Khi khởi đầu bản tường thuật này, tôi biết sớm muộn gì tôi cũng phải đến Texas và tôi sợ điều đó. Tôi có thể tránh Texas cũng dễ dàng như một nhà du hành vũ trụ né tránh dải Ngân hà. Nó cắm cái cán chảo lớn Panhandle[1] lên phía bắc, còn phần sườn nhô ra của nó thì nằm dọc theo sông Rio Grande. Một khi bạn đã vào đến Texas thì có thể bạn sẽ mãi mãi không ra được, và một số người đã bị như thế.
Tôi xin nói ngay từ đầu rằng dù tôi có muốn tránh Texas thì cũng không thể được, bởi lẽ tôi đã cưới vợ người Texas, có mẹ vợ, có chú, có dì, có anh em họ hàng ở cả đó, tất cả đều rất gần gũi gắn bó với tôi. Tránh Texas về mặt địa lý cũng không xong nốt, vì Texas nằm trên đường về nhà chúng tôi ở New York, trên đường về căn nhà câu cá của chúng tôi ở Sag Harbor, và hồi tôi có căn hộ ở Paris thì Texas cũng nằm ở dọc đường. Nó thẩm thấu vào thế giới ở một mức độ buồn cười. Có lần, ở Florence, khi gặp một công chúa nhỏ người Ý xinh xắn, tôi đã nói với cha của bé, “Sao trông bé không giống người Ý nhỉ? Cũng lạ thật, bé lại giống người Mỹ da đỏ cơ đấy”. Người cha trả lời, “Tại sao lại không? Bà ngoại bé là người da đỏ Cherokee Texas mà”.
Các nhà văn khi đối mặt với Texas thường thấy mình lúng túng bởi tính lửng lơ của nó, và tôi không phải là ngoại lệ. Texas là một bang của tâm thức. Texas là một nỗi ám ảnh. Vượt lên trên tất cả, Texas là một quốc gia theo mọi nghĩa của từ này. Có một thành ngữ nói lên tính lửng lơ của Texas. Một người Texas ở bên ngoài Texas là một người nước ngoài. Vợ tôi thường tự nhận mình là một người Texas mất gốc, nhưng điều đó chỉ đúng một phần mà thôi. Bình thường cô ấy nói hầu như không có thổ âm, nhưng khi gặp một người Texas thì lại khác, cô ấy chuyển giọng hoàn toàn. Chẳng cần phải vất vả gì để tìm ra gốc gác của cô ấy. Cô ấy phát âm những từ như yes, air, hair, guess với hai âm tiết: yayus, ayer, hayer, gayus. Đôi khi, vào những lúc mệt nhọc, từ ink cũng chuyển thành ank. Con gái của chúng tôi, sau một thời gian dài sống ở Austin[2], đã đưa bạn bè của nó đến thăm New York. Nó nói, “Ba có cây kim không?”[3]
“Tất nhiên rồi, con gái”, tôi đáp. “Con muốn kim gút hay kim băng?”
“Con muốn mượn cây bút máy cơ”.[4]
Tôi đã nghiên cứu vấn đề Texas dưới nhiều góc độ và trong suốt nhiều năm. Và dĩ nhiên, cứ mỗi khi tôi đến được “chân lý” là y như rằng lại có một chân lý khác phủ định nó. Tôi nghĩ, khi ở bên ngoài bang của mình, người Texas thường hơi lo lắng và rất căng thẳng trong các cảm xúc của họ. Những phẩm chất của họ đã tạo ra những kiểu nói thánh nói tướng, kiêu ngạo và tự mãn một cách ồn ào, tức các biểu hiện của một đứa trẻ nhút nhát. Ở quê nhà mình, người Texas không phải là như thế. Những người Texas mà tôi biết đều rất duyên dáng, thân thiện, hào phóng và trầm lặng. Ở New York thì chúng tôi lại rất thường nghe họ huênh hoang về những bản sắc quý báu của họ. Texas là bang duy nhất gia nhập Liên minh bằng hiệp ước[5]. Nó vẫn có quyền ly khai nếu nó muốn. Chúng tôi nghe người ta dọa dẫm ly khai nhiều đến mức tôi đã lập ra một tổ chức thiện nguyện mang tên Những người bạn Mỹ ủng hộ Texas ly khai. Hành động này khiến cho chủ đề trên hạ nhiệt ngay lập tức. Họ muốn có khả năng ly khai nhưng họ không muốn người khác muốn họ làm vậy.
Như tất cả các quốc gia giàu nhiệt huyết, Texas cũng có lịch sử riêng của nó dựa trên các sự kiện nhưng không chỉ có vậy. Truyền thống cứng cỏi và tháo vát của những người dân biên giới là đúng tuy không phải của riêng họ. Chỉ một số ít người biết rằng vào cái thời hoàng kim xa xưa của Virginia có ba loại hình phạt như sau cho các tội nặng: xử tử, trục xuất sang Texas và bỏ tù, xếp theo mức độ nghiêm trọng. Và một số những kẻ bị trục xuất chắc là phải có những hậu duệ.
