OR, THE SPECTRE HORSEMAN.
"Are you a man?
Ay, and a bold one, that dare look on that
Which might appal the devil."
—Shakespeare.
Ngọn hải đăng này sừng sững trên một ngọn đồi hình nón, ở độ cao một nghìn năm trăm bốn mươi lăm feet so với mực nước biển. Một đống củi khổng lồ từng được dựng lên ở nơi đây khi mối lo ngại về cuộc xâm lược của người Pháp lan rộng vào đầu thế kỷ hiện tại.
Rivington Hall trong suốt nhiều thời đại là dinh cơ của một nhánh dòng họ Pilkingtons, về gia tộc này, sử gia Fuller có viết rằng: "Người nhà Pilkington vốn là những bậc quý tộc có uy danh tại hạt này từ trước cuộc Trịnh phạt của người Norman;" và vị tộc trưởng của họ vào thời đó, sau khi phò tá cho phe của Harold, đã phải cải trang thành một kẻ đi cắt cỏ; để rồi tưởng nhớ tích ấy, hình ảnh người nông dân cùng chiếc lưỡi hái đã được chọn làm gia huy của dòng họ. James Pilkington, một hậu duệ của dòng họ đồng thời là Viện trưởng Cao đẳng St John tại Cambridge, là một trong sáu vị giáo sĩ được giao trọng trách chỉnh sửa Sách Cầu nguyện Chung; vì công lao này cùng nhiều đóng góp khác, vào năm 1560, ông đã được phong chức Giám mục xứ Durham. Sau khi cuộc nổi dậy lớn ở miền bắc vào năm 1569 — do các Bá tước xứ Northumberland và Westmoreland cầm đầu — bị dẹp yên, ông đã đòi lại đất đai và tài sản của những kẻ phản loạn bị kết tội tước quyền trong giáo phận của mình. Để củng cố yêu sách này, ông đã kiện cả nữ hoàng nhằm thu hồi những điền trang bị tịch thu; và dẫu vị nữ quân vương của ông vẫn thường quen miệng đe dọa phế truất các giám mục, vị giáo sĩ đáng kính ấy vẫn quyết liệt theo đuổi vụ kiện với sức mạnh và thành công lớn đến mức chỉ nhờ sự can thiệp của Nghị viện mới ngăn được việc bị đơn thua kiện ngay tại chính tòa án của mình.
Công trình hiện tại, bối cảnh diễn ra câu chuyện của chúng tôi, được xây dựng vào năm 1732 bởi ông Andrews, chủ nhân của Rivington Hall — một gia đình đã nắm giữ nó qua nhiều thế hệ, có lẽ chỉ ngoại trừ một quãng ngắt quãng duy nhất.
Buổi chiều hôm đó tĩnh lặng và oi ả. Ánh sáng ban ngày trong trẻo và rực rỡ đã vụt tắt, nhường chỗ cho bầu không khí ảm đạm, mờ ảo và u uất của một đêm hè. Tiếng dế kêu rả rích trong các khe tường, và loài bọ cánh cứng cất lên khúc ca buồn ngủ, uể oải bay những vòng nặng nề lờ đờ trên những đồng cỏ đã được gặt trụi.
Đó là vào khoảng mùa gặt — những ngày cuối tháng Tám. Những ngọn đồi hoang khoác lên mình tấm áo thường niên rực rỡ với chi chít những chùm hoa, nhưng sắc thắm và vẻ tươi tắn của chúng giờ đây đã phai tàn. Thoạt nhìn, đâu đó một sắc nâu xỉn màu đang len lỏi báo hiệu điềm gở trùm lên lớp áo màu rực rỡ một thời, tựa như bộ trang phục diêm dúa đã phai sờn trên thân hình của một gã công tử bột tàn tạ và héo mòn.
Một nhóm thợ săn hôm ấy đã đi săn trên một vùng đồi hoang rộng hơn thường lệ, trải dài với vẻ đẹp hoang sơ và quạnh hiu qua chính trung tâm của hạt, gần ngay chân núi nơi tọa lạc khu dân cư đông đúc Bolton-le-Moors. Rivington Pike, một ngọn đồi hình nón không đều nhô lên như một tòa tháp canh khổng lồ giữa những khối đất hoang vu bất trị ấy, là một thắng cảnh nổi bật và quen thuộc, được tô điểm trên đỉnh bằng một công trình bằng đá nhằm mang lại sự nghỉ ngơi và trú ẩn tiện lợi cho những ai vì hiếu kỳ mà chịu đựng sự mệt mỏi và hiểm nguy khi leo lên. Cảnh quan nhìn từ điểm cao này, nếu gặp ngày thời tiết thuận lợi, quả thực xứng đáng với công sức của kẻ phiêu lưu; nhưng không ít lần, một lớp sương mù ganh tị hay một cơn mưa rào bất chợt sẽ khiến những nỗ lực ấy trở nên vô ích trong việc phóng tầm mắt ngắm nhìn tạo hóa bao la — hay đúng hơn là một vành đai nhỏ bé của tạo hóa đó — từ một gò đất tầm thường, vốn chẳng khác gì một hạt cát giữa đống vật chất được tạo dựng, mà tự thân nó cũng chỉ như một hạt bụi trong không gian bao la mà nó đang quay quanh. Nhưng xin trở lại với câu chuyện của chúng tôi, hay đúng hơn là công việc của chúng tôi — bởi tác giả giờ đây đang ngồi trong phòng làm việc của mình, bao trùm xung quanh là ánh chạng vạng của một bầu không khí cũng ảm đạm, mờ mịt và ngột ngạt không kém gì thứ đã vây lấy những thợ săn phiêu lưu của chúng ta vào cuối chiến dịch của họ; thứ không khí làm tê liệt và gần như làm suy yếu tư duy, kẻ thù truyền kiếp của "trí tưởng tượng bay bổng", thứ mà chỉ cần một sự thay đổi tình cờ của thời tiết cũng đủ ngăn cản nó bay lên cõi giới nơi nó có thể ngự trị mà không gặp bất kỳ sự kiểm soát nào, với đặc quyền không bị chất vấn và không bị giới hạn.

Nhóm người mà chúng tôi vừa nhắc đến gồm ba cá nhân, cùng với những người hầu và súc vật của họ — những kẻ mang lại cho các ông chủ sự hỗ trợ đắc lực trong các chiến công hữu ích và gian khổ; kết quả là sự ngã xuống nhãn tiền của tầm một hoặc hai tá gà gô ngốc nghếch hay loài chim trĩ đỏ vốn có khá nhiều trên những ngọn đồi này vào mùa. Nhưng hỡi ôi! bản thân chúng tôi không phải là những tay thợ săn, và chúng tôi vô cùng tiếc nuối khi không thể mô tả lại cuộc chiến đấu quyết liệt cùng những kết quả to lớn trong ngày đáng nhớ ấy; những niềm hy vọng, nỗi sợ hãi và các lối thoát hiểm của toàn bộ nhóm người: lượng thuốc súng đã tiêu thụ, số đá lửa đã hao phí, hay những ưu điểm so sánh giữa Moll và Rover, chúng tôi sẽ không mưu cầu bày tỏ trong "văn xuôi chân thực" của mình, kẻo lại rước lấy cơn thịnh nộ từ một tay săn chim thất vọng nào đó vì tội xen vào những chuyện mà chúng tôi vốn dĩ dốt nát một cách đáng thương, và thú thật là có phần cố ý thiếu sót như vậy. Đối với chiến lợi phẩm, khi chúng đã nằm trong tay, có lẽ chúng tôi lại ít dửng dưng hơn; và chúng tôi hân hoan chào đón sự trở lại của một ngày 12 tháng Tám với đầy những hồi tưởng và mong đợi tốt đẹp — một cột mốc mà chúng tôi tha thiết và trìu mến khẩn cầu những người bạn của mình hãy ghi nhớ, vì những mục đích quá đỗi thú vị trong lịch sử sinh hoạt gia đình để có thể đành lòng lãng quên.
