Hồi tôi vẫn còn ở Texas, vào cuối thập niên 1960, sự kiện được báo chí viết bài và đăng ảnh nhiều nhất là vụ hai em bé da đen nhỏ xíu trúng tuyển vào một trường học ở New Orleans. Phía sau những sinh linh bé bỏng và đen đúa này là quyền năng và quyền lực của pháp luật. Cả cán cân lẫn thanh kiếm đều đứng về phía các em bé, trong khi chống lại chúng là ba trăm năm sợ hãi, giận dữ, và nỗi kinh hoàng của sự thay đổi trong một thế giới đang đổi thay. Tôi đã thấy những tấm ảnh hàng ngày trên báo chí, những ảnh động trên màn hình vô tuyến. Điều khiến cánh báo chí mê mẩn câu chuyện này là một nhóm phụ nữ trung niên đẫy đà – mà theo một định nghĩa kỳ quặc nào đó là những “bà mẹ” – hàng ngày kéo tới để hét những lời thóa mạ hai đứa trẻ. Về sau, một nhóm nhỏ trong bọn họ trở nên chuyên nghiệp đến mức người ta gọi họ là những Cheerleader[1], và có nguyên cả một đám đông hàng ngày kéo tới để thưởng thức và hoan nghênh màn trình diễn của họ.
Màn kịch kỳ quái này có vẻ như phi thực đến mức tôi cảm thấy phải tận mắt chứng kiến. Nó cũng thu hút chẳng khác gì một con bê ba chân hay một bào thai hai đầu tại một cuộc triển lãm nào đó. Nó là một sự méo mó so với cuộc sống thường ngày và chúng ta cảm thấy lý thú đến mức sẵn sàng bỏ tiền ra để mà xem, có lẽ chỉ để chứng minh với chính mình rằng chúng ta có số chân hay số đầu bình thường. Trong cuộc trình diễn ở New Orleans, tôi cảm thấy toàn bộ cái vui thú của một sự bất thường khó tin, nhưng đồng thời cũng cảm thấy sự ghê tởm. Làm sao lại có thể như vậy được?
Vào lúc này, mùa đông bám theo tôi suốt từ khi tôi rời nhà nay đột ngột giáng xuống cùng một trận gió bấc đen. Nó mang theo băng giá và những cơn mưa tuyết lạnh cóng, trùm lên xa lộ một lớp băng đen thui. Tôi đón Charley tại nhà viên bác sĩ tốt. Nó trông trẻ ra một nửa số tuổi và cảm thấy tuyệt vời. Để chứng minh điều đó, nó chạy, nhảy, lăn, cười và phát ra những tiếng ăng ẳng của sự hân hoan thuần khiết. Tôi cảm thấy thật dễ chịu khi lại có nó đi cùng, ngồi ngay trên chiếc ghế cạnh tôi, mắt dõi về phía trước, nơi con đường đang trải ra, hay cuộn mình nằm ngủ, đầu gác lên đùi tôi, còn đôi tai ngốc nghếch thì chực sẵn để được gãi. Con chó này có thể ngủ với bao nhiêu vuốt ve đúng điệu cũng chẳng đủ.
Giờ thì tôi đã thôi nhởn nhơ, tôi liên tục để cho các bánh xe lăn trên đường. Chúng tôi không thể đi nhanh do băng trơn, nhưng chúng tôi vẫn đi không ngơi nghỉ, ít khi liếc nhìn Texas trôi qua bên cửa sổ. Mà Texas thì kéo dài bất tận đến nhức nhối: Sweetwater rồi Balinger rồi Austin. Chúng tôi đi bọc qua Houston rồi dừng lại đổ xăng, uống cà phê và làm vài khoanh bánh. Charley ăn và đi dạo ở trạm xăng. Ban đêm chúng tôi cũng không dừng. Và khi mắt tôi cay xè do tập trung quá lâu, khi vai tôi trĩu xuống vì đau nhức, tôi dong xe vào một đường nhánh và bò như một con chuột chũi vào trong giường để rồi chỉ thấy đường cao tốc cứ quằn quại kéo dài đằng sau mi mắt nhắm. Tôi ngủ chưa được đầy hai tiếng thì thức dậy trong cái lạnh tê tái, rồi lại ngủ và ngủ. Mặt nước dọc bên đường đã đóng băng cứng ngắc, và người ta đi lại với khăn choàng và áo len che kín tận lỗ tai.
