Chuẩn bị cho mùa đông ở New England là cả một vấn đề. Dân số mùa hè hẳn là khá lớn vì khi đó những con đường và xa lộ đều chật ních những người di tản khỏi cái nóng nhớp nháp của Boston và New York. Giờ thì các quầy bán hot-dog, các cửa hàng bán kem, các hiệu bán đồ cổ, những nơi bán giày moccasin và bao tay da hươu đều dẹp tiệm và đóng cửa, nhiều nơi treo bảng ghi: “Mở cửa lại vào mùa hè sau”. Tôi không bao giờ quen được với hàng ngàn cửa hiệu đồ cổ nằm dọc ven đường, tất cả đều đầy ắp những món đồ phế thải cổ chính hiệu và được chứng thực. Tôi tin rằng dân số của mười ba thuộc địa[1] là chưa đầy bốn triệu mống, và mỗi người họ chắc là đã điên cuồng sản xuất ra nào bàn, nào ghế, nào đồ sứ, nào thủy tinh, khuôn đèn cầy, bàn ủi với hình dáng kỳ quái, đồ đồng, đồ thau... để dành bán trong tương lai cho những du khách của thế kỷ hai mươi. Lượng đồ cổ được bày bán nội dọc theo các con đường của New England không thôi cũng đã đủ để trang bị các căn nhà của bốn chục triệu dân. Nếu tôi là một nhà kinh doanh giỏi, tôi sẽ quan tâm một chút đến những đứa cháu tuyệt vời còn chưa ra đời của tôi – mà nào tôi có quan tâm gì đâu – và sẽ thu gom tất cả những đống tạp nhạp và xác xe hơi nằm rải rác ở bãi phế thải khắp các thành phố. Tôi sẽ đem những đống lượm lặt ấy chất thành núi và xịt lên chúng thứ chất mà Hải quân vẫn thường hay dùng cho những con tàu bị bỏ phế. Sau một trăm năm, các hậu duệ của tôi sẽ được phép mở cái kho tàng cất giấu ấy ra và sẽ trở thành các ông vua đồ cổ của toàn thế giới. Nếu như những thứ tả tơi, nứt nẻ, gãy vỡ mà tổ tiên chúng ta muốn vứt bỏ có thể đem lại nhiều tiền bạc như thế thì hãy nghĩ đến những gì mà cỗ xe Oldsmobile năm 1954 hay chiếc máy nướng bánh mì năm 1960 có thể mang lại – và cả chiếc máy đánh trứng cổ Waring Mixor nữa chứ – Chúa ơi, các khả năng thật là bất tận! Những thứ mà ta phải trả tiền để tống khứ đi có thể mang lại cả một gia tài khổng lồ.
Nếu tôi có vẻ quá quan tâm đến đồ phế thải thì đó là vì tôi thực sự quan tâm và tôi cũng có rất nhiều đồ phế thải nữa – một nửa cái nhà xe chứa đầy những mảnh, những mẩu, những món hư hỏng. Tôi dùng chúng để sửa chữa những món đồ khác. Mới đây, tôi dừng xe trước khu trưng bày của một tay buôn hàng phế thải gần Sag Harbor. Trong khi đang lịch sự ngó nghiêng cái kho ấy, tôi chợt nhận ra rằng mình còn có nhiều đồ phế thải hơn cả cái tay đó. Nhưng có thể thấy rõ là tôi vẫn có mối quan tâm chân thực và hầu như thảm hại đối với những món vật vô giá trị. Lý do bào chữa của tôi là trong thời đại mà sự lỗi thời cũng được kế hoạch hóa này, khi một vật bị hỏng hóc, tôi sẽ tìm ra được thứ gì đó trong bộ sưu tập của tôi để sửa chữa nó: một bồn cầu, một động cơ hay một chiếc máy xén cỏ. Nhưng tôi nghĩ sự thật vẫn đơn giản là... tôi thích đồ phế thải.
Trước khi khởi đầu chuyến đi, tôi đã biết rằng cứ cách vài ngày tôi sẽ phải dừng chân tại một bãi xe hay khách sạn, không phải để ngủ nghê mà là để được tắm nước nóng một cách xa hoa. Bên trong Rocinante, tôi phải đun nước nóng trong chiếc ấm trà rồi thấm nước để tắm táp, nhưng tắm bằng xô như thế dù sao cũng không được sạch sẽ lắm và chẳng lấy gì làm khoan khoái. Ngâm mình trong bồn tắm nước nóng là cả một niềm vui thanh khiết. Tuy nhiên, từ rất sớm trong chuyến đi, tôi đã phát minh ra một phương pháp giặt quần áo mà còn lâu bạn mới làm tốt hơn. Phát minh đó đến với tôi như thế này. Tôi có một chiếc xô đựng rác lớn bằng nhựa có nắp đậy và quai xách. Vì nó thường bị lật ngay cả khi xe di chuyển bình thường, tôi lấy một đoạn dây đàn hồi chắc khỏe làm bằng cao su bọc sợi bông và cột nó vào thanh phơi đồ trong cái tủ đựng đồ nhỏ, nơi nó có thể long xòng xọc lên mà rác vẫn không bị văng ra ngoài. Sau một ngày, tôi mở tủ để lấy xô đem đổ vào một thùng rác ven đường, và tôi đã phát hiện một mớ rác được nhào trộn hoàn hảo nhất xưa nay. Tôi nghĩ tất cả những phát minh lớn đều xuất phát từ những kinh nghiệm như thế này. Sáng hôm sau, tôi rửa sạch chiếc xô nhựa, đặt vào đó hai chiếc áo, đồ lót, vớ, đổ nước nóng và bột giặt vào, rồi lấy dây cao su cột nó vào thanh phơi đồ, để nó long xòng xọc và nhảy múa như điên suốt cả ngày. Tối hôm đó tôi xả đồ tại một con suối, và bạn sẽ không bao giờ thấy những chiếc áo nào sạch đến cỡ đó đâu. Bên trong Rocinante, tôi giăng một sợi dây nylon gần cửa sổ để phơi đồ lên. Từ đó trở đi, quần áo của tôi luôn được giặt sạch sẽ sau một ngày lái xe và khô ráo ngày hôm sau. Tôi thậm chí còn dấn tới, giặt cả khăn trải giường và bao gối theo cách đó. Để chải chuốt thì như vậy quá ổn rồi, nhưng cách đó không giải quyết được nhu cầu tắm rửa bằng nước nóng.