Nhưng tháng Tám khi câu chuyện của chúng tôi mở màn là từ nhiều năm về trước — dẫu chưa hẳn là trong thời cổ xưa — khi niềm tin vào những điều kỳ thú và hoài niệm cổ tích vẫn chưa đứng trước nguy cơ bị thiêu rụi bởi "những luồng tri thức hữu ích", thứ tri thức "hữu ích" vốn bao gồm việc xua tan đi một số giấc mơ dễ chịu nhất, cùng những kỷ niệm đẹp đẽ và trân quý nhất của chúng ta. Chúng tôi e rằng một nhà văn chuyên viết về những "Truyền thuyết" ắt phải bị nhìn nhận bằng sự khinh bỉ khôn cùng bởi những bậc hiền tài có mục đích mở tung cánh cửa Chân lý cho muôn dân; hay theo cách nói của họ, là làm cho chân lý trở nên rõ ràng đối với cả "những tầng lớp nhận thức thấp kém nhất". Về phần mình, chúng tôi chưa từng say mê vị nữ thần Chân lý độc tài, thô kệch và ngoan cố ấy: bà ta chẳng hề "tán dương" trí tưởng tượng của chúng tôi; và trong thực tế, bà cũng chẳng đáng để họ tôn sùng bằng một nửa những gì mà các tín đồ nhiệt thành và cuồng nhiệt của bà vẫn tưởng tượng. Chúng tôi càng có khuynh hướng tin rằng trí tưởng tượng mới chính là nguồn cội vĩ đại của mọi niềm vui; và hệ quả là, chúng tôi không hề nhìn bằng ánh mắt thiện cảm đối với những kẻ muốn thuyết phục chúng ta rằng kho tàng hạnh phúc nhỏ bé của chúng ta chỉ là hàng giả, không phải là đồng tiền vàng nguyên chất của thứ "chân lý tối cao và bất biến".
Chúng tôi vốn chẳng hề mảy may tưởng tượng hay tiên liệu rằng mình lại bị lôi kéo lệch lạc khỏi đề tài chính đến thế. Chúng tôi chưa từng có gan góc để nói về bản thân mình trước đây. Những suy nghĩ, ước muốn và quan điểm đều được che giấu một cách cẩn trọng; và nếu như chúng tôi bị dẫn dắt một cách vô tình và không có chủ ý rời xa đề tài chính trong nỗ lực kết thúc này, thì chính bản thân tình tiết đó đã là một sự bảo đảm đủ để không lặp lại sai lầm ấy.
Ban ngày đang phai dần khi nhóm người vượt qua ngọn đồi cuối cùng trên đường trở về thung lũng. Để rút ngắn khoảng cách, họ đã trải qua đêm hôm trước tại một quán trọ nhỏ ven đường dưới chân dốc; và giờ đây họ nhìn xuống nơi là điểm đến của mình, vốn vẫn còn cách đó vài dặm đường mệt mỏi — tầm nhìn của họ phần nào bị che khuất bởi ngọn đồi khổng lồ mang tên Pike mà chúng tôi đã nhắc đến trước đó. Từ độ cao nơi họ đang đứng, đường lên đỉnh ngọn hải đăng không còn xa, dẫu có phần dốc đứng và khó tiếp cận. Khi đã lên tới đỉnh sườn núi nhìn xuống thung lũng, với dải đất phẳng phiu và màu mỡ ở vùng trũng trải dài vào khung cảnh tối tăm và có vẻ vô tận hướng về phía bờ biển, người thợ săn lớn tuổi liền thốt lên —
"Này Mortimer, có lẽ anh chưa từng chứng kiến một cơn bão ở những vùng hoang dã của chúng tôi; nhưng nếu phán đoán của tôi không lầm, sự kiện tốt lành này đang tiến triển theo một chiều hướng rất thuận lợi để thành hiện thực."
Người nói hướng ánh nhìn về phía nam, nơi những đám mây u ám đã tụ lại dày đặc, rõ ràng đang trút xuống những trận mưa dồi dào trên đường chúng di chuyển. Theo hướng gió, họ cũng đang đối mặt với nguy cơ sớm bị cuốn vào đó.
Ông tiếp tục: "Những cơn bão mùa hè thường hướng về các ngọn đồi; và nhìn đằng kia kìa, tôi e rằng chúng ta đang nằm đúng trên đường di chuyển của nó."
Mortimer đáp lại: "Tôi rất thích ngắm nhìn cảnh bão tụ lại, Pilkington tu sĩ ạ. Chắc chắn là sự trút giận cuồng nộ của nó phải mang vẻ tráng lệ đến rợn ngợp ở những vùng đất này. Tôi thà chết chứ không muốn bỏ lỡ một cảnh tượng huy hoàng như thế vì bất cứ giá nào."
"Có lẽ anh sẽ thích ngắm nó hơn khi đang ngồi trong một mái ấm ấm cúng ở quán trọ dưới kia, với một vại bia lúa mạch thơm phức bên trỏm khuỷu tay — kèm theo bánh yến mạch và phô mai đúng điệu."
"Không, phải là ở đây; khi bầu trời mở toang trên đầu chúng ta, và mặt đất bao la đang bốc hơi ngút ngát giữa cái ôm siết rộng lớn của cuồng phong. Kìa! Những tia chớp ngoằn ngoèo đang phóng qua những cuộn mây đan cài, tựa như một sứ giả nhanh nhẹn xuất phát từ kho tàng thịnh nộ tối tăm đằng kia!"
Câu nói này thốt ra từ một cá nhân thứ ba tên là Norton, một thanh niên sinh sống ngay tại vùng lận cận; một người bạn kiêm bạn học cũ của những vị khách vừa nêu — trong đó chỉ có một người là Mortimer, cư trú ở một hạt xa xôi và đang có chuyến ghé thăm Norton lần đầu tiên.
Ít nhiệt thành hơn, Pilkington — người cũng có nhà cách đó chỉ vài dặm — liền cất lời: "Có lẽ ý anh là giống như một đường dây thuốc súng ấy hả, Norton? Hơn nữa, tôi xin cảnh báo tất cả các anh rằng, trừ khi chúng ta tìm được chỗ chui ra chui vào, và phải thật nhanh chóng lên, nếu không chúng ta sẽ phải hứng trọn cơn bão trên đầu, và có lẽ sẽ lạc đường nếu sương mù kéo xuống, hoặc ngập đầu ngập cổ trong một cái đầm lầy nào đó nào không hay. Chúng ta sẽ trèo lên ngọn đồi đằng kia, Norton ạ, nơi chúng ta có thể quan sát cuộc hỗn chiến và náo động từ 'tháp canh trên bầu trời' của mình, dưới một mái nhà ngăn nắp và một thân hình khô ráo. Còn anh, anh có thể nán lại đây tùy ý để dâng hiến bản thân làm vật tế thần cho các vị thần Jupiter Pluvius."
Toàn bộ nhóm người — bao gồm cả bầy chó, người phụ việc và kẻ hầu — nhanh chóng tìm được chỗ trú ẩn trong tòa tháp vuông nhỏ trên đỉnh, và những dự đoán của người thợ săn lớn tuổi, giàu kinh nghiệm nhất trong số họ đã nhanh chóng ứng nghiệm. Gần như ngay khi người cuối cùng trong nhóm vừa bước vào, trận lụt trời giáng đã trút xuống thành một tấm màn nước rộng lớn, một cơn mưa "trút thẳng xuống" vô cùng lớn và khủng khiếp, đi kèm với những tràng đá dã man, khiến họ đứng trước nguy cơ pháo đài của mình bị tấn công trực diện qua vài khe hở ở cả mái nhà lẫn khung cửa sổ.
Một tiếng sấm vang lên đinh tai nhức óc, kéo dài và kinh hoàng, làm rung chuyển cả phần móng của nơi trú ẩn. Ngay cả nền móng của ngọn đồi dường như cũng chao đảo theo sức chấn động đó. Tòa đền cao chót vót của họ treo lơ lửng ngay trong lòng những đám mây đang căng phồng thứ sức mạnh sấm sét chẻ đôi của chúng. Những tia chớp bắt đầu xèo xèo lóe sáng, và bầu trời mở toang những chiếc hàm rộng lớn phía trên họ, tựa như muốn nuốt chửng con mồi. Tiếng gầm rú và lách tách của gió cùng mưa đá, hòa lẫn với tiếng va đập và cuồn cuộn của các nguyên tố đang giao tranh, khiến những kẻ bạo gan nhất cũng phải run rẩy, đồng thời làm câm lặng một số cái miệng vốn thường hay lớn tiếng nhất trong các trò đùa cợt và trêu chọc.