Một lần nữa, cuộc tử thủ đầy vinh quang để bảo vệ Alamo[6] trước những đoàn quân của Santa Anna[7] là một sự kiện. Những đoàn quân dũng cảm người Texas thực sự đã giành lấy quyền tự quyết từ tay Mexico, mà tự do, tự quyết lại là những từ ngữ nghe linh thiêng lắm. Nhưng ta phải gặp những nhà quan sát đương đại ở châu Âu mới tìm được những ý kiến không-Texas về bản chất của sự chuyên chế đã làm nảy sinh nhu cầu một cuộc nổi dậy. Các nhà quan sát này nói rằng người Texas không muốn trả thuế nữa, thứ đến là Mexico đã bãi bỏ chế độ nô lệ vào năm 1829 và Texas – vốn là một phần của Mexico – được yêu cầu phải thả các nô lệ. Dĩ nhiên, cuộc nổi dậy cũng có thể vì những nguyên nhân khác, nhưng hai nguyên nhân này là đáng chú ý nhất đối với người châu Âu... và rất hiếm khi được nhắc đến tại đây.
Tôi đã nói Texas là bang của tâm thức, nhưng tôi nghĩ có khi nó còn hơn thế. Đó là một dạng thần bí rất gần gũi với tôn giáo. Và nó rất đúng theo nghĩa người ta sẽ hoặc là yêu Texas một cách say mê hoặc là ghét nó một cách điên cuồng. Giống như trong các tôn giáo khác, rất ít người dám khảo sát về nó vì sợ sẽ mất đi mối dây liên lạc của mình với sự thần bí và nghịch biện. Mọi quan sát của tôi đều có thể nhanh chóng bị bác bỏ bởi một ý kiến khác hay một quan sát đối nghịch. Nhưng tôi nghĩ, trong các cảm nhận của tôi về Texas, có một điều chắc sẽ không gây cãi vã nhiều. Do diện tích rộng lớn của nó, do sự đa dạng về khí hậu, do sự khác biệt ở vẻ bề ngoài của người dân, và do tất cả những cuộc cãi cọ, tranh giành và đấu đá nội bộ của nó, Texas có một sự cố kết có lẽ là mạnh hơn so với bất kỳ vùng miền nào khác của nước Mỹ. Người giàu, người nghèo, người Panhandle, người vùng Vịnh, người thành phố, người nông thôn, Texas là một nỗi ám ảnh, một trường hợp cá biệt và là sự sở hữu đầy đam mê của người Texas. Vài năm trước đây, Edna Ferber có viết một cuốn sách về một nhóm nhỏ người Texas rất giàu có. Theo như hiểu biết của tôi thì mô tả của bà rất chuẩn xác, nhưng điểm nhấn lại có phần miệt thị. Lập tức, cuốn sách bị tấn công bởi người Texas thuộc tất cả các nhóm, các tầng lớp, các hội đoàn. Tấn công một người Texas đồng nghĩa với “lãnh đạn” từ tất cả mọi người Texas. Mặt khác, cách đùa của người Texas lại là độc nhất vô nhị, rất đáng yêu và trong phần lớn trường hợp đều có xuất xứ từ Texas.
Truyền thống của những người chăn bò vùng biên giới được chắt chiu nuôi dưỡng giống như ở Anh người ta từng chắt chiu huyết thống Norman[8] vậy. Và mặc dù nhiều gia đình có nguồn gốc từ những binh lính thực dân sang đánh thuê chứ không phải là những công nhân thời vụ Mexico như hiện nay, tất cả đều đeo bám vào giấc mơ tiếng rống của bò sừng dài[9] và chân trời không rào chắn. Khi một người phất lên nhờ dầu hỏa, nhờ các hợp đồng chính phủ, nhờ buôn bán hóa chất hay nhờ bán sỉ hàng tạp phẩm, hành động đầu tiên của anh ta là mua một trang trại, càng lớn càng tốt, và gầy dựng một đàn bò. Nghe nói ai muốn ứng cử vào cơ quan công quyền mà không có trang trại riêng thì sẽ khó lòng mà được chọn. Truyền thống gắn bó với đất đai đã ăn sâu vào tâm lý người Texas. Các doanh nhân vẫn mang ủng có gót thúc dù chẳng một lần cảm nhận bàn đạp ngựa. Những người giàu có, dù sở hữu nhà cửa tại Paris và đi săn gà gô ở Scotland, vẫn cứ tự xem mình là một cậu bé đồng quê. Thái độ này rất dễ bị cười nhạo nếu ta biết rằng cũng bằng cách đó mà họ giữ vững sự liên kết với sinh lực và sự mộc mạc của đất. Một cách bản năng, họ cảm thấy đất đai không chỉ là nguồn gốc của sự phồn vinh mà còn là nguồn gốc của năng lượng. Mà năng lượng ở người Texas thì vô biên và bùng phát. Một người Texas thành công với trang trại của mình, chí ít theo kinh nghiệm của tôi, là một chủ nhân có mặt thường trực. Anh ta làm mọi việc ở trang trại, giám sát đàn gia súc của mình và bổ sung thêm số lượng. Trong một khí hậu nóng đến kinh ngạc thì năng lượng của người Texas cũng cao đến kinh ngạc. Và truyền thống lao động cần cù đã được duy trì tốt cho dù người ta giàu hay nghèo.