Đã có những lúc tôi đến Beaumont trong trạng thái sũng mồ hôi, thèm thuồng nước đá và máy lạnh. Giờ thì Beaumont, với những ánh sáng rực rỡ của các bảng đèn quảng cáo, lại đang ở trạng thái mà người ta gọi là đông cứng. Tôi băng qua Beaumont vào ban đêm, nói đúng hơn là trong bóng tối sau nửa đêm. Gã nhân viên đổ xăng vô duyên nhìn vào trong xe thấy Charley. Hắn nói, “Ủa, là con chó hả? Tôi cứ tưởng ông chở theo một tên nigger cơ đấy”. Rồi hắn phá lên cười khoái trá. Đó là lần đầu trong nhiều lần lặp đi lặp lại của hắn. Tôi đã nghe câu này ít nhất hai chục lần: “tưởng ông có một nigger trong đó”. Đó là một câu bông đùa ngộ nghĩnh – luôn tươi mới – trong đó người ta không bao giờ dùng từ Negro hay Nigra mà luôn là Nigger hay thường xuyên hơn nữa là Niggah[2].Từ này có vẻ cực kỳ quan trọng, một dạng từ an toàn để bám víu lấy, sợ rằng một cấu trúc nào đó sắp sụp đổ.
Và rồi tôi đã đến Louisiana, với hồ Charles đã lùi xa vào bóng tối, nhưng ánh đèn pha của tôi vẫn lấp lánh trên băng, phản chiếu trong màn sương tinh thể. Và nó rọi cả lên những con người đang lê bước bất tận trên những con đường đêm, quấn kín mít trong những trang phục để chống lại cái lạnh. Tôi lì lợm đi tới, vượt qua La Fayette và Morgan City, đến Houma vào trước lúc bình minh. Houma được phát âm giống như Homer, và theo trí nhớ của tôi thì đó là một trong những địa điểm dễ chịu nhất trên thế giới. Ở đó có anh bạn vong niên của tôi, bác sĩ St. Martin, một con người hiền hòa, có học thức, một người Cajun[3] đã từng đỡ đẻ cho rất nhiều bà bầu và chữa trị chứng đau bụng cho những người Cajun sống biệt lập ở nhiều dặm xung quanh. Tôi nghĩ anh ta biết về người Cajun nhiều hơn bất cứ ai còn sống, và tôi vẫn thèm thuồng hồi tưởng lại tất cả những tài vặt của bác sĩ St. Martin. Anh ta có thể pha món martini ngon nhất và tinh vi nhất thế giới với một quy trình hầu như có ma thuật. Phần công thức duy nhất mà tôi biết là anh ta dùng nước cất để làm đá, và anh ta luôn tự mình chưng cất cho yên tâm. Tôi đã từng ăn thịt vịt đen tại bàn ăn của anh ta: hai ly martini của St. Martin và một khoanh thịt vịt đen, cùng một ít rượu vang burgundy rót ra từ chiếc chai một cách cũng cẩn trọng như khi đón một em bé ra đời. Và bữa ăn đó đã diễn ra trong một căn nhà tối, nơi bóng tối đã khép lại vào buổi bình minh mà không khí lạnh ban đêm thì vẫn còn lưu lại. Bên chiếc bàn có ánh bạc dìu dịu và mờ ảo, bóng như thiếc, tôi vẫn nhớ lần nâng ly nhấm nháp thứ máu thiêng của nho, cái vuốt nhẹ lên chân ly bằng những ngón tay điệu nghệ và khỏe khoắn của người bác sĩ. Và ngay cả lúc này đây, tôi có thể nghe thấy những lời chúc sức khỏe và chào đón ngọt ngào bằng chất giọng nghe như hát của ngôn ngữ Acadia, vốn trước kia là tiếng Pháp và bây giờ đã là chính nó. Hình ảnh đó choáng ngợp trên tấm kính chắn gió phủ sương giá của tôi, và nếu chẳng may ở trên đường có xe đi lại thì tôi đã trở thành một người lái xe nguy hiểm. Nhưng lúc này ở Houma lại là một bình minh lạnh giá, nhợt nhạt vàng, và tôi biết nếu mình dừng lại để chào hỏi thì ý chí và quyết tâm của tôi sẽ tan biến trước những lạc thú đặc biệt mà St. Martin mang đến, và chúng tôi sẽ tâm sự cùng nhau vô số chuyện khi đêm đến, và sẽ thêm một đêm nữa. Cho nên tôi xoay về hướng nhà bạn tôi, cúi mình thay cho lời thăm hỏi, rồi phóng thẳng đến New Orleans, vì tôi muốn đến kịp cuộc trình diễn của các Cheerleader.