Pilkington liền nói: "Này Norton, tôi đoán là anh không còn tâm trạng nào để thử cảm giác nằm ngoài bầu không khí khắc nghiệt này trong lúc vị thần của anh đang nổi cơn thịnh nộ và tàn nhẫn như thế đâu nhỉ. Tôi tưởng tượng đây chính là một cuộc hỗn chiến vừa ý anh lắm rồi chứ."
Mortimer lên tiếng: "Norton đang lắng nghe những âm thanh thô bạo cất lên oai oả kìa! Có lẽ anh ấy có thể phiên dịch được giọng nói huyền bí của chúng."
Norton đang ở tư thế tập trung và chắm chú chờ đợi hoặc dò hỏi; đầu hơi nghiêng và trĩu xuống một bên, tai bên kia vểnh lên để thu bắt những ấn tượng rõ nét nhất của âm thanh. Đôi mắt anh ta trông cũng như đang lắng nghe, thế nhưng thị lực của anh lại hoàn toàn bị cuốn hút, và dường như đã tách rời khỏi các sự vật xung quanh. Anh đang đứng gần cửa sổ, và nét mặt anh bộc lộ một biểuểu cảm kỳ lạ và kinh ngạc đến khó tin về sự kinh ngạc lẫn lo âu.
Trời càng lúc càng tối sầm và mưa trút xuống như thác lũ. Đám mây giông, như bị thu hút bởi độ cao nơi họ đứng, cứ lơ lửng bên trên ngọn đồi và nhiều lúc tưởng chừng như cuộn tròn lại, bao bọc lấy họ trong bầu ngực đầy kinh hoàng của nó. Họ biết rằng đêm tối đang buông xuống, nhưng họ vẫn không thể bước ra ngoài mà không gặp phải hiểm nguy cận kề. Đám mây dày đặc bao bọc lấy họ sẽ biến bất kỳ nỗ lực tiến bước nào thành một canh bạc đầy rủi ro trong mọi hoàn cảnh.
Pilkington cất lời: "Chúng ta đang ở trong tình trạng tuyệt vời để trọ qua đêm tại pháo đài kiên cố tốt lành này: nó đã chịu đựng không biết bao nhiêu cuộc vây hãm cận chiến từ các yếu tố tự nhiên, và sẽ còn trụ vững thêm một trận đòn chí mạng nữa trước khi chịu khuất phục."
Mortimer lo lắng nói: "Nhưng chắc chắn là cơn bão quá dữ dội để cứ kéo dài mãi. Tôi hy vọng chúng ta có thể mạo hiểm bước ra ngoài trước khi quá muộn."
Pilkington đáp: "Bi Đâu mây sẽ bị thổi bay đi hoặc tự tan biến. Nếu một luồng gió thổi từ phía tây nổi lên, điều không hề hiếm gặp sau một trạng thái khí quyển náo động như thế này, nó sẽ nhanh chóng quét sạch những khối hơi nước nặng nề và gần như bất khả xâm phạm này ra khỏi chúng ta. Tôi nghĩ Norton vẫn đang giao hòa chặt chẽ với các yếu tố tự nhiên đấy. Tôi vẫn có thể nhìn thấy bóng dáng anh ấy bên cửa sổ. Tưởng chừng như tia chớp vừa rồi đã đậu lại trên khuôn mặt anh ấy như thể muốn nán lại đó một lát trước khi rời đi!"
Đám đầy tớ túm tụm lại với nhau trong một góc gần cửa ra vào, ngồi bệt xuống đất với bầy chó nép giữa hai chân; những con vật nhút nhát vô cùng khiếp sợ trước mỗi tiếng sấm sét, và run lẩy bẩy như thể vì lạnh lùng và đau khổ. Bỗng nhiên, một con trong số chúng bắt đầu gừ lên, và tiếng sủa ngắn, sắc lẹm từ một con khác, với đôi mắt và đôi tai hướng thẳng về phía cửa ra vào, dường như đang báo hiệu sự xuất hiện của một kẻ xâm nhập.
Lũ thú lúc này nhét những chiếc mõm vô duyên của chúng vào khe hở bên dưới cánh cửa, nhưng ngay lập tức rút lại, rõ ràng là trong nỗi sợ hãi tột cùng, khi chúng lùi thối lui, run rẩy và đầy hoảng sợ sang phía bên kia căn phòng, nơi chúng thu mình lại như muốn che chở bản thân khỏi những ngọn roi trừng phạt.
Norton — kẻ dường như đã quan sát hành động của chúng qua ánh sáng ít ỏi còn sót lại — thốt lên: "Mấy con hèn nhát này bị làm sao thế?"
Một trong những người đàn ông nói: "Tôi nghĩ chúng bị yểm bới rồi; hoặc chúng vừa nhìn thấy, hay đại loại là ngửi thấy mùi của một con bốc-gạt (bóng ma) nào đó."
Một kẻ khác tiếp lời: "Còn quá sớm cho mấy thứ đồ quỷ sứ kiểu đó; chúng đâu có lang thang bên ngoài trước khi đám dơi và cú đi ngủ cơ chứ."
"Đúng thế! Mấy thứ giống loài yêu tinh thông thường hằng ngày làm sao dám chìa cái mặt nhăn nhúm của chúng ra ánh sáng ban ngày chứ; nhưng có vài kẻ sẵn sàng lang thang ở mọi thời điểm mà chẳng sợ bị mấy ông mục sư khuất phục. 'Kị sĩ Bóng ma' thì phải, tôi nghe người ta gọi hắn như thế đấy. Tôi từng nghe bà tôi kể rằng hắn chẳng sợ cả ánh nắng lẫn bóng râm, nhưng mà"——
Đến đây giọng của người nói bỗng nghẹn lại, khi mọi ánh mắt và đôi tai đều đổ dồn về phía cửa ra vào. Có âm thanh phát ra từ bên ngoài, tựa như một con ngựa đang được thúc phi nước đại với tốc độ tối đa, tiếng móng guốc khua lọc cọc phi thẳng đến tận bậc thềm, rồi ở đó nó dừng lại, chờ đợi một sự giao tiếp từ những kẻ bên trong.
Mortimer hét lên: "Không một sinh vật sống hay có hơi thở nào có thể di chuyển với tốc độ đó được. Đứng chót vót trên cái đỉnh dốc cao ngất ngưởng này, việc đó hoàn toàn không thể"——
Norton nói: "Im lặng nào! Ta thực sự nghĩ đó là một cuộc phiêu lưu mà ta phải dấn thân hoàn thành. Sẽ thế nào nếu ta trở thành kẻ tiêu diệt người khổng lồ nhỉ; con chiến mã vô hình này được cử đến dành riêng cho ta, để ta có thể cưỡi nó, giống như Amadis hay Hiệp sĩ Lancelot, hay bất kỳ hiệp sĩ hay tên hề nào trong đám, giải cứu các tiểu thư, tiêu diệt rồng và những gã phù thủy độc ác cổ xưa, chỉ nhờ vào chính cánh tay phải đắc lực này."
Pilkington nói: "Cậu đúng là một kẻ cuồng tín kỳ lạ, Norton ạ. Niềm đam mê những điều kỳ diệu của cậu sớm muộn gì cũng sẽ đẩy cậu vào một rắc rối lố bịch hoặc nguy hiểm nào đó, mà dẫu có khoe khoang bao nhiêu tài năng đi nữa cũng chẳng cứu nổi cậu toàn thê hoàn mạng đâu."
Một trong những người hầu thì thầm: "Nghe kìa! Đó chẳng phải là tiếng gõ cửa đấy chứ?"
Tiếng ồn ào inh ỏi của các yếu tố tự nhiên bỗng nhiên dịu hẳn đi, và âm thanh ấy — dù bắt nguồn từ bất cứ thứ gì — cũng trở nên vô cùng rõ ràng đối với toàn bộ nhóm người. Một cú đập trầm đục, rỗng tuếch dường như đang rung chuyển xung quanh các bức tường, tựa như chúng vừa bị nện bởi một vật nặng nề nào đó. Họ có cảm giác như đang hít thở bầu không khí của sự kinh hoàng thuần túy. Một cảm giác kỳ lạ, mang điềm gở và không thể giải thích nổi, bao trùm lấy lồng ngực của tất cả mọi người. Lũ thú bốn chân cũng nép sát vào phía sau các ông chủ để tìm kiếm sự bảo vệ. Sợ hãi, giống như những bản năng mạnh mẽ và phi lý khác, nhanh chóng lan truyền như một thứ dịch bệnh. Rất có thể, việc nhắc đến Kị sĩ Bóng ma, cùng với hoàn cảnh mới mẻ và có phần nguy hiểm của họ, đã chuẩn bị sẵn tâm thế cho tâm trí họ tiếp nhận bất kỳ điều kỳ diệu lang thang nào, dẫu cho nó có nực cười hay vô lý đến đâu chăng nữa. Tuy nhiên, ấn tượng này không thể lan truyền đến những con vật đang run rẩy, vốn rõ ràng đang nằm dưới ảnh hưởng của sự hoảng loạn bắt nguồn từ một nguyên nhân tương tự.