Sức mạnh của một thái độ quả là kinh khủng. Một trong các khuynh hướng đáng chú ý của Texas là tính chất quân sự của nó. Quân đội Mỹ đầy ắp những người Texas và thường bị thống trị bởi người Texas. Ngay cả những môn thể thao được ưa chuộng, thu hút nhiều chú ý cũng được điều hành giống như hoạt động quân sự. Không nơi nào khác có những ban nhạc lễ hội lớn hơn. Cũng không nơi nào có nhiều tổ chức tuần hành hơn, với những đội thiếu nữ mặc đồng phục xoay xoay những cây gậy lấp lánh. Những trận bóng bầu dục mang đậm tính cục bộ đều có hơi hám sự vinh quang và tuyệt vọng của chiến tranh. Và khi đội bóng Texas ra sân thi đấu với một bang khác thì luôn có nguyên cả một đoàn quân mang biểu ngữ.
Nếu tôi cứ nhắc hoài về năng lượng của người Texas thì đó là vì tôi biết rất rõ điều đó. Tôi có cảm giác chính sự năng động này đã cho phép, đã tạo ra làn sóng những người di cư đến chinh phục trong các thời kỳ trước đây. Đất đai ở Texas rất giàu khả năng phục hồi. Nếu không thế thì tôi đồ rằng năng lượng không ngơi nghỉ của người Texas sẽ chuyển ra bên ngoài để chinh phục những vùng đất mới. Niềm tin này ít nhiều được minh họa cả trong hoạt động không ngơi nghỉ của thủ phủ Texas. Tuy nhiên, ngày nay, việc chinh phục được tiến hành thông qua hoạt động thu mua chứ không phải bằng khí giới nữa. Những sa mạc dầu hỏa ở Cận Đông, những khu đất mở ở Nam Mỹ đã cảm nhận cơn khát. Rồi tiếp đến là những hòn đảo mới của sự chinh phục tư bản: các nhà máy ở Trung Tây, các cơ sở chế biến thực phẩm, sản xuất công cụ, xẻ gỗ và bột giấy. Ngay cả những nhà xuất bản cũng góp phần vào các chiến lợi phẩm hợp pháp trong thế kỳ hai mươi của Texas. Không có triết lý nào cho các quan sát này, và cũng không có sự cảnh báo nào. Năng lượng thì phải có đầu ra và nó sẽ đi tìm đầu ra.
Trong mọi thời đại, một khi đã xác lập được chỗ đứng của mình trên thế giới, các quốc gia giàu có, năng động và thành công sẽ cảm thấy đói nghệ thuật, đói văn hóa, thậm chí đói cả học thức và sắc đẹp. Các thành phố của Texas bành trướng theo cả chiều cao lẫn chiều rộng. Các trường đại học chứa đầy ắp những tài năng.
Các nhà hát và dàn nhạc giao hưởng mọc lên như nấm chỉ qua một đêm. Trong mọi sự trỗi dậy sôi sục của năng lượng và nhiệt tình bao giờ cũng có những lầm lỗi và tính toán sai, thậm chí cả những đánh giá sai và thẩm mỹ sai. Và điều đó luôn đi kèm những chỉ trích không xây dựng nhằm làm mất uy tín, nhằm nhạo báng, nhằm tỏ ra ghê tởm hay khinh khi. Mối quan tâm của tôi chỉ tập trung vào cái thực tế là những điều này đã diễn ra thôi, chứ những thất bại đáng nực cười thì có đến hàng vạn. Tuy nhiên, trong lịch sử thế giới, các nghệ sĩ luôn bị cuốn hút đến những nơi nào mà họ được chào đón và đối xử tốt.
Bản sắc và kích cỡ của Texas khuyến khích tính lửng lơ của nó, mà tính lửng lơ lại thường kết thúc bằng một nghịch lý: “cậu bé nhà quê” đi nghe nhạc giao hưởng, chủ trang trại mang giày ống và quần jean xanh đến cửa hàng thời trang Neiman-Marcus mua ngọc bích Trung Hoa.
Texas tiếp tục những nghịch lý của nó cả trong lĩnh vực chính trị. Xét về truyền thống lẫn sự hoài niệm thì nó là một bang Dân chủ kỳ cựu ở miền Nam, nhưng điều này cũng không ngăn nó bỏ phiếu cho phe Cộng hòa bảo thủ trong các cuộc bầu cử quốc gia, trong khi vẫn bầu những người tự do vào các chức vụ ở thành phố và quận huyện. Tuyên bố ban đầu của tôi vẫn đứng vững: mọi thứ ở Texas hình như đều bị bác bỏ bởi một thứ khác.
Phần lớn lãnh thổ trên thế giới đều được xác định bởi vĩ độ và kinh độ, được mô tả về thành phần hóa học của đất, của trời, của nước, được bén rễ và mọc lên những cây cỏ xác định, được định cư bởi con người và những loài động vật được biết đến. Rồi có cả những phần lãnh thổ nơi mà ngụ ngôn, thần thoại, tiên niệm, tình yêu, nhớ nhung, hay định kiến bước vào rồi làm méo mó đi những nhận định lạnh lùng, rõ nét. Đến mức một sự lẫn lộn thần diệu, nhiều màu sắc đã trở nên thường trực. Hy Lạp là một vùng đất như thế, và cả những phần của nước Anh nơi vua Arthur từng ngự trị cũng thế. Có một phẩm chất của những nơi như thế này mà tôi cố xác định: một phần rất lớn của chúng là riêng tư và chủ quan. Và chắc chắn Texas cũng là một nơi như vậy.