Ở cách Bangor không xa, tôi dừng xe ở một bãi đậu và thuê một căn phòng. Không mắc tiền chút nào. Ngoài biển ghi là “Giảm giá mạnh vào mùa đông”. Nó sạch sẽ không chê vào đâu được, mọi thứ tất tật đều bằng nhựa – sàn nhà, rèm cửa, khăn trải bàn bằng loại vải nhựa chịu bẩn và chịu lửa, chụp đèn nhựa... Chỉ có đồ trên giường và khăn tắm là bằng vật liệu tự nhiên. Tôi đi đến một nhà hàng nhỏ liên hợp với khách sạn. Nó cũng tất tật bằng nhựa nốt – khăn trải bàn, đĩa đựng bơ... Đường và bánh quy giòn được bọc giấy kính, còn mứt thì đựng trong lọ nhựa nhỏ, bọc kín cũng bằng giấy kính. Lúc ấy là đầu giờ tối và tôi là khách hàng duy nhất. Ngay cả cô phục vụ cũng mặc một chiếc tạp dề bằng nhựa. Cô ta không được vui, nhưng cũng chẳng phải là buồn. Cô ta chẳng thế nào cả. Nhưng tôi không tin có ai đó chẳng thế nào. Hẳn phải có gì đó ở bên trong, tất cả chỉ để giữ cho cái vỏ bọc không sụp đổ. Đôi mắt trống rỗng ấy, đôi tay thẫn thờ ấy, đôi má đỏ hồng lốm đốm như một chiếc bánh nướng rắc bột đường ấy... tất cả hẳn phải có một ký ức hay một giấc mơ.
Tôi lựa lúc cất tiếng hỏi, “Bao lâu nữa thì cô đi Florida?”
“Tuần sau”, cô ta uể oải đáp. Rồi có gì đó xốn xang trong sự trống rỗng đau đớn đó. “Này, làm sao ông biết tôi sắp đi?”
“Tôi đọc suy nghĩ của cô, hình như vậy”.
Cô ta nhìn bộ râu của tôi. “Ông đọc được thật sao?”
“Không đâu”.
“Vậy ông nói đọc suy nghĩ của tôi là ý gì?”
“Có lẽ tôi chỉ đoán thôi. Cô thích nơi đó chứ?”
“Ồ, chắc chắn rồi! Năm nào tôi cũng đi. Ở đó có nhiều việc cho nữ phục vụ bàn vào mùa đông”.
“Cô làm gì ở đó. Ý tôi là để vui chơi ấy mà?”
“Ồ, chẳng có gì. Chỉ đi loăng quăng thôi”.
“Cô có đi câu cá hay đi bơi không?”
“Không thường lắm. Tôi chỉ loăng quăng thôi. Tôi không thích cát ở nơi đó. Nó làm tôi ngứa ngáy”.
“Cô kiếm được nhiều tiền chứ?”
“Khách ở đó mạt lắm?”
“Mạt?”
“Họ chỉ tiêu vào rượu chứ không vào thứ gì khác”.
“Như thứ gì?”
“Như tiền boa. Y hệt khách mùa hè nơi đây vậy. Mạt”.
Thật là lạ khi một người có thể làm tràn ngập căn phòng bởi sự sống động, sự phấn khích. Và rồi có những người khác – và cô gái này là một trong số họ – có thể vắt kiệt năng lượng và niềm vui, có thể hút đến khô ráo sự hân hoan mà không để lại chút sinh khí nào. Những người như thế luôn tỏa sự u ám ra khắp xung quanh mình. Tôi đã lái xe rất lâu, có lẽ năng lượng của tôi đã xuống thấp và sự kháng cự của tôi cũng yếu đi. Thế là cô ta đã túm được tôi. Tôi cảm thấy chán chường và sầu khổ đến mức chỉ muốn rúc vào một chiếc bao nhựa và chết quách đi cho xong. Khi hẹn hò thì cô ta như thế nào nhỉ? Khi yêu thì cô ta ra sao? Tôi cố thử hình dung nhưng không sao ra nổi. Mất một lúc, tôi suy nghĩ có nên cho cô ta năm đô-la tiền boa hay không. Nhưng tôi biết điều gì sẽ xảy ra: cô ta sẽ chẳng hề vui mừng. Cô ta sẽ chỉ nghĩ tôi là một gã khùng.