Một cú đập nữa lại vang lên, lớn hơn trước. Những kẻ đứng gần nhất lùi ra xa hơn khỏi lối ra vào; thế nhưng Norton, như thể quyết tâm thực hiện một cuộc phiêu lưu điên rồ nào đó, liền tiến về phía cánh cửa. Anh nhấc then cài, và khi cánh cửa từ từ hé mở, hầu hết mọi người đều nhìn thấy một bóng người trên lưng ngựa, đứng bất động ngay trước khung cửa trống. Từ độ cao họ đang đứng, vị khách bí ẩn hiện lên với một đường nét rõ ràng, sắc sảo nổi bật trên nền một khối mây đỏ rực đầy đe dọa ở phía đông nam, trên rìa của nó treo lơ lửng đĩa mặt trăng rộng lớn đang phá vỡ những ngọn "Alps" mây mù, ánh sáng dịu dàng tĩnh lặng của cơn giận dữ đang nhanh chóng xua tan vẻ tức giận hãy còn vương vấn trên vòm trời. Kẻ xâm nhập khoác một tấm áo sậm màu; đội một chiếc mũ vànhụp thấp. Con ngựa của hắn màu đen và vóc dáng vạm vỡ. Có lẽ, từ vị trí mà hắn được nhìn thấy, cả ngựa lẫn người đều trông gần như khổng lồ. Không một lời nào được thốt lên. Kẻ lạ mặt đứng đó dường như bất động, giống như một bức tượng kị sĩ khổng lồ trong ánh chạng vạng mờ ảo và huyền bí.
Hai người bạn của Norton rõ ràng vô cùng kinh ngạc và hoảng sợ, nhưng bản thân anh hầu như không hề lộ vẻ ngạc nhiên nào; một nguồn kích thích siêu việt và vô danh nào đó đã lấn át đi nỗi sợ hãi mà lẽ ra anh có thể cảm nhận được. Sự im lặng kéo dài trong vài khoảnh khắc, trong khi nhân vật kỳ lạ vẫn hoàn toàn bất động. Pilkington bước lại gần người bạn của mình, kẻ vẫn đang đứng gần bậc cửa, chăm chú nhìn chằm chằm vào ảo ảnh trước mặt. Anh thì thầm vài câu qua vai Norton.
"Norton, anh có quen kẻ lạ mặt này không?"
Anh đáp lại với vẻ nghiêm túc và trang trọng tột cùng: "Có chứ; đã nhiều năm trôi qua kể từ lần cuối cùng tôi nhìn thấy ông ấy. Anh chưa từng biết bác tôi; nhưng đó chính là ông ấy, hoặc là một giác quan nào đó của tôi đã phản bội lại những giác quan còn lại rồi. Chính vào đêm này, mười hai năm trước — ngay trước thời điểm tôi rời nhà đến trường"——Giọng anh giờ đây đã trở nên không thể nghe thấy đối với người bạn của mình, người đang quan sát anh, sau một cái nhìn dò hỏi hướng về kẻ lạ mặt, bỗng nhiên biến mất qua lối cửa mở. Cánh cửa ngay lập tức bị đóng sầm lại bởi một cơn gió mạnh và dữ dội. Khi bật mở trở lại bởi sức nẩy, bóng dáng của Norton được nhìn thấy đang lao xuống sườn đồi hướng về phía đông nam, dẫn đầu là kị sĩ bí ẩn. Ánh sáng quá yếu ớt không cho phép họ xác định rõ con đường mà họ đã chọn; nhưng có vẻ như Norton đã chạy mất tăm qua các ngọn đồi cùng vị sứ giả vô danh. Phản ứng đầu tiên của họ là đuổi theo; nhưng sự bất khả thi trong việc bắt kịp những kẻ trốn chạy, cùng với thời điểm màn đêm đang buông xuống sát nút, sẽ biến đó thành một nỗ lực vô ích và có lẽ là vô cùng nguy hiểm. Nhìn xuống khe núi tối tăm nơi Norton vừa biến mất một cách kỳ lạ, Pilkington bỗng giật mình bởi một giọng nói phát ra từ phía sau; quay đầu lại, anh nhận ra đó chính là kẻ từng thả ra những ẩn ý đầy bí ẩn về "Kị sĩ Bóng ma" trước đó, giờ đây lại hiện về vô cùng sống động trong trí nhớ và trí tưởng tượng của anh.
Nhân vật này vừa cung kính chạm tay vào vành mũ vừa nói: "Thưa ngài, tốt nhất là ngài không nên đuổi theo."
Pilkington thốt lên vẻ ngơ ngác: "Đuổi theo! — Ta không thể — nhưng tại sao chúng ta lại không thể thử một phen cơ chứ?"
Hắn vội vã thốt lên, với giọng điệu đầy lo âu và e sợ, mắt đảo quanh một cách đầy ao ước khắp những ngọn đồi tối tăm, có vẻ như sợ rằng có kẻ đang nghe lén: "Xin mời ngài bước vào trong. Tôi không muốn bàn về chuyện đó ở đây." Pilkington miễn cưỡng tuân theo. Cánh cửa được cài then cẩn thận; và để ngăn cơn gió — giờ đây đã bắt đầu thổi thành những cơn giật mạnh hơn — làm bung cỗ rào chắn ọp ẹp này, một hòn đá nặng đã được chèn vào chân cửa.
Martin vừa đếm thời gian trôi qua trên các ngón tay vừa nói: "Đó là — để tôi nhớ xem — ừm, mười — mười một — đã mười hai năm rồi, chính vào đêm này, Đêm vọng lễ Thánh Bartholomew, cha tôi, một lão già cường tráng vào thời điểm đó, tuy có chút ham thích chuyện săn bắn chim chóc vào những đêm trăng — và ông kiếm được kha khá tiền từ việc đó trong suốt nhiều tuần, đem bán những con chim ở Manchester. Chà, như tôi vừa nói đấy; — một buổi tối trước khi chập tối — mặt trời vừa mới hạ nhiệt cái cằm của mình xuống làn nước đằng xa kia — ông lững thững bước đi cùng bầy chó, Crab và Pincher — hai con vật ranh mãnh nhất từng chạy trước một chiếc đuôi. Chắc chúng phải biết rõ công việc mà chúng sắp sửa dấn thân vào, cứ lủi thủi với cái vẻ mặt tội lỗi như chó rên ấy, thứ biểu cảm mà chúng luôn trưng ra mỗi khi lão già bắt đầu chuẩn bị cho một chuyến đi săn ban đêm. Chúng sẽ lẽo đẽo theo sát gót ông, gần như sát tận bụng, vì sợ bị đám người của Bá tước nhìn thấy; nhưng khi đã thực sự bắt đầu vào cuộc săn, chúng tỏ ra lịch thiệp chẳng kém gì con chó săn chỉ đường được huấn luyện tốt nhất trong giáo xứ. Thưa ngài, tôi đang kể lan man đi đâu mất tiêu rồi; nhưng tôi vốn vô cùng yêu quý mấy chú cún con đó, và đã bao lần tôi chơi đùa với chúng khi tôi còn chẳng to lớn hơn chúng là bao. Chúng đã có một kết cục bi thảm, thưa ngài, giống như hầu hết những tên côn đồ và kẻ trộm khác, và"——
Pilkington cắt ngang: "Nhưng nãy giờ chúng ta chẳng tiến gần thêm được phân nào đến cái kết của câu chuyện cả."