Tôi đã đi qua phần lớn Texas và biết rằng bên trong các ranh giới của nó tôi đã thấy rất nhiều loại cảnh quan, đường nét, khí hậu, và hình thù như quy tụ từ khắp mọi nơi trên thế giới, ngoại trừ Bắc cực. Nhưng một làn gió mạnh từ phương Bắc cũng có thể mang xuống nơi đây hơi thở băng giá của nó. Những bình nguyên khắc nghiệt trải đến tận chân trời của Panhandle là hoàn toàn xa lạ với những ngọn đồi nhỏ rợp cây và những dòng suối ngọt ngào ở rặng Davis. Những vườn quýt xum xuê của thung lũng sông Rio Grande không hề liên quan gì đến những cánh đồng ngải đắng ở miền Nam Texas. Không khí nóng ẩm của vịnh Gulf Coast không hề giống với không khí giá lạnh của vùng Tây Bắc Panhandle. Và thủ phủ Austin trên các ngọn đồi của nó, giữa những hồ nước bao quanh, có lẽ là cả một thế giới khác so với Dallas[10].
Điều mà tôi muốn nói là không hề có sự đồng nhất về cảnh quan hay địa lý ở Texas. Sự đồng nhất này nằm trong tâm trí. Cái tên Texas trở thành một biểu tượng cho mọi thứ trên thế giới. Chắc chắn rằng huyền thoại về Texas-trong-tâm-trí thường là do thêu dệt, đôi khi không xác thực, và thường xuyên là lãng mạn, nhưng nó không khi nào làm thuyên giảm cái sức sống vốn là biểu tượng của Texas.
Sự điều tra như đã nêu về bản chất ý tưởng của Texas là khúc dạo đầu cho cuộc hành trình xuyên Texas của tôi cùng Charley trong Rocinante. Chẳng mấy chốc đã lộ rõ rằng đoạn đường này sẽ khác biệt với tất cả các đoạn đường còn lại trong chuyến đi. Thứ nhất là tôi đã biết cảnh quan nơi đây, và thứ hai là tại đây tôi có những bạn bè và bà con bên vợ, và tình thế này khiến cho tính khách quan là hầu như không thể, bởi lẽ tôi chưa thấy nơi nào mà lòng hiếu khách được thực thi một cách nồng nhiệt như ở Texas.
Nhưng trước khi diễn tả cái tính cách làm mát lòng và đôi khi làm mệt mỏi này, tôi có cư ngụ ba ngày không tên tuổi tại một khách sạn đẹp đẽ ở ngay giữa Amarillo. Một chiếc xe băng qua con đường sỏi đã làm bắn sỏi vụn, làm vỡ nguyên tấm kính cửa sổ lớn phía trước của Rocinante và nó cần được thay. Nhưng quan trọng hơn là Charley lại bộc phát căn bệnh cũ và lần này nó nguy to và rất là đau đớn. Tôi vẫn chưa quên cái ông bác sĩ bất tài ở Tây Bắc, người chẳng biết gì và cũng chẳng quan tâm gì. Và tôi vẫn còn nhớ Charley nhìn ông ta bằng ánh mắt đau đớn, hoang mang xen lẫn khinh bỉ.
Ở Amarillo, viên bác sĩ mà tôi mời tới hóa ra là một chàng trai trẻ. Anh ta đến trên một chiếc xe mui trần giá cả cỡ trung bình. Anh ta cúi xuống Charley. “Nó bị gì vậy?” Tôi giải thích những khó khăn của Charley. Hai bàn tay của viên thú y trẻ luồn xuống, sờ lên hông và chiếc bụng căng cứng, những bàn tay được huấn luyện và đầy am hiểu. Charley thở dài đánh sượt, chiếc đuôi của nó chầm chậm vẫy rồi lại buông xuống sàn. Charley giao mình vào tay anh chàng này, hoàn toàn tin tưởng. Tôi từng thấy sự mật thiết này trước đây, và nhìn nó thật dễ chịu.
Những ngón tay khỏe khoắn rờ nắn và thăm dò, rồi chàng trai đứng thẳng dậy. “Mấy chú khuyển già vẫn hay bị thế này”, anh ta nói.
“Có đúng như tôi đoán không vậy?”
“Đúng đấy. Viêm tuyến tiền liệt”.
“Anh chữa được không?”
“Được chứ. Tôi cho nó thư giãn trước đã, sau đó sẽ cho nó uống thuốc. Ông để nó lại đây chừng bốn bữa được không?”
“Không được thì cũng phải được thôi. Tôi sẽ để nó lại”.
Anh ta bế Charley lên, đưa nó ra ngoài và đặt nó lên ghế trước chiếc xe mui trần của anh ta. Chiếc đuôi bờm xờm ngoe nguẩy trên lớp da bọc ghế. Charley rất hài lòng và tin cậy, và cả tôi cũng vậy. Và đó chính là lý do tôi phải quanh quẩn ở lại Amarillo một thời gian. Đoạn kết câu chuyện này là tôi đến đón Charley bốn ngày sau và nó hoàn toàn bình phục. Viên bác sĩ đưa tôi thuốc men cho nó uống cách quãng trong khi đi đường để đảm bảo bệnh không tái phát. Tuyệt đối chẳng gì có thể thay thế được một người tốt.