Tôi trở về căn phòng nhỏ sạch sẽ của tôi. Tôi chẳng bao giờ uống một mình. Như vậy thì chẳng vui chút nào. Và tôi không nghĩ tôi sẽ làm như vậy chí ít đến khi tôi trở thành một gã nghiện rượu. Nhưng đêm đó tôi đã lấy một chai vodka từ kho dự trữ và đem nó vào phòng. Trong phòng tắm, hai ly nước được đóng trong bao giấy kính với dòng chữ: “Những ly này đã được khử trùng để bảo vệ quý khách”. Vắt ngang bồn cầu là một dải giấy mang thông điệp như sau: “Bệ này đã được khử trùng bằng tia tử ngoại để bảo vệ quý khách”. Mọi người đều đang bảo vệ tôi và điều này khủng khiếp quá. Tôi xé bao giấy kính lấy mấy chiếc ly ra. Tôi quơ chân gỡ tấm giấy niêm bồn cầu. Tôi rót nửa ly vodka, nốc cạn, rồi làm thêm nửa ly nữa. Rồi tôi ngâm mình thật sâu trong bồn nước nóng và thấy sầu khổ tột cùng, mọi thứ mọi nơi sao mà cứ chán phèo.
Charley hiểu được tâm trạng đó của tôi, nhưng nó là một con chó lịch sự. Con vật già ngốc nghếch bèn đi vào phòng tắm, chơi đùa với tấm chùi chân bằng nhựa như một con cún con. Một cá tính thật mạnh mẽ, một người bạn thật tuyệt vời! Rồi nó xông ra cửa và sủa inh ỏi như thể có ai đó sắp sửa đột nhập vào. Và nếu như không có tất cả những món đồ bằng nhựa kia thì có khi nó đã thành công.
Tôi còn nhớ một ông già Ả-rập ở Bắc Phi, người chưa từng chạm tay vào nước. Ông ta mời tôi món trà bạc hà trong một chiếc ly bị dùng nhiều đến mức trông cáu bẩn, đục ngầu, nhưng ông ta đã chia sẻ tình bạn với tôi và món trà vì thế cũng trở nên tuyệt vời. Và, không cần sự bảo vệ nào, răng của tôi đã không bị rụng, những cơn đau nhức cũng không tăng lên nữa. Tôi bắt đầu phát minh ra một quy luật mới mô tả mối quan hệ giữa sự bảo vệ và nỗi chán chường. Một tâm hồn buồn bã sẽ giết bạn nhanh hơn, nhanh hơn rất nhiều, so với vi trùng.
Nếu Charley không rung lắc, không nhảy chồm lên và nói “Phù”, có lẽ tôi sẽ quên bẵng rằng hàng đêm nó phải xơi hai chiếc bánh quy dành cho chó và đi dạo một vòng cho đầu óc thư thái. Tôi mặc đồ sạch vào rồi cùng nó bước vào đêm sao. Và Bắc cực quang đã xuất hiện. Tôi chỉ vài lần thấy nó trong đời. Nó treo lửng lơ và cuồn cuộn di động một cách đường bệ, tựa như một hậu trường bất tận của một sân khấu bất tận. Với màu hồng, màu xanh, màu tím, nó di chuyển và dao động theo nhịp của màn đêm, và những vì sao được sương giá mài bén rọi ánh sáng xuyên qua nó. Một khung cảnh thật huyền diệu vào đúng lúc tôi cần đến nó xiết bao! Trong khoảng khắc, tôi tự hỏi có nên chăng túm lấy cô phục vụ kia và đá vào mông cho cô ta văng ra ngoài để mà trông thấy cảnh tượng ấy, nhưng tôi nào dám. Cô ta có thể làm cho sự vĩnh hằng và sự bất tận tan chảy, tuôn qua các kẽ ngón tay. Không khí có sự bùng cháy ngọt ngào của sương giá, và Charley, xông lên phía trước, chào hỏi một cách cặn kẽ nguyên một hàng cây thùy lạp bị xén cụt, nó đi đến đâu là hơi nước tỏa ra đến đó. Lúc trở lại, nó thấy hài lòng và mừng cho tôi. Tôi cho nó ba chiếc bánh quy dành cho chó, làm nhàu chiếc giường tiệt trùng kia, rồi ra ngoài, đi về ngủ trong Rocinante.
༺༒༻
Với tôi thì việc đi về hướng tây trong khi nên đi về hướng đông là chuyện thường tình. Đó luôn luôn là xu hướng của tôi. Tôi đang đi đến Deer Isle vì một lý do rất tốt. Người cộng tác và bạn lâu năm của tôi, Elizabeth Otis, năm nào cũng đến Deer Isle. Khi kể về nó, ánh mắt cô ta có cái vẻ như đang nhìn một thế giới khác. Nó trở nên hoàn toàn thờ thẫn. Lúc tôi chuẩn bị cho chuyến đi, cô ta nói, “Anh nhớ phải ghé qua Deer Isle nhé”.
“Nó không thuận đường”.