Martin đáp: "Quả thật vậy, thưa ngài; nhưng tôi sẽ nối lại nó ngay đây. Tôi biết mình từng là một gã thiếu niên to lớn vụng về, và khi ấy tôi làm nghề chăn thả gia súc trên các hoang mạc. Chà, vào đúng cái đêm này, như tôi vừa kể, mẹ tôi và những người khác đã lên giường đi ngủ, cha tôi thì đang ở trên đồi, còn tôi thì canh gác ở nhà, có lẽ đang nghĩ về hội chợ Michaelmas sắp tới và biết bao trò vui thú vị ở đó. Lửa đã tắt, nhưng tôi đã thắp một mẩu nến nhỏ, nhớ là nó đã chảy sà xuống tận đế cắm một cách thảm hại. Chà, đúng lúc tôi đang thiu thiu buồn ngủ thì nghe thấy tiếng cào cửa, rồi tiếng rên rỉ ở cửa ra vào. Tôi thầm nghĩ: 'Lại chuyện gì nữa thế này, sao mấy con chó lại về sớm thế nhỉ?' mà không chần chừ gì thêm, tôi nhấc then cửa lên, quả nhiên đúng là chúng, những con quái vật bẩn thỉu nhầy nhụa, trông chúng cứ như vừa bị lăn qua một vũng bùn lầy vậy. Tôi liền hỏi: 'Chủ của chúng mày đâu rồi?' — đám chó chẳng thèm đếm xỉa gì đến tôi, mà cứ cắm cổ liếm láp, tự chải chuốt mấy cái bộ dạng gớm ghiếc của chúng cho đến khi căn nhà nồng nặc mùi hôi. Tôi liền bảo: 'Thế đấy, mấy anh bạn ạ, nếu chúng mày thích kiểu đó thì ra ngoài sân mà vầy,' và không chần chừ thêm nữa, tôi đá tống chúng ra ngoài với một cú đá trời giáng kèm theo. Chà, ngài thấy đấy, tôi đã lắng nghe đến mức thủng cả tai để chờ tiếng bước chân của cha mình; nhưng tôi chẳng nghe thấy gì ngoài tiếng dế kêu, và con suối nhỏ chảy sau nhà, vì mọi thứ tĩnh lặng đến mức tôi có thể nghe thấy cả tiếng một con chuột động đậy. Tôi mở cửa và nhìn ra ngoài, tôi nghĩ đó là một đêm trong trẻo và dịu ngọt nhất từng soi rọi từ bầu trời xuống những ngọn đồi yên tĩnh của chúng ta. Sau đó tôi đi ra cổng, và ngước nhìn con đường dẫn vào thung lũng nhỏ qua một lối tắt, đi ngược lên những đồng cỏ cao; nhưng tôi chẳng thể thấy bóng dáng ông đâu, cũng chẳng nghe thấy chút dấu hiệu nào cho thấy ông sắp về. Tôi có thể nhận ra tiếng bước chân của ông giữa hàng ngàn tiếng bước chân khác, và cả tiếng ho của ông nữa. Tôi cảm thấy bản thân bắt đầu run lẩy bẩy, và từng sợi tóc trên đầu dường như đang dựng đứng cả lên; một hạt đậu cũng có thể đánh gục tôi, và dù có chết tôi cũng chẳng dám mạo hiểm bước đi xa hơn — thật là một điều kỳ lạ khi lũ chó quay về mà không có chủ nhân của chúng — tôi chắc chắn rằng một tai họa nào đó đã giáng xuống đầu ông. Bỗng nhiên, ý nghĩ lóe lên trong đầu tôi rằng ông đã bị kẹt cứng trong một số đầm lầy hoặc vũng bùn nào đó, và lũ chó khốn nạn đã bỏ mặc ông ở đó thay vì thân xác đáng thương của chúng; nhưng việc một người như cha tôi lại kiệt sức đến mức để bản thân sa vào bẫy bùn thì tôi khó lòng mà tin nổi. Thế nhưng lũ chó — ừm, rắc rối nằm ở chỗ đó — và lũ khốn nạn lém lỉnh ấy lại quay về trong một tình trạng thảm hại đến thế. Tôi quay lại nhà, vì tôi không dám ở bên ngoài; nhưng rồi khi đã ở trong nhà, tôi lại chẳng tài nào đứng yên được; thế nên tôi cứ đi qua đi lại trên nền nhà, ngơ ngác như người mất hồn. Tôi không dám đi ngủ; cứ thế, tôi mắc kẹt ở đó suốt mấy tiếng đồng hồ trong một trạng thái hoảng loạn tột độ, mà tôi thề là sẽ chẳng bao giờ chịu ngâm mình vào đó thêm một lần nào nữa vì bất cứ bãi hoang nào từ đây cho đến Chorley."
Pilkington giục giã: "Nói tiếp đi; — chúng ta không có thời gian la cà lúc này đâu; tôi sợ câu chuyện của anh cứ mắc kẹt mãi ở đó, giống như cha anh trong đầm lầy vậy."
Martin đáp: "Chà, tôi chỉ đang trút bỏ những suy nghĩ tồi tệ ra khỏi tâm trí mình thôi, vì chúng cứ vây quanh tôi như một bầy ong mật mỗi khi nghĩ đến chuyện đó; và hiện tại tôi không thích bầu bạn với chúng lắm, nó khiến tôi nhớ lại cái khoảng thời gian mà tai họa quái đản này giáng xuống đầu cha tôi."
Pilkington hỏi: "Tôi đoán là ông ấy không bỏ đi luôn mãi mãi chứ?"
Martin xin xỏ: "Ngài sẽ được nghe kể, thưa ngài, nếu ngài cho tôi nhấp một ngụm từ cái bình này; vì tôi cảm thấy sắp ngất xỉu hoặc lên cơn tới nơi rồi."
Martin tu một hơi dài từ cái bình, và sau khi được tiếp thêm sức lực như thế, hắn tiếp tục câu chuyện của mình.
Hắn nói tiếp: "Chà, ngài thấy đấy, tôi cứ thế ngóng chờ, và tâm trí tôi cứ như thể bị đặt lên một gò kiến vậy, tôi bồn chồn không yên. Lũ chó cũng bắt đầu tru lên thảm thiết ở cửa ra vào, thế nên tôi đành cho mấy con tội nghiệp vào nhà để có bầu có bạn. Tôi vẫn chưa đánh thức mẹ dậy; vì tôi cứ nghĩ mình sẽ đợi thêm một lúc nữa, lại thêm một lúc nữa, vốn dĩ từ bé đến giờ tôi chưa bao giờ thích mang tin xấu đến cho ai cả. Chà, cứ thế tôi lằng nhằng khoảng hai hoặc ba tiếng đồng hồ, và ngay lúc tôi đang đắn đo không biết có nên lên lầu hay không, tôi nghe thấy tiếng bước chân vội vã từ ngoài cổng bước thẳng lên bậc thềm rồi tiến ra cửa. Mà đó cũng chẳng phải tiếng bước chân của cha; nó sắc bén và vội vã một cách khủng khiếp. Tôi cảm giác như mình bị sét đánh trúng vậy. Đầu gối tôi run rẩy và va cập vào nhau như thể đang lên cơn sốt rét. Then cửa bật mở; bởi vì tôi chẳng thể nhúc nhích nổi — tôi bị dính chặt xuống sàn nhà. Cánh cửa bật tung ra một cách đáng sợ, và cha tôi bước vào, cứ như thể cả một 'Đạo quân Quỷ dữ' đang bám sát gót vậy. Trông ông tái mét và hồn vía lên mây, thế nên tôi chắc mẩm rằng ông vừa nhìn thấy con búp bê ma mà bà tôi hay dùng để dọa chúng tôi. Ngay khi có thể cất lời, tôi liền gọi: 'Cha ơi, cha ơi, chuyện gì xảy ra thế? Cha có thấy nó không?' Ông không nói một lời nào, mà lầm lũi ngồi xuống chiếc ghế bập bênh lớn bên cạnh lò sưởi, ngả đầu ra sau và bắt đầu đu đưa qua lại, miệng rên rỉ suốt thời gian đó như thể đang gặp phải nỗi đau đớn tột cùng. Tôi cố hết sức nhìn ông, vì lúc trước tôi đã thắp sáng cả một cây nến. Tôi cũng ngồi xuống, và chẳng thể thốt thêm được lời nào nữa. Nhưng hỡi ơi Chúa ơi! Lũ chó mừng rỡ phát cuồng lên khi nhìn thấy ông! Chúng chồm lên, nhảy nhót, suýt khóc vì sung sướng, cứ như thể chúng