Tôi, Charley Và Hành Trình Nước Mỹ

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 18 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
13

❊ ❊ ❊

Tôi đã nói về sự thay đổi ở các đường biên giới bang, những thay đổi trong tiếng Anh trên các đường cao tốc, trong dạng hành văn của các tấm biển, trong tốc độ cho phép. Các quyền của bang được đảm bảo theo Hiến pháp có vẻ như đã được thực thi một cách đầy nhiệt tình và hân hoan. California khám xe để tìm rau và trái cây, vốn được cho là có thể mang theo những loại côn trùng và dịch bệnh nguy hại, và những điều luật như thế được thực thi với một sự nồng nhiệt hầu như là tôn giáo.

Vài năm trước đây, tôi có quen một gia đình vui nhộn và sáng tạo đến từ Idaho. Lên kế hoạch viếng thăm họ hàng ở California, họ mang theo một xe chất đầy khoai tây để bán dọc đường nhằm bù đắp các chi phí. Họ giải quyết được phân nửa lô hàng thì đến biên giới California, và đống khoai tây của họ bị từ chối không cho vào. Họ không đủ khả năng tài chính để bỏ chỗ khoai tây đó lại, vì vậy họ vui vẻ cắm trại ngay tại đường biên giới, nơi mà họ ăn khoai tây, bán khoai tây, trao đổi khoai tây. Sau hai tuần lễ, chiếc xe trống rỗng. Thế là họ đường đường chính chính đi đến trạm kiểm tra và tiếp tục cuộc hành trình.

Tính cục bộ của các bang, thường được chua chát gọi là Balkanization[1], đã tạo ra rất nhiều vấn đề. Rất hiếm khi hai bang có cùng mức thuế đánh lên xăng giống nhau, mà các thuế này hậu thuẫn rất nhiều cho việc xây dựng và bảo trì các đường cao tốc. Những xe tải khổng lồ đi xuyên bang thường sử dụng các con đường này và chính tải trọng và tốc độ của chúng đã làm tăng chi phí bảo trì. Cho nên các bang đều có trạm cân xe tải, nơi tải trọng được đong đo và tính thuế. Và nếu như có sự chênh lệch trong thuế xăng thì bồn xăng cũng được đong và tính thuế nốt. Các biển hiệu ghi, “Xe tải dừng lại”. Vì cũng bị xem là xe tải nên tôi dừng lại, chỉ để chờ được ngoắc cho qua trạm cân. Người ta không màng lắm đến các loại xe như của tôi. Nhưng đôi lúc tôi cũng dừng lại trò chuyện với các thanh tra khi họ không quá bận bịu. Và việc này dẫn tôi đến chủ đề về cảnh sát bang. Như hầu hết người Mỹ, tôi không ưa cớm và những cuộc điều tra dày đặc của các lực lượng thành phố về nạn hối lộ, bạo lực. Cái danh sách dài đầy ấn tượng của họ về những hoạt động phạm pháp không hề trấn an tôi. Nhưng sự thù ghét của tôi không mở rộng cho các cảnh sát tiểu bang mà nay được duy trì ở hầu khắp đất nước. Bằng cách đơn giản là tuyển dụng những người thông minh và có giáo dục, trả lương họ xứng đáng, và kéo họ ra khỏi các chi phối chính trị, nhiều bang đã thành công trong việc tạo ra một lực lượng ưu tú, đảm bảo sự phục vụ của họ bằng phẩm giá và sự kiêu hãnh. Thỉnh thoảng, các thành phố của chúng ta cũng cảm thấy cần thiết phải tái tổ chức lại đội ngũ cảnh sát của họ theo hình mẫu của cảnh sát bang. Nhưng điều này sẽ chẳng bao giờ xảy ra khi mà các tổ chức chính trị còn nắm quyền lực, dù là chỉ chút ít, để tưởng thưởng hay trừng phạt.

Băng qua sông Colorado từ Needles, những bờ thành đen đúa và lởm chởm của Arizona vươn cao lên bầu trời, và phía sau chúng là một đồng bằng dông dốc, một lần nữa dâng lên tận cột sống của lục địa. Đã nhiều lần đi qua nên tôi biết con đường này quá rõ – Kingman, Ash Fork, Flagstaff với những đỉnh núi ở phía sau, rồi đến Winslow, Holbrook, Sanders nằm dưới đồi rồi dâng lên trở lại, và rồi Arizona được vượt qua. Các thị trấn hơi lớn hơn và sáng sủa hơn đôi chút so với trí nhớ của tôi, các khách sạn cũng lớn hơn và sang trọng hơn.