“Vớ vẩn”, cô ta nói bằng một giọng mà tôi đã quá rành. Giọng nói và điệu bộ của cô ta nói lên với tôi rằng nếu tôi không đến Deer Isle thì đừng có mà vác mặt về New York. Sau đó cô ta gọi điện cho cô Eleanor Brace, người luôn cho cô ở nhờ mỗi khi cô đến đó. Sự thể là như thế đó, và tôi đã bị gửi gắm. Tất cả những gì tôi biết về Deer Isle là nơi đó chẳng có gì để bàn cả, nhưng nếu tôi không đến thì tức là tôi bị điên. Ngoài ra, Cô Brace cũng đang chờ đợi tôi.
Tôi bị lạc hoàn toàn ở Bangor, do giao thông và xe tải, do còi xe inh ỏi và do sự thay đổi ánh đèn. Tôi mơ hồ nhớ lại rằng tôi cần phải ra Quốc lộ 1. Tôi đã tìm ra nó và lái mười sáu cây số theo hướng ngược lại, tức quay ngược về hướng New York. Tôi đã được vẽ đường và chỉ cách đi, được hướng dẫn chi ly, nhưng không biết các bạn có bao giờ nhận ra điều này không: những chỉ dẫn của một người quá rành rẽ địa phương sẽ khiến bạn càng dễ đi lạc hơn, cho dù những chỉ dẫn đó chính xác. Tôi cũng bị lạc cả ở Ellsworth, mặc dù đã được cam đoan là không thể nào bị lạc. Rồi những con đường hẹp lại và những xe chở cây gầm rú vượt qua tôi. Tôi bị lạc hầu như suốt cả ngày mặc dù đã tìm ra Blue Hill và Sedgwick. Trong buổi chiều muộn tuyệt vọng, tôi dừng xe và tiến đến một viên cảnh sát cưỡi ngựa trông đường bệ của bang Maine. Ông ta trông mới thật là oách, cứ như được tạc ra từ đá granite vùng Portland, một người mẫu hoàn hảo cho một pho tượng kỵ sĩ tương lai. Nhưng tôi tự hỏi liệu các người hùng cảnh sát tương lai có được tạc cùng với chiếc jeep hay xe tuần tiễu bằng cẩm thạch?
“Thưa ông sĩ quan, hình như tôi bị lạc. Ông có thể chỉ đường cho tôi không?”
“Ông muốn đi đâu?”
“Tôi định đi Deer Isle”.
Ông ta nhìn tôi chằm chặp, và khi đã an tâm rằng tôi không định giỡn mặt, ông ta lắc hông rồi trỏ về phía bên kia một lạch nước mà chẳng buồn mở miệng.
“Đó hả?”
Ông ta gật đầu, chiếc đầu từ trên hạ xuống dưới và giữ nguyên ở tư thế hạ thấp này.
“À, làm sao tôi đến được đó?”
Tôi thường nghe nói dân Maine rất kiệm lời, nhưng với ứng viên cho núi Rushmore[2] này, việc trỏ tay hai lần trong một buổi chiều có vẻ như là một sự lắm chuyện không thể nào chấp nhận được. Ông ta hất cằm, vẽ ra một hình cung nhỏ, về hướng mà tôi đã đi qua. Nếu như không phải là trời đang tối nhanh, chắc tôi sẽ thử moi thêm vài lời từ ông ta, dù biết trước là sẽ chẳng tích sự gì. “Cảm ơn ông”, tôi nói mà cảm thấy mình thật ba hoa vô kể.
Thoạt tiên là một cây cầu sắt rất cao, vòm của nó dâng lên như cầu vồng. Sau đó một chút là cây cầu đá thấp lè tè có hình cong chữ S. Và thế là tôi đến được Deer Isle. Bản hướng dẫn vẽ tay nói rằng cứ đến bất kỳ ngã rẽ nào thì tôi phải rẽ phải, và từ “bất kỳ” được gạch dưới. Tôi leo qua một ngọn đồi rồi rẽ phải đi theo một con đường hướng đến một rừng thông, sau đó tiếp tục rẽ phải đi vào một con đường nhỏ hơn, rồi rẽ phải tiếp đi theo dấu bánh xe trên lớp lá kim. Đến được đây thì quá dễ rồi. Không thể tin nổi là tôi đã tìm ra được nơi này, nhưng trong vòng một trăm mét đã lừng lững ngôi nhà cổ to lớn của cô Eleanor Brace, và cô ta đã đứng sẵn đó để đón tiếp tôi. Tôi cho Charley ra ngoài. Bất chợt, một vệt xám giận dữ xẹt ngang qua khoảng rừng thưa và chui tọt vào nhà. Đó là George. Nó không đón mừng tôi và càng không đón mừng Charley. Tôi chưa bao giờ thực sự trông thấy nó, nhưng sự hiện diện sưng sỉa của nó thì ở khắp mọi nơi. Bởi lẽ George là một con mèo già màu xám mà sự thù hằn đối với cả người lẫn vật được tích tụ lâu năm đến mức, dù trốn ở trên gác, nó vẫn truyền đi lời cầu nguyện để bạn biến đi nơi khác. Nếu có trái bom rơi xuống và quét sạch mọi sinh thể trừ cô Brace ra, George nhà ta hẳn là sẽ vui lắm lắm. Đó là cách mà nó sẽ thiết kế ra thế giới nếu như nó có quyền. Và nó sẽ không bao giờ biết rằng sự quan tâm của Charley đối với nó chỉ thuần túy là vì lịch sự. Nó mà biết được điều đó thì chắc là nó sẽ bị tổn thương vì hận đời, bởi lẽ Charley chẳng quan tâm gì đến mèo, cho dù chỉ là để rượt đuổi.