từng đinh ninh là mất tích vĩnh viễn rồi, và tội nghiệp thay, chúng vô cùng mừng rỡ khi thấy ông trở về. Câu đầu tiên ông nói là dành cho mấy con vật ngốc nghếch đó; vì chúng cứ rên rỉ, uốn éo, vẫy đuôi và liếm ngón tay ông, đủ sức làm tan chảy cả bức tường đá. Ông bảo: 'Ừ, ừ, mấy đứa ranh con lém lỉnh của ta, chúng mày đã bỏ ta lại với cái đuôi cụp sát đất, và chuồn mất dép bằng cái tốc độ nhanh nhất có thể, khi ta đang kiệt sức với cái lũ——' Đến đây ông đảo mắt nhìn xung quanh với một khuôn mặt ảm đạm và hoảng loạn đến mức tôi thực sự nghĩ rằng mình sẽ chẳng bao giờ quên được nó dẫu có đang sắp bước lên đoạn đầu đài. Chớp lấy cơ hội này, tôi đánh liều cất lời dăm ba câu. Lão già lại ném cho tôi một cái nhìn kinh hoàng khác trước khi nói — Ông thốt lên: 'Ôi trời ơi! Đời ta chắc chẳng còn mấy ngày nữa đâu. Ta vừa nhìn thấy cái con——' Ông khựng lại rồi đảo mắt nhìn quanh một lần nữa; sau đó ông nói gần như thì thầm: 'Ta đã nhìn thấy hắn rồi, Martin ạ!' Tôi đáp: 'Con biết ngay mà.' Ông bảo: 'Ta tin rằng mình vừa nhìn thấy gã khốn kiếp đó; và đó là điều ta chẳng bao giờ muốn làm lại lần nữa, và mày cũng thế. Chúng ta chấm dứt việc đi săn đêm từ đây thôi, và lũ chó cứ cút đi đâu kiếm đủ ăn thì kiếm.' Ngài có thể tưởng tượng là tôi sợ đến mức nào rồi đấy. Tôi không dám hỏi ông làm thế nào mà lại chạm trán với lão Nhọ Nhem đó; nhưng chẳng bao lâu sau ông đã tự kể ra mà tôi không cần phải gặng hỏi, và theo những gì tôi có thể nhớ được, đây là toàn bộ cơ sự về chuyến phiêu lưu tồi tệ của ông:"
"Ông kể: 'Ta đang đi ngược lên phía gò Pike, và ánh trăng chiếu rọi rực rỡ biết bao, bao phủ lên sườn đồi, thì ngay lúc ta đi vào khuất phía sau nó trong bóng râm, ta tưởng mình nhìn thấy một vật gì đó to lớn và đen đúa đang đứng giữa một lùm cây thạch thảo nhỏ trước mặt. Ta có chút giật mình, nhưng ta dụi trán, dụi mắt rồi nhìn lại. Nó không hề nhích đi đâu cả, thế nên ta nghĩ tốt nhất là nên đối mặt với sự việc, và cứ thế tiến bước mà không thay đổi tốc độ. Chà, khi đến gần hơn thì ta thấy gì cơ chứ, hóa ra là một con ngựa đen to lớn ngạo nghễ, trên lưng chở một gã đàn ông lùn tịt, kẻ dường như đang đứng đợi cho đến khi ta đến nơi. Ta đứng sững lại khi cách đó một hoặc hai thước, chờ hắn cất lời trước, vì ta nghĩ chắc đó là một kẻ khốn khổ nào đó bị lạc đường khi băng qua các hoang mạc. Nhưng hắn chẳng thốt lấy một lời, điều mà ta cho là vô cùng thô lỗ và vô văn hóa. Thế nên, bằng lời lẽ lịch sự nhất có thể cho dù đang vô cùng sợ hãi rằng đây là một tên đang rình rập để chặn đường trấn lột mình, ta lịch sự hỏi thăm xem hắn thế nào, đại loại thế. Rồi ta hỏi xem hắn có cần người dẫn đường băng qua các ngọn đồi không. Ngay lúc đó, thứ kia phát ra một tràng cười ngựa hí đầy nghênh ngang, khiến cha tôi hoảng sợ hơn bất cứ thứ gì hắn vừa nói; nhưng ông không dám quay đầu lại vì sợ hắn sẽ đuổi theo và tóm được mình khi đang chạy, thế nên ông cứ đứng im một chỗ, run lẩy bẩy như một con quay trong suốt thời gian đó.'
'Hắn hỏi ngay sau khi dứt tràng cười: "Ngươi có chỉ được đường đến Hai Đứa Trẻ[19] không?"'
'Cha tôi đáp: "Có chứ, tôi rành chẳng kém gì bất kỳ ai trong giáo xứ này." Kẻ tiểu yêu liền bảo: "Vậy thì dẫn đường đi, và đừng bận tâm đến việc chọn đường nhé bạn hiền, vì ngựa của ta có thể dẫm qua đầm lầy mà chẳng ướt lấy một sợi lông chân." Cha tôi bước đi, nhưng ông nghĩ lũ chó vẫn luôn giữ ánh mắt cảnh giác hướng về phía kẻ lạ mặt, cụp đuôi lại và lủi thủi đi sau, cứ như thể chúng vô cùng khiếp sợ hắn. Nhưng chẳng bao lâu sau, cha tôi bắt đầu tự hỏi trong lòng rằng thứ quái đản này muốn gì ở khu Hai Đứa Trẻ đó, nơi mà như ngài đã biết, cách đó chưa đầy hai dặm và nằm trên phần cao nhất, gớm ghiếc nhất của toàn bộ khu đất công cộng; một nơi vốn dĩ từ lâu đã mang tiếng tai tiếng. Dù vậy, ông không dám hỏi về mục đích của hắn, và họ cứ thế đi tiếp mà không nói một lời nào, cho đến khi khu Hai Đứa Trẻ thấp thoáng hiện ra trước mắt dưới ánh trăng trong trẻo và dịu ngọt. Cha tôi nói: "Kia rồi; và bây giờ tôi xin phép chúc ngài ngủ ngon." Kẻ đồng hành liền cất lời: "Đứng lại đã: ta vẫn còn muốn dùng ngươi thêm một lát nữa, thế nên cứ lết bước đi, nếu ngươi vui lòng." Chẳng hiểu sao cha tôi cảm thấy mình không dám từ chối, và dẫu chán ngán cái kiểu bạn đồng hành này đến nhường nào, ông vẫn lê bước cho đến khi cả hai đến tận nơi. Gã tiểu quý tộc phán: "Bây giờ, hãy nhấc đống đá lớn đằng kia lên, rồi ta sẽ bảo ngươi phải làm gì với chúng." Cha tôi thưa: "Thưa ngài, chắc ngài đang đùa đấy chứ." Hắn đáp lại: "Đùa gì mà đùa; nhìn này, dễ như ăn kẹo ấy mà." Vừa dứt lời, hắn nhảy phắt xuống ngựa, và chỉ với một nhát quất roi, đống đá bay vút lên, nhảy tưng tưng, nhảy tưng tưng, giống như một đàn quạ từ đồng ngô bay vụt lên vậy. Lũ chó cất lên một tiếng tru thảm thiết, và chẳng thèm ngoảnh đầu lại xem đằng sau có chuyện gì, chúng cắm cổ chạy bán sống bán chết qua đầm lầy và bụi cây để tìm đường gần nhất, bỏ mặc cha tôi bơ vơ một mình với tên ác quỷ ghê tởm. Ngay lập tức, trong đầu ông hiện lên những câu chuyện từng nghe về "Kẻ Kị Sĩ Bóng Ma", kẻ được đồn đại là hay lang thang quanh những ngọn đồi này, lúc thì lơ lửng trên không trung, lúc thì trên mặt đất, giống như những đám mây đen và bóng của chúng lướt trên thảm cỏ mềm mà chẳng để lại lấy một dấu chân. Cha tôi bảo rằng ông chỉ ước đất dưới chân nứt ra để nuốt chửng mình đi cho rồi, vì ông quá sợ hãi. Nơi đống đá từng nằm giờ đây xuất hiện một cái hố toác hoác, trông giống như một trong những cái miệng của vực thẳm không đáy, và dù cố gắng thế nào đi nữa, ông cũng không thể tài nào rời mắt khỏi nó. Kẻ đáng sợ kia cất giọng: "Đó chính là nơi đấy," nhưng cha tôi thì đã mềm nhũn cả người vì kinh hãi. Ông không thể cất lời, nhưng hình như ông thấy một cánh tay đen sì và dài ngoằng thêu từ dưới hố thọc