Tôi không có ý định dây dưa ở Texas. Từ sau cái chết của Hollywood, bang Ngôi sao cô đơn[11] đã choán chỗ của nó, chiếm vị trí dẫn đầu những nơi được phỏng vấn, xem xét và tranh luận nhiều nhất. Nhưng mọi mô tả về Texas sẽ là không hoàn chỉnh nếu không đề cập đến những cuộc bù khú của nó, trong đó những người đàn ông giàu có và khoe mẽ ném hàng triệu đô-la của họ vào những trò phô trương nhạt nhẽo và bốc đồng. Vợ tôi bay từ New York đến để gặp tôi, và chúng tôi đã được mời đến thăm một trang trại ở Texas trong dịp lễ Tạ ơn. Trang trại này thuộc về một người bạn vẫn thỉnh thoảng đến New York, nơi chúng tôi cũng đã dành cho anh ta một cuộc bù khú. Tôi sẽ không nói tên của anh ta, giữ vững truyền thống dành quyền cho bạn đọc suy đoán. Tôi đoán rằng anh ta rất giàu có mặc dù chưa bao giờ hỏi anh ta về chuyện này. Được mời, chúng tôi đến trang trại vào buổi chiều trước cuộc bù khú dịp lễ Tạ ơn. Đó là một trang trại đẹp, có suối có hồ, có nhiều cây cối và bãi cỏ. Khắp mọi nơi, xe xúc đang moi đất lên đắp đập giữ nước, tạo ra hàng loạt những chiếc hồ mang lại sự sống ở phía trung tâm của trang trại. Bò Hereford[12] nhởn nhơ gặm cỏ, chỉ ngóc đầu lên nhìn khi chúng tôi lái xe qua, để lại phía sau cả một đám mây bụi. Tôi không rõ trang trại lớn cỡ nào. Tôi cũng chẳng hỏi chủ nhân của nó.
Ngôi nhà là một cấu trúc bằng gạch một tầng lầu, tọa lạc giữa rừng dương, trên mô đất nhỏ nhô trên một cái ao tạo thành từ con suối bị chặn. Mặt nước đục bị khuấy động bởi đám cá hồi được thả nuôi tại đó. Ngôi nhà thật tiện nghi, có ba phòng ngủ, mỗi phòng ngủ đều có phòng tắm, trang bị cả bồn tắm lẫn vòi sen. Phòng khách được dát gỗ thông nhuộm, dùng làm phòng ăn luôn thể, có lò sưởi ở một góc và tủ kính đựng súng ở kế bên. Qua cánh cửa bếp để ngỏ, có thể trông thấy những người giúp việc – một bà da sẫm đẫy đà và một cô gái lúc nào cũng khúc khích. Chủ nhà ra đón chúng tôi và giúp đưa các túi nẻo của chúng tôi vào nhà.
Cuộc bù khú bắt đầu ngay tức thì. Chúng tôi đi tắm rửa và khi vừa ló đầu ra là được trao ngay món rượu scotch và soda mà chúng tôi uống như sắp chết khát. Sau đó, chúng tôi đi xem kho thóc ở ven lối đi, khu chuồng chó trong đó có ba con chó săn, một con xem chừng không được khỏe lắm. Tiếp đến là bãi quây gia súc, nơi cô con gái của chủ trại đang huấn luyện một con ngựa đua. Đó là một con ngựa hay tên là Speckle-bottom[13]. Sau đó, chúng tôi thăm hai chiếc đập mới xây, phía sau có nước lững lờ trôi, rồi thăm tiếp nhiều khu vực uống nước thông ra chỗ một bầy nhỏ gia súc mới tậu. Cuộc thăm thú liên miên khiến chúng tôi kiệt sức, phải trở về nhà để chợp mắt đôi chút.
Khi tỉnh dậy, chúng tôi thấy bạn bè lối xóm đã kéo đến. Họ mang theo một nồi chili con carde[14] nấu theo một công thức gia đình. Đó là món thịt bò hầm ngon nhất mà tôi từng ăn. Giờ thì những người giàu khác bắt đầu lục tục đến, che giấu thân thế của mình bằng những chiếc quần jean xanh và giày ống cưỡi ngựa. Thức uống được dọn lên và một cuộc trò chuyện vui vẻ liền nổ ra liên quan đến săn bắn, cưỡi ngựa, phối giống gia súc, với nhiều trận cười rôm rả. Trong hoàng hôn, tôi ngả người vào chiếc ghế bên cửa sổ, ngắm nhìn đám gà lôi dại đang kéo về đậu thành đàn trên những ngọn cây dương đen. Chúng vụng về bay tới, phân chỗ cho nhau, rồi bất chợt hòa vào những ngọn cây và biến mất. Ít nhất ba mươi con đã kéo đến.
Khi màn đêm buông xuống, cửa sổ trở thành tấm gương, qua đó tôi quan sát anh bạn tôi và những vị khách của anh ta mà họ chẳng hề hay biết. Họ ngồi quanh quẩn trong căn phòng nhỏ lát ván ô, một số ngồi ghế xích đu và ba trong số các phụ nữ ngồi trên chiếc trường kỷ. Và tôi bị thu hút bởi sự tinh tế trong cách phô trương của họ. Một trong các phụ nữ đang thêu chiếc áo len dài tay, một người khác đang giải ô chữ, răng nghiến chặt cục tẩy ở đuôi chiếc bút màu vàng. Cánh đàn ông nói chuyện vu vơ về cỏ và nước, về một người nào đó vừa tậu một con bò vô địch từ Anh và đưa nó về bằng máy bay. Họ đều mặc quần jean màu xanh nhạt, nhạt hơn và hơi sờn một chút ở chỗ những đường may, phải qua hàng trăm lần giặt mới được như vậy.