Tôi vượt biên giới vào New Mexico, phóng vội qua Gallup trong đêm và cắm trại trên Phân tuyến Lục địa – và điều còn độc đáo hơn thế là nó nằm ở đây chứ không phải phía bắc. Ban đêm rất lạnh và khô, và các ngôi sao thì rất sắc. Tôi lái xe vào một khe núi nhỏ cho khuất gió và đậu lại gần đống chai vỡ – chai whisky và gin, có đến hàng vạn chai. Tôi không rõ vì sao chúng lại nằm nơi đây.

Tôi ngồi trên ghế và đối diện với điều mà tôi đã giấu giếm chính mình. Tôi đã cắm cúi lái xe đi, xóc nảy trên bao dặm đường bởi vì tôi đã không còn nghe thấy và nhìn thấy gì nữa. Tôi đã vượt qua cái giới hạn để thu nạp hoặc, giống như một người cứ tiếp tục nạp thức ăn sau khi đã no, tôi cảm thấy vô vọng trong việc tiêu thụ những gì tôi đã nạp vào qua đôi mắt. Mỗi ngọn đồi đều giống như ngọn đồi vừa đi qua. Tôi đã cảm thấy như thế tại bảo tàng Prado ở Madrid sau khi xem hàng trăm bức họa. Đó là cái cảm giác bít bùng và vô vọng của việc mất khả năng xem tiếp.

Có lẽ đã đến lúc tìm một nơi trú ẩn bên cạnh một dòng suối để nghỉ ngơi và làm mới lại mình. Ngồi ở chỗ ghế tăm tối của nó bên cạnh tôi, Charley nhắc nhở tôi về một sự khó khăn của nó bằng những tiếng thở dài than vãn nho nhỏ. Tôi thậm chí đã quên cả nó. Tôi cho nó ra ngoài và nó loạng choạng đi ra ngọn núi vỏ chai vỡ, đánh hơi một hồi rồi hướng ra nơi khác.

Không khí ban đêm rất lạnh, lạnh điếng người, cho nên tôi thắp sáng ca-bin và bật bếp gas lên để làm nóng không khí. Ca-bin không được ngăn nắp lắm. Giường của tôi vẫn chưa dọn và các đĩa thức ăn điểm tâm vẫn còn nằm chỏng chơ trong bồn rửa. Tôi ngồi trên giường nhìn khung cảnh ảm đạm ở xung quanh. Cớ sao tôi lại nghĩ mình có thể biết được gì từ vùng đất này? Trong hàng trăm dặm cuối, tôi đã tránh gặp người. Ngay cả khi buộc phải dừng lại để đổ xăng, tôi cũng chỉ trả lời nhát gừng và và không lưu giữ một hình ảnh nào. Cả mắt lẫn tâm trí tôi đều phản lại tôi. Tôi đã lừa dối chính mình rằng nơi đó là quan trọng và có nhiều thông tin. Dĩ nhiên, có một phương thuốc luôn sẵn sàng. Tôi với lấy chai whisky mà không buồn ngồi dậy, rót ra một nửa ly, ngửi nó, rồi rót trở lại vào chai. Cái này không phải là phương thuốc.

Charley vẫn chưa về. Tôi mở cửa, huýt sáo gọi và không nhận được câu trả lời nào. Điều đó làm tôi giật mình. Tôi chộp lấy cây đèn pha và xoay chùm sáng về phía khe núi. Ánh sáng lóe ra từ hai con mắt ở cách đó chừng bốn mươi lăm mét. Tôi chạy lên theo con đường mòn và phát hiện nó đang đứng nhìn vào hư không, hệt như tôi ban nãy.

“Có chuyện gì vậy, Charley, mày có ổn không đấy?”

Chiếc đuôi của nó chầm chậm đong đưa câu trả lời. “Ồ, ổn chứ. Rất ổn, tôi nghĩ thế”.

“Tại sao tao huýt sáo mà mày không trả lời?”

“Tôi có nghe ông huýt sáo đâu”.

“Mày nhìn cái gì vậy?”

“Tôi cũng không biết nữa. Chắc là chẳng gì cả”.

“Thôi được, mày có muốn ăn tối không?”

“Tôi không thấy đói lắm. Tôi sẽ giả no vậy”.

Trở về ca-bin, nó nằm đánh phịch xuống sàn, đặt chiếc má lên hai bàn chân.

“Leo lên giường đi nào, Charley. Ta cùng sầu khổ với nhau nhé”. Nó tuân theo nhưng không mấy nhiệt tình. Tôi luồn các ngón tay vào phần lông trên đầu nó, gãi gãi phía sau hai tai theo cách mà nó thích. “Thấy thế nào?”