Tôi vẫn biết tốt nhất là không nên lái xe đến gần nơi rắc rối, đặc biệt là với Rocinante và biển số xe New York của nó. Mới hôm qua, một phóng viên đã bị đánh và máy ảnh của anh ta bị đập nát vì ngay cả những cử tri xăng xái nhất cũng ngần ngại không muốn cái thời khắc lịch sử của mình được chụp ảnh và lưu giữ.
Cho nên, từ tận ngoại ô thành phố, tôi đã lái xe vào một bãi đậu. Người nhân viên ở đó đến bên cửa sổ xe tôi. “Trời, tôi cứ tưởng ông chứa một tên nigger trong đó chứ. Trời ơi, hóa ra là con chó. Tôi thấy cái mặt đen bự của nó mà cứ nghĩ là một tên nigger đen bự”.
“Khi sạch sẽ thì mặt của nó màu xanh-xám”, tôi lạnh lùng nói.
“Thì tôi cũng có thấy vài tên nigger màu xanh-xám, và chúng chẳng sạch sẽ chút nào. New York hả?”
Tôi cảm thấy ớn lạnh cứ như thể khí lạnh ban mai toát ra từ miệng hắn. “Chỉ đi ngang qua thôi”, tôi nói. “Tôi muốn đậu xe chừng vài tiếng đồng hồ. Anh kêu cho tôi chiếc taxi được không?”
“Cho ông biết tôi dám cá điều gì. Tôi cá là ông đi xem các Cheerleader đúng không nào?”
“Đúng đấy”.
“Vậy thì tôi hy vọng ông không phải dân phá hôi hay phóng viên”.
“Tôi chỉ muốn xem thôi mà”.
“Trời, ông sẽ thấy thứ gì đó. Các Cheerleader đó chẳng phải là thứ gì sao? Trời, khi nào họ hành động ông sẽ thấy chưa từng nghe thứ gì như thế”.
Tôi nhốt Charley trong ngôi nhà Rocinante sau khi dắt tên giữ xe đi xem một vòng ngôi nhà, mời hắn một cữ whisky và tặng hắn một đô-la. “Nhớ cẩn thận đừng có mở cửa ra khi tôi vắng mặt đấy”, tôi nói. “Charley rất biết việc của nó. Nó làm anh mất tay dễ như chơi”. Dĩ nhiên đó là một lời nói láo xấu xa, nhưng anh chàng kia đáp: “Vâng thưa ông. Tôi chẳng dại mà đùa với chó lạ đâu”.
Người tài xế taxi – một gã đàn ông vàng vọt, co quắp như một cây đậu xanh trước giá lạnh – nói với tôi, “Tôi thả ông xuống cách đó vài dãy nhà thôi đấy nhé. Tôi không muốn xe tôi bị tanh bành”.
“Tệ đến vậy sao?”
“Không đến nỗi vậy. Nhưng cũng có thể. Và cũng dám tệ như vậy lắm chứ”.
“Khi nào họ bắt đầu nhỉ?”
Ông ta nhìn đồng hồ. “Họ thường đến từ rạng đông, trừ phi trời lạnh. Còn mười lăm phút nữa. Ông cứ đi đi, sẽ không lỡ dịp đâu, trừ phi trời lạnh”.