Nhưng các chi tiết cầu kỳ không dừng lại ở đó. Giày ống được mài bên trong và tẩm mồ hôi ngựa, gót giày có vết sờn. Cổ áo phanh ra của những sơ-mi nam làm lộ ra những đường ăn nắng màu đỏ sậm trên cần cổ. Một người khách đã gặp sự cố, bị gãy mất ngón tay trỏ. Ngón này được nẹp và băng bó bằng miếng da có dây buộc cắt ra từ một chiếc găng tay. Bạn tôi đã hứng chí phục vụ cho khách từ quầy bar, nơi có một chậu đá, những chai soda một lít Anh[15], hai chai whisky và một hộp thức nhắm.
Mùi tiền phảng phất ở khắp nơi. Cô con gái của bạn tôi là một ví dụ. Cô ta ngồi trên sàn vừa lau chùi khẩu súng trường .22 vừa kể một câu chuyện tiếu lâm về việc bằng cách nào mà chàng ngựa Specklebottom của cô đã nhảy qua một cổng rào năm thanh ngang để viếng thăm một nàng ngựa ở hạt bên cạnh. Cô ta nghĩ mình có chủ quyền trong việc duy trì huyết thống của Specklebottom mặc dù nó là ngựa. Cảnh tượng này minh chứng cho những điều mà chúng ta đã nghe kể về các tỉ phú Texas lừng danh.
Tôi nhớ một lần ở khu rừng nhỏ Pacific Grove, khi tôi đang vẽ nội thất căn nhà gỗ mà cha tôi đã dựng trước cả khi tôi ra đời. Cậu bé được thuê để phụ việc ngồi vẽ ngay bên cạnh, và vì cả hai chúng tôi đều là dân nghiệp dư nên chúng tôi làm tung tóe sơn khắp mọi nơi. Bất chợt, chúng tôi nhận ra sơn đã cạn sạch. Tôi nói, “Neal, chạy ra cửa tiệm ông Holman mua giùm hai lít sơn và một lít Anh dầu pha cái coi”.
“Vậy ông đợi tôi tắm rửa thay quần áo cái đã”, cậu ta nói.
“Ngốc ạ! Cứ mặc vậy mà đi đi”.
“Dạ, không được ạ”.
“Tại sao không? Là tôi thì tôi cứ mặc như thế”.
Và rồi, cậu ta phát ra một câu nói khôn ngoan, nhớ đời. “Chắc ông phải giàu kinh khủng lắm mới dám ăn mặc bê bối như thế”, cậu ta nói.
Điều đó chẳng có gì là khôi hài cả. Nó quá đúng! Và nó cũng đúng trong cuộc bù khú này. Những người Texas này hẳn phải giàu khủng khiếp lắm mới sống giản dị như thế.
Tôi cùng vợ đi tản bộ vòng quanh ao cá hồi rồi ra trước ngọn đồi. Trời se lạnh và gió từ phương Bắc có mang theo cả mùa đông. Chúng tôi cố nghe ngóng tiếng ếch kêu, nhưng chúng đã trốn đông hết cả rồi. Nhưng chúng tôi nghe được tiếng sói tru vọng đến theo chiều gió, và chúng tôi nghe thấy một con bò kêu ỏm tỏi vì chú bê con không chịu chui ra khỏi bụng. Đám chó săn bu lại tấm lưới chắn của khu chuồng chó, ngoe nguẩy như những con rắn hạnh phúc và sụt sịt một cách đầy nhiệt tình. Kể cả con bị ốm cũng ra khỏi chỗ của nó, đến đánh hơi chúng tôi. Rồi chúng tôi đứng ở cổng vào cao ngất của kho thóc, hít thở hương vị ngọt ngào của cỏ linh lăng và mùi thơm như bánh mì của yến mạch xay. Tại bãi quây gia súc, những con ngựa bị nhốt thở phì phò khi chúng tôi đến gần, cạ đầu vào những thanh chắn ngang. Specklebottom thì phóng ra cú đá vào người bạn bị thiến, đơn giản chỉ để tập luyện. Đêm đó cú bay lượn và kêu la inh ỏi để bắt đầu cuộc săn. Và một con chim ưng đêm đang phát ra những tiếng kêu đều đặn ở cách đó xa xa. Tôi ước gì ngài Able Baker Charley Dog[16] có mặt ở đây cùng chúng tôi. Chắc hẳn nó ngưỡng mộ cái đêm hôm nay lắm lắm. Nhưng nó lại đang ngấm thuốc an thần nằm quay lơ ở Amarillo để điều trị chứng viêm tiền liệt tuyến của nó. Cơn gió gắt từ phương Bắc làm các cành trơ trụi của những cây dương đen va chạm nhau. Tôi có cảm giác là mùa đông, vốn luôn bám theo gót chân tôi trong suốt cuộc hành trình, rốt cuộc đã tóm được tôi rồi. Đâu đó trong quá khứ động vật mới gần đây của chúng ta, hay ít ra là của tôi, ngủ đông còn là một hành vi để tồn tại. Nếu không phải vậy thì cớ sao trời đêm lạnh giá lại khiến tôi buồn ngủ như thế này? Xưa cũng thế mà nay chắc cũng thế. Chúng tôi trở vào nhà, nơi mọi người đã rút lui, và chúng tôi đi nằm.