Chúng tôi chẳng làm phiền gì George, vì chúng tôi trải qua cả hai đêm trong Rocinante, nhưng tôi nghe nói rằng khi có khách trong nhà, George thường trốn vào rừng thông và theo dõi từ xa, làu bàu sự bất mãn và phun ra sự hằn học. Cô Brace thừa nhận rằng, xét về chức năng của mèo, cho dù là gì đi nữa, thì George hoàn toàn vô dụng. Nó không thân thiện, rất khó ưa và có rất ít giá trị thẩm mỹ.
“Nhưng nó cũng bắt được chuột đấy chứ”, tôi nói đỡ.
“Không bao giờ”, Cô Brace nói. “Đừng có mơ. Và anh có biết điều này không nhỉ? Nó là mèo cái đấy”.
Tôi phải kiềm chế Charley vì sự hiện diện vô hình của George là ở khắp nơi. Trong một thời đại khai hóa hơn, khi mà các phù thủy được cảm thông hơn, George có lẽ vẫn thấy mình bị kết liễu trên giàn hỏa, bởi lẽ nếu như có tồn tại phù thủy – sứ giả của quỷ sứ hay kẻ giao tiếp với những hồn ma độc ác – thì đó chính là George.
Không cần phải nhạy bén để nhận ra sự khác thường của Deer Isle. Và nếu những người từng đến đây trong suốt nhiều năm còn chưa mô tả được nó thì tôi có thể làm được gì trong hai ngày? Đó là một hòn đảo nép mình như đứa bé bú mẹ vào bộ ngực của Maine, nhưng cũng có nhiều hòn đảo như thế. Dòng nước tối đen mà nó nương tựa có vẻ như đã hút sạch ánh sáng, nhưng trước đây tôi đã thấy những nơi giống vậy rồi. Những rừng thông xào xạc và những cơn gió rít qua những vùng đất trống thì giống như ở Dartmoor. Stonington, thủ phủ của Deer Isle, chẳng có vẻ gì giống một thị trấn của nước Mỹ, cả về phong cảnh lẫn kiến trúc. Những ngôi nhà xếp lớp ra đến sát mặt nước tĩnh lặng của khu vịnh. Thị trấn này rất giống thị trấn Lyme Regis ở bờ biển Dorset, và tôi dám cá rằng những người đầu tiên lập nghiệp tại đây đã đến từ Dorset hay Somerset hay Cornwall. Thổ ngữ ở Maine rất giống ở West Country thuộc nước Anh: nguyên âm kép của nó được phát âm giống như kiểu Anh, nhưng tại Deer Isle sự giống nhau này còn rõ rệt gấp đôi. Người dân sống ven bờ biển phía dưới Bristol Chanel là những người bí ẩn, có lẽ hơi ma quái. Trong đôi mắt của họ có cái gì đó được giấu rất kín, đến mức chính bản thân họ có lẽ cũng chẳng biết là mình có. Và điều này cũng được thấy ở Deer Isle. Nói trắng ra là cái đảo Isle này rất giống Avalon. Nó hẳn sẽ biến mất nếu bạn không ở đó. Hay lấy ví dụ sự bí ẩn của những con mèo gấu trúc, một giống mèo lớn không có đuôi với bộ lông xám sọc đen, đó là lý do vì sao người ta gọi chúng là mèo gấu trúc. Chúng là động vật hoang dã, sống trong rừng và rất dữ dằn. Có lần, một người dân địa phương đã đem được một con mèo con về nuôi một thời gian. Ông ta cảm thấy rất sung sướng, có phần còn hãnh diện nữa kìa, nhưng mèo gấu trúc rất hiếm khi được thuần hóa, dù chỉ là hơi hơi. Bất cứ lúc nào bạn cũng có thể bị cào hay bị cắn. Loại mèo này rõ ràng có nguồn gốc từ Manx[3], và khi giao phối với mèo nhà nó đã cho ra đời những con mèo không đuôi. Người ta kể rằng các tổ tiên của mèo gấu trúc là do một thuyền trưởng đem về, và chẳng bao lâu sau chúng đã bỏ nhà đi hoang. Nhưng tôi vẫn thắc mắc ở đâu ra cái kích thước khổng lồ đó. Chúng to hơn gấp đôi bất cứ con mèo Manx nào mà tôi từng thấy. Hay là chúng giao phối với loài linh miêu Bắc Mỹ hoặc mèo rừng? Tôi không biết. Chẳng ai biết cả.