Tôi ngụy trang bằng chiếc áo vét-tông xanh và chiếc nón Hải quân Anh với giả định rằng ở một khu cảng biển thì người ta không thèm dòm ngó đến dân đi biển, cũng giống như trong nhà hàng thì chẳng ai đến ý đến người hầu bàn. Ở những nơi chốn tự nhiên của mình, dân đi biển thường không có đặc điểm nhận diện và chắc chắn là chẳng có kế hoạch gì cụ thể ngoại trừ việc nhậu nhẹt và bị tống giam vì đánh lộn. Ít ra thì đó cũng là cảm nghĩ chung về dân đi biển. Tôi đã kiểm nghiệm rồi. Điều thường xuyên diễn ra nhất là có một giọng nói nhân từ của nhà cầm quyền bảo rằng, “Sao anh không về lại tàu của anh đi, hả thủy thủ? Anh đâu có muốn ngồi khám và lỡ mất con nước, đúng không nào. Bây giờ anh có muốn không, hả thủy thủ?” Và chỉ năm phút sau người nói đã không nhận ra anh nữa. Phù hiệu sư tử và kỳ lân trên chiếc nón của tôi khiến tôi càng vô danh hơn nữa. Nhưng tôi phải báo trước cho những ai muốn kiểm nghiệm lý thuyết của tôi, chớ có làm như thế khi ở cách xa bến cảng.
“Ông từ đâu đến vậy?” người tài xế hỏi, vẻ hoàn toàn hờ hững.
“Liverpool”.
“Limey[4] hả? Vậy ông không sao đâu. Chính là bọn Do Thái chết tiệt ở New York đã gây ra tất cả mọi rắc rối này”.
Tôi cố bắt chước giọng Anh và thậm chí giọng Liverpool không biết chừng. “Bọn Do Thái hả? Họ gây rắc rối ra sao vậy?”
“Này nhé, thưa ông. Chúng tôi tự biết cách thu xếp. Mọi người đều vui vẻ và chẳng có chuyện gì cả. Có gì đâu, tôi cũng ưa bọn nigger vậy. Và cái bọn Do Thái chết tiệt ở New York bỗng dưng nhào vô, dựng bọn nigger dậy. Chúng cứ ở yên tại New York thì đâu có chuyện gì xảy ra. Phải xử bọn chúng thôi”.
“Ý ông là phải hành hình[5] bọn chúng?”
“Tôi không có ý gì cả, thưa ông”.
Ông ta thả tôi xuống và tôi dợm chân bước đi. “Đừng đến gần quá, ông nhé”, ông ta nói với theo. “Ông xem thì cứ xem nhưng đừng có mà dây vào đấy nhé”.
“Cảm ơn”, tôi nói, cố nuốt từ “nhiều” đang chực thoát ra từ đầu lưỡi.
Khi bước về phía trường học, tôi rơi vào giữa dòng người – tất cả đều da trắng – cùng đi về một hướng. Họ chăm chú bước đi như người ta đi xem một đám cháy vừa bùng phát lên không lâu. Họ chống nạnh hay khoanh tay luồn trong áo, và nhiều người đàn ông lót khăn quàng dưới nón để phủ kín đôi tai.
Bên kia đường, phía trường học, cảnh sát đã dựng một hàng rào gỗ để ngăn chặn đám đông. Họ tuần tiễu qua lại, phớt lờ những lời nhạo báng hướng về mình. Mặt trước trường học không có ai, nhưng dọc theo lề đường thì cảnh sát tư pháp[6] đứng cách quãng, không mặc đồng phục mà đeo băng tay để nhận diện. Những khẩu súng của họ phình ra dưới lớp áo một cách ý nhị. Mắt họ láo liên đầy căng thẳng, dò xét từng khuôn mặt. Tôi cảm giác họ đã dò xét tôi để xem tôi có phải là phần tử thường trực hay không, rồi họ bỏ qua tôi như một kẻ không đáng kể.
Các Cheerleader đang ở đâu thì quá rõ ràng rồi, vì người ta đang nháo nhác hết cả lên để sáp lại gần họ. Họ được dành một chỗ ưu tiên ở trước rào chắn ngay đối diện cổng trường. Ở đó, cảnh sát tập trung với mật độ lớn, đứng dậm chân và đập những bàn tay không quen đeo găng vào nhau cho bớt lạnh.