Tôi dậy từ rất sớm. Tôi thấy có hai cần câu cá hồi để tựa vào tấm ngăn ở phòng ngoài. Tôi đi ra đồi cỏ, luồn trong sương ra đến bờ ao nước xanh thẳm. Một con mồi giả[17] đã được cột vào dây câu, một con ruồi nhuế màu đen, hơi bị sờn một chút nhưng vẫn còn đủ lông lá. Nó vừa chạm vào mặt vũng là nước đã sủi tăm và khuấy động. Tôi tóm được một chú cá hồi cầu vồng[18] dài hai mươi lăm phân, lôi nó lên cỏ và đập đầu nó. Tôi quăng câu bốn lần và bắt được bốn con cá hồi. Tôi rửa sạch chúng và vứt đám đồ lòng cho bạn bè chúng xơi.
Trong nhà bếp, bà đầu bếp trao cho tôi tách cà phê và tôi ngồi trong một hốc phòng trong khi chờ bà ấy tẩm đám cá của tôi vào bột bắp, chiên giòn chúng trong mỡ lợn rồi dọn ra cho tôi trên một lớp lót bằng thịt xông khói. Nó vỡ vụn ra trong miệng tôi. Lâu lắm rồi tôi mới ăn cá hồi như thế này. Năm phút đồng hồ từ vũng lên chảo. Cầm một cách khéo léo ở phần đuôi và phần đầu, rồi gặm nhấm nó, rỉa khỏi bộ xương. Cuối cùng là ăn luôn cái đuôi giòn như khoai tây chiên. Cà phê có cái hương vị đặc biệt của sương sớm, và tách thứ ba cũng ngon như tách đầu. Tôi có thể nấn ná trong bếp, nói chuyện vu vơ với bà bếp, nhưng bà xua tôi ra vì còn phải nhồi hai con gà tây để chuẩn bị cho cuộc bù khú lễ Tạ ơn.
Vào giữa sáng trời nắng, chúng tôi đi săn chim cút. Tôi mang theo khẩu súng cũ bóng loáng cỡ nòng 12 với cái nòng bị móp cất trong Rocinante. Khẩu này vốn đã không ngon lành lắm khi tôi mua nó, hàng xài rồi, cách đây mười lăm năm. Và từ đó đến nay nó cũng chẳng khá gì hơn. Nhưng tôi cho rằng nó cũng khá cỡ như tôi. Tôi mà bắn được thì khẩu súng chắc cũng hạ gục được chim cút thôi. Nhưng trước khi bắt đầu, tôi thèm thuồng nhìn qua cửa kính khẩu Luigi Franchi hai nòng cỡ 12 với khóa nòng Purdy. Khẩu này đẹp đến mức tôi thấy thèm xốn xang. Vết khắc trên thép có cái ánh ngọc của một con dao găm Damascus. Báng của nó liền lạc với khóa, khóa liền lạc với nòng cứ như mọi thứ mọc ra từ một hạt mầm thần diệu. Tôi biết chắc anh bạn của tôi mà thấy tôi thèm thuồng như thế thì nhất định sẽ cho tôi mượn “người đẹp” này, nhưng tôi không hỏi mượn. Giả như tôi bị vấp ngã hay đánh rơi nó, hay lỡ tay khua cặp nòng xinh đẹp của nó va vào đá. Không, như vậy có khác gì mang một chiếc vương miện nạm đầy ngọc đi qua một bãi mìn? Khẩu súng cũ kỹ tả tơi của tôi tuy không thể so bì nhưng chí ít chuyện gì có xảy ra đi nữa cũng chẳng có gì phải lo lắng.
Trong suốt một tuần lễ, anh bạn tôi đã theo dõi bọn gà gô tụ tập nơi đâu. Chúng tôi tản ra, di chuyển qua các bụi cây, lội qua nước, lên bờ, leo lên tiếp, trong khi đám chó săn bật nảy ở phía trước. Một con chó cái mập, già, mắt có lửa tên là Duchess[19] tỏ ra xông xáo nhất đàn, và dĩ nhiên hơn cả chúng tôi. Chúng tôi tìm thấy dấu chim cút trên bụi, trên cát và trên lớp bùn của lòng suối. Có những sợi lông cút vương trên đầu cành khô của các cây ngải đắng. Chúng tôi đi hàng dặm, từ tốn, súng giương lên, sẵn sàng nã đạn vào đàn cút tung bay. Nhưng chẳng được tích sự gì cả. Bọn cút đã đi khỏi, thực sự đi khỏi. Tôi chỉ là một tay săn cút kha khá, chứ những người đi cùng tôi là những tay săn cừ khôi, đám chó thì rất chuyên nghiệp, ngoan ngoãn, chịu khó và làm việc cật lực. Không có cút. Nhưng đi săn có một điểm hay. Cho dù không săn được chim, bạn vẫn thà là cứ đi còn hơn là không.
Anh bạn tôi chắc nghĩ là tôi thất vọng lắm. Anh ta nói, “Thôi. Chiều nay anh mang khẩu .222 nhỏ của anh theo và bắn lấy một con gà gô dại”.
