là các thành phố thuộc bang California.
[9] Nhà văn kiêm nhà viết kịch người Mỹ từng đoạt giải Nobel văn học năm 1930.