Bất chợt, tôi bị xô mạnh và có tiếng hét lên: “Bà ấy đây rồi. Để bà ấy đi... Nào, lui ra đi chứ. Để bà ấy qua. Bà ở đâu nãy giờ vậy? Bà đến trường trễ rồi đó. Bà ở đâu vậy Nellie?”
Tên mụ ta không phải là Nellie. Tôi quên mất mụ ta tên gì rồi. Nhưng mụ ta lách qua đám người dày đặc, đến gần chỗ tôi đứng, đủ để tôi thấy chiếc áo giả lông cừu và đôi bông tai bằng vàng. Mụ ta không cao, nhưng cơ thể thì phì nộn còn bộ ngực thì đồ sộ. Tôi đoán chừng mụ ta trạc năm mươi. Mụ ta đánh phấn cực dày, khiến cho cái rãnh nọng cằm trông rất sậm.
Mụ khoác trên mặt một nụ cười dữ tợn, chen lên giữa đám người dồn ép, giương cao một bài báo mà mụ nắm chặt trong bàn tay để không bị nhàu nát. Vì đó là bàn tay trái nên tôi đặc biệt tìm xem nó có đeo nhẫn cưới hay không, và chẳng thấy đâu cả. Tôi liền lách theo sau, nép mình theo làn sóng mà mụ tạo ra. Nhưng đám đông rất dày đặc và tôi cũng đã bị hăm he. “Này ông thủy thủ kia, ai cũng muốn nghe cả mà”.
Nellie được đón tiếp bằng những tiếng la hét và chào mừng. Tôi không rõ họ có bao nhiêu Cheerleader cả thảy. Không có ranh giới rõ rệt giữa các Cheerleader và đám đông phía sau họ. Tôi chỉ thấy có một nhóm người đang chuyền tay nhau những mẩu cắt ra từ trên báo rồi đọc to lên cho mọi người với vẻ hài lòng, sung sướng.
Giờ thì đám đông trở nên nhộn nhạo hơn, giống hệt như thái độ của các khán giả khi giờ kéo màn đã qua đi. Những người đứng quanh tôi đều nhìn đồng hồ của mình. Tôi cũng nhìn đồng hồ của tôi. Lúc đó là chín giờ thiếu ba phút.
Cuộc trình diễn được khai mào đúng giờ. Có tiếng còi hụ. Có những mô-tô cảnh sát. Rồi có hai chiếc xe lớn màu đen chứa đầy những người to lớn đội những chiếc nón nỉ màu vàng. Họ chui ra khỏi xe ở trước cổng trường học. Đám đông như nín thở. Bốn viên cảnh sát tư pháp to bự bước khỏi xe và chẳng rõ từ đâu trong các xe này, họ lôi ra một cô bé da đen nhỏ nhắn chưa từng thấy. Cô bé khoác một bộ đồ trắng sáng như bột. Chân bé mang đôi giày trắng mới cứng, nhỏ đến mức trông cứ như hình tròn. Khuôn mặt và đôi chân bé bỏng trông rất đen trên cái nền trắng đó.
Các cảnh sát tư pháp to bự để cô bé đứng bên lề, và những tiếng la hét nhạo báng inh ỏi bắt đầu cất lên từ phía sau hàng rào. Cô bé không nhìn thẳng vào đám người gào thét, nhưng khóe bên lòng trắng mắt của bé trông cứ như của một con nai con sợ sệt. Những người đàn ông vần cô bé như một con búp bê. Một đám rước kỳ lạ men theo bờ tường rộng tiến thẳng đến trường học, và cô bé trông lại càng tí tẹo hơn nữa trước những người đàn ông quá đỗi to lớn. Cô bé đột nhiên nhảy lên một cách khó hiểu, nhưng tôi nghĩ tôi biết đó là gì. Có lẽ trong cả cuộc đời mình cô bé chưa từng đi mười bước mà không dợm nhảy, nhưng giờ đây, giữa cú nhảy đầu tiên, sức nặng đã kéo cô bé xuống và đôi bàn chân nhỏ tròn trịa của bé đã phải bước những bước cân đo, ngập ngừng giữa những người bảo vệ to lớn. Một cách chậm chạp, họ leo lên các bậc thang và đi vào trong trường.