Xuống đến bến cảng Stonington, các tàu thuyền mùa hè đang được kéo lên để cất giữ. Và không phải chỉ nơi đây mà cả ở những vịnh nhỏ khác gần đó là những trại nuôi tôm hùm rất lớn. Lổm ngổm bò ra từ dòng nước tối những con tôm hùm Maine vỏ sẫm, những con tôm hùm ngon nhất thế giới. Cô Brace hỏi mua ba con, mỗi con chưa đến bảy trăm gram, cô ta nói thế, và tối hôm đó sự xuất sắc của chúng đã được phô diễn, không còn gì để nghi ngờ. Không có thứ tôm hùm nào ngon như thế. Chỉ cần đơn giản luộc lên, chẳng cần thứ nước chấm cầu kỳ nào, chỉ cần bơ tan chảy và nước chanh, thật không nơi đâu sánh bằng. Dù tôm có được vận chuyển sống khỏi vùng biển tăm tối của chúng bằng tàu thủy hay máy bay thì chúng vẫn sẽ mất đi điều gì đó.
Tại một cửa hàng tuyệt vời ở Stonington, một cửa hàng vừa bán dụng cụ trong nhà vừa bán đồ tàu bè, tôi mua cho Rocinante một chiếc đèn dầu với chụp bằng thiếc. Tôi đã từng lo lắng rằng ở một nơi nào đó tôi bị cạn dự trữ khí bu-tan. Khi đó tôi làm sao nằm trên giường đọc sách được? Tôi bắt giá đèn vào chiếc vách trên đầu giường rồi vặn bấc để tạo ra một ngọn lửa vàng. Và thường xuyên trong cuộc hành trình, tôi dùng nó để sưởi ấm, để có màu sắc, cũng như để thắp sáng. Đó chính xác là loại đèn trong các căn phòng ở nông trại khi tôi còn bé. Và không có một thứ ánh sáng nhân tạo nào dễ chịu hơn thế, mặc dù những bậc cao niên nói rằng dầu cá voi còn cho ngọn lửa đẹp hơn thế nữa.
Tôi đã chứng minh rằng tôi không cách gì mô tả Deer Isle. Có điều gì đó không thể mô tả bằng lời. Nhưng sau đó nó sẽ ở lại với bạn, và còn hơn thế nữa, những thứ mà bạn không biết thì sau này bạn sẽ thấy trở lại với mình khi đã ra đi. Có một thứ mà tôi nhớ rất rõ. Có lẽ nó được tạo ra bởi mùa thu với chất sáng riêng và sự quang đãng của nó. Mọi thứ đều đứng tách riêng khỏi những thứ khác: một tảng đá, một bướu tròn của khúc cây dạt trên bãi biển được nước biển gội sạch, một đường mái nhà. Mỗi ngọn thông đều là chính nó, tách riêng khỏi những ngọn khác dù vẫn là một phần của rừng thông. Liên tưởng ra rất xa, liệu tôi có thể nói rằng những người dân ở đây cũng có cùng phẩm chất đó? Chắc chắn là tôi chưa từng gặp ở đâu những cá nhân nồng nhiệt như thế. Tôi không thích chút nào khi buộc họ làm những thứ mà họ không muốn. Tôi từng nghe nhiều câu chuyện về Isle – tôi nhớ là Isle chứ không phải Island – và được ban cho những lời khuyên rất yếm thế. Tôi chỉ xin kể lại lời răn của một người sinh trưởng ở Maine mà tôi sẽ không nêu tên do sợ bị trả đũa.
“Chớ bao giờ hỏi đường một người Maine”, người đó bảo tôi.
“Tại sao lại không?”
“Chẳng biết vì sao chúng tôi nghĩ việc chỉ cho người ta đi lạc đường là một việc rất vui. Chúng tôi không cười khi làm vậy, nhưng trong thâm tâm thì chúng tôi cười ngất. Bản tính chúng tôi là như thế”.
Tôi không biết điều này có đúng hay không. Tôi chẳng bao giờ kiểm chứng được vì mặc dù đã cố hết sức, tôi vẫn bị lạc triền miên mà chẳng cần phải có ai giúp đỡ.
Tôi đã nói về Rocinante với tất cả sự tán thưởng và thậm chí yêu mến, nhưng chưa từng nói về chiếc xe pickup có ca-bin dã ngoại gắn trên nóc. Đó là mẫu xe mới với động cơ V-6 cực khỏe. Nó có một bộ truyền động tự động và một máy phát ngoại khổ để đem lại cho tôi ánh sáng trong buồng lái nếu tôi cần. Hệ thống giải nhiệt được nạp nhiều chất chống đông đến mức chịu được cả thời tiết ở địa cực. Tôi tin rằng xe con do Mỹ sản xuất được chế tạo để chóng hỏng, và do đó buộc người ta phải thay xe mới. Nhưng đối với loại xe tải thì lại khác. Chủ xe tải cần xe chạy tốt thêm nhiều ngàn cây số so với chủ xe con. Họ không bị lóa mắt bởi bộ ghế hay cánh thăng bằng hay những vật trang trí. Họ cũng chẳng cần phải vì địa vị hay thể diện mà mỗi năm lại sắm một chiếc xe đời mới. Mọi thứ trên chiếc xe của tôi đều được chế tạo để dùng thật lâu. Khung sườn của nó rất nặng, những phần kim loại đều rất cứng cáp, động cơ thì to và khỏe. Dĩ nhiên là tôi chăm sóc nó tốt về phương diện thay dầu mỡ, và tôi không lái nó chạy hết công suất hay buộc nó phải chơi trò nhào lộn như các xe thể thao. Buồng lái của nó có vách kép và một chiếc máy sưởi tốt được gắn vào đó. Khi tôi trở về sau hơn mười sáu ngàn cây số, động cơ của nó chỉ vừa được thuần hóa xong. Nó chưa bao giờ trục trặc hay hỏng hóc trong suốt cuộc hành trình.