lên. Gã Mặt Đen thét lên: "Nhấc thứ hắn đưa cho mày lên, rồi mau cút đi." Nhưng hắn có nói với mấy bụi kim tước và gai góc thì hy vọng được vâng lời cũng chừng ấy. Tên chân rết đáng ghét của Lão Quỷ thét lên với giọng giòn tan như sấm sét: "Nhấc nó lên!" Nhưng cha tôi vẫn chết cứng một chỗ, và rồi những tiếng thét chói tai, tiếng gào rú, tiếng rên rỉ cùng những thứ âm thanh mà ông chưa từng nghe bao giờ bắt đầu vang lên. Sinh vật đó trông giận dữ và nọc độc đầy mình chẳng khác gì một con cóc. Hắn lầm bầm: "Ta lỡ mất giờ rồi," và đoạn hắn lắng tai nghe ngóng, bởi vì có tiếng bước chân đang tiến lại gần trên lớp thạch thảo tối tăm, rồi sinh vật xấu xí ấy bật cười khoái chí. Hắn thét lên: "Cút đi, đồ ngốc, có kẻ ngon ăn hơn mày đến kìa!" rồi hắn tặng cho cha tôi một cú đá mà theo một cách tính toán ôn hòa, lẽ ra đã có thể đưa ông bay qua thung lũng, nếu như ông không kịp nhớ ra một câu chú phù thủy cũ và lầm bầm nó trong lúc ngã. Ông nằm đó bao lâu và chuyện gì đã xảy ra trong khoảng thời gian đó thì ông không hề hay biết, nhưng khi tỉnh lại, ông thấy đống đá đã trở về nguyên vẹn như cũ, vầng trăng vẫn chiếu xuống sáng rực và tươi đẹp như thể chẳng có chuyện gì đặc biệt vừa xảy ra. Ông khó lòng tự thuyết phục rằng mình vừa mơ một giấc mơ tồi tệ, cho đến khi nhớ lại địa điểm đó và cách mà mình bị dụ dỗ, hay đúng hơn là bị ép buộc đến đó trái với ý muốn. Ngài có thể chắc chắn là ông đã ba chân bốn cẳng chạy một mạch về nhà, và bước vào trong cái tình trạng mà tôi vừa kể cho ngài nghe xong. Chẳng mấy ngày sau, chúng tôi nghe tin một quý ông có địa vị đàng hoàng, sống cách đó không xa lắm — tôi quên béng mất tên ông ta rồi — và được cho là đang băng qua các ngọn đồi vào đúng đêm hôm ấy, đã bị mất tích. Ông ta không bao giờ xuất hiện trở lại nữa. Người ta đồn đoán rằng ông ta đã bị đầm lầy nuốt chửng, nhưng cha tôi luôn đinh ninh rằng ông ta đã rơi vào móng vuốt của Tên Ác Quỷ đó, kẻ mà chính ông cũng chỉ vừa may mắn thoát thân với cái mạng già tơi tả. Kể từ ngày đó cho đến tận lúc lâm, không ai còn thấy ông lai vãng lên các ngọn đồi hoang nữa; ông thực sự đã trở thành một con người hoàn toàn thay đổi, và cuốn Kinh Thánh lớn của chúng tôi có in tranh minh họa đã được phủi sạch bụi bặm. Người ta có thể bắt gặp ông ngồi với cuốn sách đặt trên đùi bên thềm cửa vào một đêm mùa hè, và băng ghế thứ ba từ hàng ghế của ngài Địa chủ trong nhà thờ Blackrod chưa bao giờ vắng bóng người ngồi cho đến khi cha tôi được an tảng yên nghỉ trong nghĩa trang.'
Trong suốt bài tường thuật này, bầu không khí hoàn toàn chìm đắm trong sự tập trung cao độ và gần như nín thở. Khi hắn kết thúc, một tiếng xì xào xôn xao bao trùm lấy nhóm người; không ai cất lời trong một thoáng cho đến khi Pilkington chậm rãi đưa một bàn tay lên trán thốt lên —
"Một sự giải thoát kỳ diệu, thứ mà lẽ ra tôi có thể đối xử như bao điều kỳ diệu khác, nếu như các giác quan của chính chúng ta không phần nào để lại cho chúng ta chút ít sự thật, hay ít nhất là tính xác suất về cuộc phiêu lưu này, một điều mà về phần mình, tôi thấy thật khó để gạt bỏ. Phóng đại và đầy những điều phi lý, tôi thừa nhận thế, nhưng câu chuyện chắc chắn có một nền tảng sự thật nào đó làm chỗ dựa. Đó là gì thì thật khó xác định, nhưng sự huyền bí hay ngộ nhận ấy, dù là gì đi nữa, cũng sẽ được làm sáng tỏ, và phải thật nhanh chóng."
Mortimer nói: "Chắc chắn rồi; nhưng trước hết chúng ta hãy trở về chỗ trọ đã. Những điều kỳ diệu, vốn có tỷ lệ nghịch với sự thật, luôn có vẻ lớn lao nhất khi ở khoảng cách xa; và khi lời giải thích đến, có lẽ chúng ta sẽ mỉm cười trước sự bối rối hiện tại của mình. Câu đố sẽ trở nên dễ dàng khi được giải."
"Đúng vậy; nhưng làm thế nào để đạt được điều đó đây?"
"Chúng ta hãy trở về phòng trọ; biết đâu chúng ta sẽ thấy người bạn đồng hành của mình đã có mặt ở đó trước chúng ta rồi."
Pilkington lắc đầu đầy vẻ hoài nghi. Quả thực toàn bộ vụ việc đã để lại trong lòng anh một ấn tượng lớn hơn nhiều so với những gì anh sẵn lòng thừa nhận, ngay cả với chính bản thân mình.
Ánh trăng soi đường cho họ trên bước đường khi họ chọn con đường ngắn nhất để trở về nơi tạm trú. Không ít cái nhìn thận trọng được ngoái lại phía sau, và không ít tảng đá tối màu hay bụi cây — không ít chiếc bóng kỳ dị — lại mang lấy hình thù mà họ hằng khiếp sợ khi phải đối mặt. Họ đã trở về chốn nương náu mà không gặp phải sự quấy nhiễu nào, thế nhưng — Norton không có ở đó!
Mortimer đăm chiêu lên tiếng: "Chắc chắn có chuyện mờ ám gì ở đây rồi. Anh có nghĩ rằng, Pilkington, chúng ta có thể tìm đường dưới ánh trăng thanh bình này đến cái nơi gọi là 'Hai Đứa Trẻ' mà Martin vừa chỉ dẫn không? Tôi đoán là mấy gã nhà quê quanh đây chẳng dám bén mảng tới đó đâu. Quả thực tôi nghĩ việc đi mà không cần người hầu đi kèm là điều khôn ngoan vì nhiều lẽ."
Pilkington đáp: "Đó cũng là ý kiến của tôi; còn chuyện dò dẫm đường đi thì tôi có thể làm được ngay. Dù thế nào đi nữa, tôi cũng không thể yên lòng nếu không thử một phen."
Mortimer nói: "Chúng ta đừng gây ra bất kỳ sự hoảng loạn nào, hãy lặng lẽ chuồn đi sau khi đã nạp đầy năng lượng; chúng ta không cần phải báo cho họ biết về ý định của mình đâu."
Pilkington đáp lại: "Tốt nhất là chúng ta nên cảnh cáo trước mấy tên ranh con này để chúng không bép xép loan truyền vụ phiêu lưu này vào lúc này, hoặc cho đến khi chúng ta có thêm thông tin chính xác về bản chất của các thủ tục mà chúng ta có thể cần phải áp dụng."
Chẳng mất bao lâu để họ bắt đầu cuộc hành trình, băng qua con đường mòn trên đồi theo hướng cần thiết. Vào ban ngày, các cột đá có thể dễ dàng được nhìn thấy từ một số khu vực của thung lũng bên dưới, và Pilkington từng thường xuyên đi ngang qua chúng khi băng qua các hoang mạc. Nhờ đó, một khái niệm khá chính xác về hướng đi của chúng đã được định hình từ điểm xuất phát.