Nó nghiêng nghiêng cái đầu. “Ra trái một chút. Đúng rồi. Chỗ đấy đấy”.

“Chúng ta là những nhà thám hiểm thảm hại. Vài bữa nữa chúng ta sẽ mắc chứng đau thắt bụng thôi. Người da trắng đầu tiên đi qua đây, tao nghĩ tên ông ta là Narváez và tao nhớ hình như cuộc rong chơi nho nhỏ của ông ta đã mất đến sáu năm trời. Nhiều hơn nữa đấy. Tao sẽ coi lại. Không, là tám năm, từ năm 1528 đến năm 1536. Và bản thân Narváez cũng không đi được đến đích. Tuy vậy, bốn người trong đoàn của ông ta đã làm được. Tao tự hỏi không biết họ có mắc chứng đau thắt bụng không. Chúng ta mềm yếu lắm, Charley à. Có lẽ đã đến lúc phải chải chuốt lại chút đỉnh. Sinh nhật của mày là khi nào ấy nhỉ?”

“Tôi không biết. Chắc là cũng giống như ngựa thôi, ngày một tháng Giêng ấy”.

“Hay có khi là bữa nay?”

“Biết đâu đấy”.

“Tao sẽ làm cho mày một ổ bánh. Bánh kếp thôi vì đó là thứ mà tao có. Bơm đầy xi-rô vào rồi cắm cây nến trên đỉnh”.

Charley nhìn tôi ra tay với ít nhiều vẻ chú ý. Cái đuôi ngốc nghếch của nó phát ra những lời trò chuyện tinh tế. “Ai mà thấy ông làm bánh sinh nhật cho con chó mà thậm chí không biết nó sinh ra ngày nào chắc sẽ nghĩ ông bị khùng”.

“Mày mà không nói năng tử tế hơn thế bằng cái đuôi của mày thì thà là mày không biết nói còn hơn”.

Tôi đã xoay xở khá tài tình: bốn lớp bánh kếp với xirô kẹp giữa và một mẩu nến thợ mỏ trên đỉnh. Tôi uống mừng sức khỏe Charley với whisky nguyên chất trong khi nó ăn bánh và liếm láp xi-rô. Và cả hai chúng tôi đều thấy dễ chịu hơn. Nhưng đoàn người của Narváez vẫn lởn vởn trong óc tôi. Tám năm trời. Thuở đó quả là có những người đàn ông đích thực.

Charley liếm chỗ xi-rô dây trên lông mép nó. “Điều gì khiến ông thẫn thờ vậy?”

“Đó là vì tao đã không thấy gì. Khi chuyện đó xảy ra, người ta thường nghĩ mình sẽ không thấy gì nữa”.

Nó đứng dậy, duỗi mình, đầu tiên ra phía trước rồi tiếp đến ra sau. “Ta tản bộ lên đồi chút đi”, nó gợi ý. “Có thể ông sẽ thấy trở lại”.

Chúng tôi thám thính đống chai whisky vỡ rồi leo tiếp lên đường mòn. Không khí lạnh khô toát ra khỏi chúng tôi thành từng màn hơi. Một con thú lớn nào đó đã phóng lên ngọn đồi đá vụn, hay có lẽ chỉ là một con thú nhỏ và một cơn sạt lở be bé.

“Cái mũi của mày nói đó là con gì vậy?”

“Tôi chẳng nhận ra con gì cả. Nó có cái mùi như mùi xạ. Dù thế nào, tôi cũng chẳng rượt theo nó đâu”.

Màn đêm đen kịt đến mức khiến tôi nổi da gà. Cây đèn của tôi bắt được một tia đáp trả đến từ bờ đá dốc. Tôi leo lên, bị trượt chân, loạng choạng, để lạc mất tia phản hồi và tìm lại được nó. Thì ra là một tảng đá nhỏ mới bị vỡ, bên trên có một mẩu mi-ca. Chẳng phải là một gia tài gì, nhưng cũng là một món vật hay hay đáng để có. Tôi nhét nó vào túi rồi chúng tôi đi về ngủ.

❀ ❀ ❀

[1] Thuật ngữ này có nguồn gốc từ việc phân chia bán đảo Balkan, vốn trước đó nằm dưới chủ quyền của đế chế Ottoman, thành hàng loạt những nhà nước nhỏ từ năm 1817 đến 1912.

harley và hành trình nước Mỹ Cánh cửa mở rộng ebook©MotSAch TVE-4u©VCTVEGROUP —★— Nhà xuất bản: NXB Trẻ 03/2012
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.