Tôi lái xe lên vùng bờ biển của Maine rồi đi qua Millbridge, Addison, Machias, Perry và South Robbinston, cho đến khi không còn thấy bờ biển đâu nữa. Tôi chẳng bao giờ biết hoặc đã quên mất nhiều phần của Maine chĩa lên Canada như một ngón tay cái, với New Brunswick ở phía đông. Chúng ta biết quá ít về địa lý nước nhà. Maine trải lên phía bắc, lên đến sát miệng sông St. Lawrence, và từ ranh giới bên trên của nó có lẽ đi chừngmột trăm sáu mươi cây số nữa lên phía bắc là đến Quebec[4]. Một điều nữa mà tôi thỉnh thoảng vẫn hay quên, đó là nước Mỹ to khủng khiếp như thế nào. Khi tôi lái xe lên phía bắc, băng qua những thị trấn nhỏ, và rừng ngày một nhiều cứ trôi dần về phía chân trời, mùa màng cũng thay đổi rất nhanh chóng và đột ngột. Có thể do tôi vừa rời xa khỏi những vùng chỉ có biển là biển, và cũng có thể tôi đã đi được rất xa lên phương Bắc. Những ngôi nhà mang cái vẻ bị tuyết vùi dập, nhiều nhà bị sập và bỏ hoang, bị những mùa đông dúi xuống mặt đất. Trừ các thị trấn ra, không thấy đâu bằng chứng có dân cư từng sinh sống, trồng trọt, kiếm ăn rồi từ đó mà bị đẩy đi nơi khác. Rừng đang hối hả quay về, và ở nơi mà trước kia chỉ có xe ngựa kéo thì nay toàn những xe tải lớn chở cây rầm rập chạy. Và thú săn cũng trở lại. Hươu đi lang thang trên đường và có cả dấu vết của gấu nữa.
Có những tập quán, thái độ, truyền thuyết. Cùng với những chỉ dẫn, những thay đổi, chúng có vẻ như là một phần cấu trúc của nước Mỹ. Và tôi xin đề nghị chúng ta hãy thảo luận về chúng vì chúng là những thứ đầu tiên khiến tôi chú ý. Trong khi các thảo luận này diễn ra, bạn hãy hình dung ra cái cảnh tôi đang lom khom đi trên con đường nhỏ hoặc ngoi lên từ sau một chiếc cầu, hoặc đang nấu hạt đậu lima[5] và thịt lợn muối trong một chiếc nồi lớn. Và một trong những cảnh đầu tiên sẽ liên quan đến chuyện săn bắn. Tôi có chạy đằng trời cũng không thoát khỏi chuyện săn bắn nếu trong lòng đã muốn, vì mùa săn luôn làm cho mùa thu thêm lung linh. Chúng ta đã thừa hưởng nhiều hành vi từ các tổ tiên gần đây của mình, những người đã vật lộn với lục địa này giống như Jacob vật lộn với thiên thần[6], và những người tiên phong đã chiến thắng. Chính từ họ, chúng ta mang niềm tin rằng mọi người Mỹ đều là những thợ săn bẩm sinh. Và cứ đến mỗi mùa thu, ta lại thấy rất nhiều người đàn ông lên đường để chứng tỏ rằng nếu không có tài năng, sự khổ luyện, kiến thức, sự thành thạo thì họ sẽ bị bắn chết bởi súng trường hay súng săn. Kết cục thật là tàn nhẫn. Từ lúc tôi rời cảng Sag Harbor, các khẩu súng của tôi đã từng nã vào những con vịt di cư, và khi tôi lái xe ở Maine, những phát súng trường bắn vào rừng của tôi là nhằm dọa nạt những kẻ xấu trước khi chúng kịp biết chuyện gì xảy ra. Điều này chắc chắn làm hoen ố ít nhiều thanh danh nhà thể thao của tôi, nhưng tôi xin nói ngay rằng tôi không hề chống đối gì việc sát hại động vật. Đằng nào chúng cũng chết vì một thứ gì đó, tôi nghĩ vậy. Hồi còn trẻ, tôi thường trườn sấp hàng dặm đường, vượt qua những cơn gió lạnh cóng chỉ thuần túy vì sự vinh quang được nã đạn vào một con gà gô mà dù có ngâm trong nước muối cũng chẳng ngon lành gì để mà ăn. Tôi không quan tâm lắm đến thịt nai, thịt gấu, thịt hươu ngoại trừ gan của chúng. Với những công thức nấu nướng, rau thơm, rượu, sự pha chế để có một món thịt nai ngon, người ta cũng có thể biến một chiếc giày cũ thành một món ăn tuyệt hảo. Nếu đói, tôi sẽ chẳng ngại ngần săn bắt bất cứ con vật nào biết chạy, biết bò hay biết bay, và tôi sẽ dùng răng để xé xác chúng ra. Nhưng không phải là cái đói đã đẩy hàng triệu người đàn ông Mỹ vũ trang đi đến các khu rừng và ngọn đồi vào mỗi mùa thu, như tỉ lệ người bị bệnh tim cao trong số những người đi săn đã chứng minh. Theo một cách nào đó, việc săn bắn có liên quan đến nam tính, nhưng tôi không rõ là cách nào. Tôi biết một số tay săn giỏi và hiệu quả. Họ biết mình đang làm gì. Nhưng một số đông hơn hẳn là những quý ông béo phì, sặc sụa mùi whisky và vũ trang bằng những khẩu súng trường cực mạnh. Họ nã đạn vào bất cứ vật gì di động hoặc có vẻ như di động, và sự thành công của họ trong việc giết chóc lẫn nhau rất có thể đã góp phần vào việc ngăn ngừa bùng nổ dân số. Nếu những vật bị giết chỉ giới hạn trong số những người cùng một duộc với họ thì cũng chẳng có vấn đề gì, nhưng sự tàn sát bò, lợn, nông dân, chó và các biển hiệu đường sá làm cho mùa thu trở thành một mùa nguy hiểm để đi du lịch. Một chủ trang trại ở phía bắc bang New York đã dùng sơn đen kẻ chữ “bò” rất lớn lên cả hai bên lườn con bò mộng trắng của ông ta, nhưng các tay săn vẫn cứ bắn nó. Ở Wisconsin, lúc tôi đi ngang qua, một tay săn đã bắn vào giữa hai bả vai người hướng dẫn của mình. Nhân viên điều tra hỏi gã thợ săn tài ba này: “Ông nghĩ anh ta là con hươu à?”