“Chúng có bao nhiêu con cả thảy nhỉ?” tôi hỏi.
“Xem nào, hai năm trước đây tôi gầy một đàn ba chục con. Chắc bây giờ chúng cỡ tám chục”.
“Trong đàn kéo đến gần nhà hồi tối qua tôi đếm được ba chục con đấy”.
“Còn có hai đàn khác nữa mà”, anh ta nói.
Tôi chẳng muốn săn gà gô. Tôi làm gì với nó đây trong Rocinante? Tôi nói, “Chờ thêm một năm nữa đi. Khi nào chúng đủ một trăm con tôi sẽ xuống đây cùng đi săn với anh”.
Chúng tôi về nhà tắm rửa, cạo râu. Và vì lẽ hôm nay là lễ Tạ ơn, chúng tôi mặc áo trắng, khoác áo vét-tông, đeo cà-vạt. Cuộc bù khú đến đúng theo kế hoạch vào lúc hai giờ. Tôi sẽ lướt nhanh qua các chi tiết để độc giả khỏi bị sốc, vả lại tôi chẳng thấy có lý do nào để khiến những người này bị coi thường. Sau hai cữ whisky, hai con gà tây nâu vàng và bóng nhẫy được dọn lên, bạn tôi xẻ thịt, còn chúng tôi thì tự phục vụ. Chúng tôi nói những lời hoa mỹ rồi cụng ly uống xoay vòng, sau đó mạnh ai nấy hì hục ăn. Rồi, giống như những người Roma suy đồi trong bàn tiệc của Petronius[20], chúng tôi đi bách bộ rồi lui về phòng để đánh một giấc vừa cần thiết vừa tất yếu. Và đó là cuộc bù khú lễ Tạ ơn của tôi ở Texas.
Dĩ nhiên, tôi không nghĩ họ bù khú như thế mỗi ngày. Họ không thể. Và ở một mức độ nào đó, những cuộc vui tương tự cũng diễn ra khi họ viếng thăm chúng tôi ở New York. Dĩ nhiên, họ muốn xem những cuộc biểu diễn và đến các câu lạc bộ đêm. Vào đoạn kết của vài ngày như thế, họ nói, “Chúng tôi không tin nổi anh chị sống như thế”. Chúng tôi trả lời, “Thì chúng tôi đâu có sống như thế. Khi anh chị về nhà, chúng tôi cũng sẽ không sống như thế nữa”.
Và giờ đây tôi đã cảm thấy dễ chịu hơn sau khi lôi được ra ánh sáng những hoạt động suy đồi của những người giàu Texas mà tôi quen. Nhưng không hề có mảy may ý nghĩ rằng mỗi ngày họ đều ăn món chili con carde hay gà tây nướng.
❀ ❀ ❀
[1] Panhandle có nghĩa là “cán chảo”. Tên “Panhandle” xuất phát từ hình dáng của khu vực này của Texas.
[2] Thủ phủ của bang Texas.
[3] Nguyên văn: “Do you have a pin?”. Ở đây cô con gái muốn mượn cha cây bút (a pen), nhưng lại phát âm thành cây kim (a pin).
[4] Nguyên văn: “Aont a fountain pin” (I want a fountain pen).
[5] Hiệp ước năm 1845 đã biến Texas thành bang thứ 28 của Mỹ. Tuy nhiên, nhiều người cho rằng hiệp ước này là bất hợp pháp căn cứ theo luật quốc tế.
[6] Nơi diễn ra trận đánh lịch sử giữa quân Texas và quân Mexico năm 1836.
[7] Tổng thống Mexico trong thời kỳ này.
[8] Nhóm dân thiểu số từng cai trị nước Anh, phần lớn xứ Wales và Ai-len trong thế kỷ 11, 12.
[9] Giống bò lấy thịt rất phổ biến ở Tây Nam Mỹ.
[10] Thành phố ở Bắc Texas.
[11] Lone Star State, biệt danh của Texas.
[12] Giống bò Anh, nuôi để lấy thịt.
[13] Đốm đáy.
[14] Tiếng Tây Ban Nha, có nghĩa là “Ớt với thịt”. Đây là món thịt bò hầm đậu đỏ kèm ớt cay khô.
[15] 1 lít Anh bằng 1,14 lít.
[16] Một dạng mật mã theo trình tự chữ cái phổ biến vào các thời trước: Able Baker Charlie Dog Easy Fox George Hypo Inter Jig v.v... Tác giả có ý đùa bỡn con chó của mình, hơn nữa, Charlie Dog đi liền nhau nên tác giả liên tưởng đến Chó Charley của mình.
[17] Câu cá mồi giả (fly fishing) phổ biến tại Mỹ. Có nhiều loại mồi giả (fly) khác nhau, được bện bằng lông gà, tóc... ra ngoài lưỡi câu, bắt chước hình dạng các loại côn trùng.
[18] Một giống cá hồi.
[19] Nữ công tước.
[20] Gaius Petronius Arbiter là triều thần được sủng ái dưới thời hoàng đế La Mã Nero. Ông được xem là tác giả của cuốn tiểu thuyết trào phúng Satyricon. Petronus nổi tiếng với việc ngủ ngày và làm việc hoặc tiệc tùng linh đình vào ban đêm.