Báo chí viết rằng những lời chế diễu và nhạo báng là ác độc và đôi khi thô lỗ. Quả đúng là thế thật, nhưng đó chưa phải là cuộc trình diễn lớn. Đám đông đang chờ đợi người đàn ông da trắng đầu tiên dám đưa đứa con da trắng của mình đến trường. Và anh ta đây rồi, với những người bảo vệ đi kèm. Đó là một người đàn ông cao lớn, mặc bộ đồ màu xám nhạt, tay dắt theo đứa con hoảng hốt của mình. Cơ thể anh ta căng ra như một chiếc lá khỏe khoắn đang bị kéo cho bứt. Khuôn mặt anh ta trông nghiêm trọng và xám ngắt, còn đôi mắt anh ta thì cúi gằm, nhìn thẳng xuống mặt đất ngay phía trước. Cơ gò má của anh nhô ra bởi chiếc hàm cắn chặt. Một người đàn ông đang sợ và, bằng ý chí của mình, kiềm chế nỗi sợ hãi tựa như người kỵ sĩ tài ba đang thuần phục một con ngựa hoảng loạn.
Một tiếng hét chói tai, gay gắt chợt cất lên. Tiếng hét đó không phải là đồng thanh. Người ta thay nhau hét và khi đến người cuối thì đám đông vỡ ra trong những tiếng gào, rống và huýt sáo tán thưởng. Đó chính là thứ mà người ta đến để xem và nghe.
Không tờ báo nào nêu ra những từ ngữ mà các mụ đó đã hét lên. Điều đó nói lên rằng những từ ngữ này là thiếu tế nhị, một số báo thậm chí đã viết là thô lỗ. Trên truyền hình, các đoạn ghi âm được làm cho nghe không rõ hay lồng thêm các tiếng động khác vào để che đậy. Nhưng giờ đây tôi đã nghe được những từ ngữ ấy, những từ ngữ thú vật, tục tĩu và đồi bại. Trước đây, trong cuộc đời trải dài và không che chắn của mình, tôi đã từng thấy và nghe những con người độc địa ói mửa ra. Thế thì cớ sao những tiếng hét ấy vẫn cứ khiến tôi bị sốc nặng và buồn đến tê tái?
Những từ ngữ thốt ra là dơ bẩn, là tục tĩu một cách trau chuốt và chọn lọc. Nhưng có thứ gì đó còn tệ hại hơn rất nhiều so với sự dơ bẩn: một dạng Lễ hội phù thủy Sabbath[7] kinh dị. Đây không phải là những tiếng hét ngẫu hứng của giận dữ, của thịnh nộ điên cuồng.
Có lẽ đó là thứ đã làm tôi muốn bệnh vì ghê tờm. Ở đây không có nguyên tắc tốt xấu nào, không có đường hướng nào. Những mụ đàn bà thô bỉ đó, với chiếc nón nhỏ của họ và những bài báo giương lên để thu hút sự chú ý. Họ muốn được người khác ngưỡng mộ. Họ cười toét vì sung sướng, hầu như đắc thắng một cách hồn nhiên khi được người khác hoan nghênh. Họ có sự ác độc điên dại của những đứa bé bị chứng tự kỷ trung tâm, và không hiểu sao điều này càng làm cho sự vô tri như súc vật của họ não lòng hơn. Họ không phải là những bà mẹ, thậm chí họ không phải là phụ nữ. Họ là những diễn viên điên loạn đang trình diễn trước những khán giả điên loạn.
Đám đông phía sau hàng rào rống lên, hò reo và đấm vào nhau sung sướng. Những cảnh sát căng thẳng vẫn lởn vởn canh chừng mọi sự bùng phát ở bên kia hàng rào. Môi họ mím lại, nhưng một số người đã mỉm cười và nhanh chóng nén cười. Bên kia đường, các cảnh sát tư pháp đứng bất động. Đôi chân của người đàn ông mặc đồ xám đã tăng tốc trong một thoáng, nhưng anh ta ghìm chúng lại bằng ý chí của mình và đi đến vỉa hè trước cổng trường.