“Vâng, thưa ông”.
“Nhưng ông có chắc anh ta là con hươu không?”
“Không, tôi nghĩ là không”.
Với những vụ nổ súng nhộn nhịp đang diễn ra ở Maine, dĩ nhiên tôi phải lo cho bản thân. Bốn chiếc xe hơi đã bị trúng đạn ngay giữa ban ngày. Nhưng chủ yếu là tôi lo cho Charley. Tôi biết rằng, đối với một trong các tay săn đó, con chó xù trông rất giống con hươu đực, cho nên tôi phải tìm ra cách nào đó để bảo vệ nó. Trong Rocinante có một chiếc hộp đựng khăn giấy Kleenex mà ai đó đã tặng tôi làm quà. Tôi dùng khăn giấy Kleenex đỏ bọc đuôi của Charley và lấy giây thun cột lại. Mỗi buổi sáng, tôi thay mới ngọn cờ này và Charley đã mang nó suốt chặng đường đi về phía tây giữa tiếng đạn réo rít quanh chúng tôi. Việc này không phải làm cho vui. Nhà đài cảnh báo rằng không nên cầm khăn tay trắng. Có quá nhiều tay săn thoáng thấy màu trắng là tưởng ngay đó là đuôi một con hươu đang chạy và bèn chữa cơn nghiện của mình bằng một phát súng.
Nhưng di sản này của người đi mở cõi không phải là điều gì mới lạ. Khi tôi còn bé và sống ở một trang trại gần Salinas, California, gia đình tôi có một người đầu bếp Trung Hoa, anh ta thường xuyên tận dụng được di sản này để làm một điều tốt đẹp nho nhỏ. Bên lề một dải đất hẹp của ngọn đồi gần đó có một cây ngô đồng bị đổ, nằm gối lên hai chiếc cành gãy của nó. Lee để ý thấy có một vết lõm màu nâu vàng trên vỏ cây do một viên đạn xuyên vào. Ông ta bèn lấy một cặp sừng, đóng đinh vào một bên đầu cây rồi rút về căn buồng của ông ta nằm khoèo cho đến khi mùa săn hươu qua đi. Sau đó, ông ta đã thu hoạch được mẻ chì của mình từ khúc cây già kia. Vào một số mùa săn, ông ta gom được đến hăm lăm, ba chục ký đạn. Đó không phải là một gia tài nhưng đó cũng là tiền. Sau vài năm, khúc cây bị bắn nát bét. Lee bèn thay nó bằng bốn bao cát rồi gắn lại cặp sừng cũ. Việc thu hoạch của ông ta lại càng dễ dàng hơn nữa. Nếu ông ta bố trí chừng năm chục mục tiêu như thế thì ông ta sẽ có cả một gia tài, nhưng Lee lại là một người đàn ông khiêm tốn, không hề quan tâm đến việc sản xuất hàng loạt.
❀ ❀ ❀
[1] 13 thuộc địa của Anh được thành lập ở bờ Đại Tây Dương của Bắc Mỹ và tồn tại hơn 100 năm, từ 1607 đến 1733. Đây là những bang đầu tiên và lâu đời nhất của nước Mỹ.
[2] Ở đây có lẽ tác giả đề cập đến bốn gương mặt tổng thống Hoa Kỳ được tạc vào khối đá granite trên núi Rushmore, với ám chỉ khuôn mặt của ông sĩ quan này uy nghi hay cứng rắn như tượng đá.
[3] Một hòn đảo ở biển Ai-len.
[4] Thuộc Canada.
[5] Hạt đậu có nguồn gốc từ Nam Mỹ.
[6] Đây là một điển tích trong Kinh Thánh. Jacob là giáo trưởng thứ ba của người Hebrew và được xem là ông tổ của người Israel.