Đám đông lắng xuống và mụ Cheerleader kế tiếp đến phiên của mình. Giọng của mụ rống lên như tiếng kêu của con bò, một tiếng hét trầm, khỏe và phẳng lì như giọng người rao chương trình trong một gánh xiếc. Chẳng cần thiết phải viết ra những từ ngữ mà mụ dùng. Chúng như đúc ra từ cùng một khuôn, chỉ duy nhất nhịp điệu và chất lượng âm là khác nhau. Bất cứ ai gần gũi với kịch nghệ đều biết rằng những bài phát biểu này không phải là ngẫu hứng. Chúng đã được thử, được học thuộc và được cẩn thận diễn tập lại. Đó là kịch. Tôi đã quan sát những khuôn mặt chăm chú từ đám đông lắng nghe, và đó chính là những khuôn mặt của các khán giả xem kịch. Khi có tiếng vỗ tay thì đó là dành cho người diễn.
Cơ thể tôi muốn rối loạn bởi sự tởm lợm đến nôn mửa, nhưng tôi không thể để cho mình phát bệnh sau khi đã đi xa như thế để nhìn và nghe. Và bất chợt tôi hiểu ra rằng có gì đó sai trái, có gì đó bị bóp méo và lạc khỏi bức tranh. Tôi đã biết New Orleans. Qua năm tháng, tôi đã có nhiều bạn bè ở đó, những con người chín chắn, hiền lành, với truyền thống tử tế và lịch thiệp. Tôi nhớ đến Lyle Saxon, một anh chàng to lớn có nụ cười hiền khô. Đã bao ngày tôi trải qua cùng Roark Bradford, anh bạn đã mang những âm thanh và cảnh sắc của Louisiana để tạo ra Chúa và Đồng cỏ xanh mà Người đã dẫn dắt chúng ta đến. Tôi tìm trong đám đông những khuôn mặt như thế của những người như thế, và chúng không có ở đó. Tôi chỉ thấy những khuôn mặt rống lên đòi máu trong những cuộc giác đấu vì tiền thưởng, những khuôn mặt cực khoái khi có người bị húc trong sân đấu bò, những khuôn mặt đang nhìn một cách thèm khát một tai nạn trên xa lộ, những khuôn mặt sẵn sàng xếp hàng để được hưởng cái đặc quyền nhìn ngắm sự đau đớn. Nhưng những người khác đang ở đâu – những người mà cánh tay sẽ ngứa ngáy muốn che chắn cái sinh linh nhỏ bé, đen đúa và khiếp hãi kia?
Tôi không biết họ ở đâu. Có lẽ họ cũng cảm thấy tuyệt vọng giống như tôi, nhưng họ đã bỏ lại một New Orleans bị báo cáo sai trước thế giới. Không nghi ngờ gì nữa, đám đông kia sẽ vội vã về nhà để xem mình trên truyền hình, và những gì họ thấy sẽ lan tỏa khắp thế giới, không hề bị thách đố bởi những thứ khác mà tôi biết cũng đang có ở nơi đó.
❀ ❀ ❀
[1] Người lãnh đạo nhóm cổ vũ cho một đội thể thao.
[2] Các tên gọi khác nhau có tính miệt thị người da đen.
[3] Một nhóm thiểu số sống chủ yếu ở bang Louisiana, Mỹ, bao gồm những hậu duệ của người Acadia nói tiếng Pháp. Ngày nay, người Cajun chiếm tỉ lệ khá lớn ở Nam Louisiana và có ảnh hưởng văn hóa đáng kể lên bang này.
[4] Tiếng lóng chỉ người Anh, thường với ý khích bác. Thoạt đầu, Limey ám chỉ các thủy thủ.
[5] Nguyên văn là “lynch”, tức lối hành hình người da đen của các phần tử phân biệt chủng tộc ở miền Nam nước Mỹ trước đây.
[6] United States Marshals, lực lượng liên bang thuộc Bộ Tư pháp Mỹ.
[7] Tên gọi các lễ hội phù thủy được cho là phổ biến vào thời trung cổ.