Phần lớn chặng đường được bước đi trong sự im lặng. Các con suối dâng nước do những trận mưa lớn, và việc cẩn thận tột độ là vô cùng cần thiết để đạt được mục tiêu một cách an toàn. Con đường mòn không lúc nào là không có hiểm nguy, bởi vì bản chất xốp và bấp bênh của các đầm lầy, những khối thực vật bọt bèo vô bổ tích tụ chồng chất, để lộ ra những mảng thảm cỏ xanh mướt giữ nước ở độ sâu đôi khi không tài nào dò tới được, và thỉnh thoảng trở thành tử địa cho những ai dám mạo hiểm bước chân lên bề mặt lừa dối và nguy hiểm này. Bằng cách sử dụng sự cẩn trọng tối đa và dò dẫm kỹ càng bản chất của mặt đất trước mặt, họ tiếp tục bước đi mà không gặp phải phiền toái nào khác ngoài việc lội qua các vũng lầy và hào nước, leo qua những bức tường đá và bờ đất, được sự hỗ trợ bởi ánh sáng không bị che khuất của một vầng trăng mùa gặt rực rỡ.
Họ giờ đây đã vượt qua phần mệt nhọc nhất của đoạn đường leo dốc, đó là đỉnh núi phủ đầy thạch thảo tối tăm, nơi ánh trăng trải dài thật đẹp đẽ, tựa như thiên nhiên chính là một vùng đất bao la của sự im lặng vĩnh cửu, chưa bao giờ bị phá vỡ hay xáo trộn. Cảm giác ấy giống như đang ngắm nhìn một bức tượng — vẫn có dáng dấp của sự sống, nhưng tất cả lại hoàn toàn tĩnh lặng và bất động, sự tĩnh mịch đến rợn ngợp tựa như một bóng ma.
Chẳng mấy chốc họ đã vượt qua những lùm thạch thảo kêu răng rắc trên đỉnh, để rồi nhìn thấy hai cột đá thô kệch nhô lên từ đường chân trời tối tăm phía trước. Một cảm giác, không phải không gắn liền với sự sợ hãi, chạy qua với một luồng rùng mình đột ngột xuyên qua các nguồn cội sâu thẳm, vô hình của cảm xúc — những dòng suối bị phong ấn của tâm hồn. Họ có cảm giác như đang bước vào một vùng đất huyền bí hoặc bị cấm kỵ. Thời điểm — những hoàn cảnh dẫn họ đến tình trạng hiện tại — sự biến mất bất ngờ và khó giải thích gần đây của người bạn đồng hành, cùng với những mê tín phổ biến gắn liền với chốn hoang vắng này — tất cả đều góp phần khuấy động nỗi sợ hãi hiện tại của họ với một sức mạnh và sự nhức nhối bất thường, thậm chí là kinh hoàng. Họ gần như chờ đợi "Kị sĩ Bóng ma" lao vụt qua, hoặc đột ngột xuất hiện trước mặt họ và cấm đoán họ tiến sâu hơn vào lãnh địa của hắn.
Mortimer lại khựng lại sau một hồi im lặng kéo dài rồi cất lời: "Tôi vốn không có thói quen chú tâm nhiều đến những điều kỳ diệu hay mê tín, thế nhưng..."
Pilkington nói: "Chà, bầu không khí cứ như đang nồng nặc mùi huyền bí ấy. Dù nguyên nhân là gì đi nữa, tôi chưa bao giờ cảm thấy tâm trạng muốn dành một giờ để thành tâm cầu nguyện hơn thế này trong đời."
Mortimer đáp: "Cả hai chúng ta có lẽ sẽ cần phải thực hiện điều đó trước khi rời khỏi đây, nếu như linh tính của tôi không đánh lừa tôi."
Pilkington nói: "Có thể chính sự huyền bí gắn liền với chuyến thám hiểm của chúng ta đang tự thân tác động lên tâm trí. Tôi cảm giác như mọi giác quan đều bị áp đặt bởi một thứ bùa chú kinh hoàng và không thể gỡ bỏ. Một bầu không khí ngột ngạt, không thể xuyên thủng và gần như hữu hình đang đè nặng lên tâm hồn. Chắc chắn chúng ta đang bám theo dấu vết của một con quỷ nào đó, và ảnh hưởng tinh vi của hắn đang bao trùm lấy chúng ta."
"A!" Mortimer thốt lên, giật mình lùi lại với một cái rùng mình, tựa như vừa bị rắn độc cắn phải.
"Mortimer, anh có nghe thấy âm thanh gì không?"
"Tôi tưởng có thứ gì đó vừa sượt qua tai mình."
Pilkington đáp với giọng điệu trầm đục và đầy kích động: "Tôi cũng nghe thấy; nhưng tôi còn nghe nhiều hơn thế, Mortimer. Một giọng nói, tôi có cảm giác rõ ràng như chính tiếng của anh vậy, vừa lướt qua: 'Đừng đi,' nó cất lên khe khẽ. Tôi chắc chắn mình đã nghe rõ những từ đó."
Mortimer nói: "Nơi này tác động lên tôi một cách kỳ lạ; nhưng tôi sẽ không quay bước trở lại đâu, dẫu cho miệng của vực thẳm có há ra cản đường đi nữa."
Bỗng nhiên một lớp sương mù tụ lại xung quanh họ, không phải là một hiện tượng bất thường ở những vùng núi non này, nhưng lại là một điềm báo đủ lớn để bám sâu vào trí tưởng tượng của họ, vốn đã sẵn sàng tô điểm cho mọi hiện tượng — dù tầm thường đến đâu hoặc theo đúng tiến trình thông thường của sự việc — bằng những nỗi sợ hãi siêu nhiên. Một cơn gió lớn chẳng mấy chốc cuộn lớp hơi nước thành những đám mây lướt đi vùn vụt; lúc thì để lộ ánh trăng xuyên qua những khe nứt vỡ vụn của chúng, lúc thì tối sầm lại và không thể xuyên thủng, che khuất toàn bộ vòm trời và bao bọc lấy họ như thể một tấm áo choàng. Dẫu vậy, họ vẫn tiếp tục bước đi, chậm chạp nhưng theo đúng hướng — trong khả năng xác định tốt nhất của họ — về phía nơi họ hy vọng tìm thấy một manh mối cho cuộc tìm kiếm của mình. Họ tin chắc rằng — mặc dù không ai trong số họ có thể giải thích rõ bản chất của niềm tin ấy — sự huyền bí sẽ chấm dứt tại đây.
Cơn gió giờ đây thổi mạnh hơn và liên hồi hơn, giống như tiếng gầm rú từ đại dương xa thẳm. Họ tưởng như mình nghe thấy những âm thanh khác vang lên trong tiếng gió rít; những tiếng gào thét và tru tréo dường như đang tiến lại gần hơn sau mỗi đợt gió thổi tiếp theo. Một âm thanh giống như tiếng vỗ cánh sượt qua họ, và theo bản năng, họ nắm chặt lấy cánh tay của nhau. Một tiếng rên rỉ vang lên rõ mồn một; rồi đến một tiếng khác, lớn hơn và kinh khủng hơn. Một tiếng thét đau đớn tiếp nối, theo sau là một tiếng gào thét lớn đến mức kinh hoàng khiến một tiếng kêu kinh hãi tự bật ra từ đôi môi họ.
"Lạy Cha Nhân Từ, xin cứu chúng con!"
Đó là tiếng kêu của đức tin; một ánh nhìn hướng thẳng về phía Ngài — Đấng "không chậm trễ trong việc lắng nghe, cũng chẳng bất lực trong việc cứu rỗi". Đám mây đột ngột tan biến, mở ra khung cảnh trước mắt như thể để phơi bày một màn kịch vĩ đại nào đó. Họ nhìn thấy ngay trước mặt, chỉ cách đó vài bước chân, những cột đá đen đúa, nặng nề, trông càng thêm u ám và gớm ghiếc dưới thứ ánh sáng chói lọi mà chúng hiện hình. Một lớp mây hoặc sương mù dường như cũng vừa tan biến khỏi tầm nhìn tâm trí họ; một gánh nặng được trút bỏ khỏi nỗi lo âu của họ. Họ có cảm giác như trước đó mình không hề hành động như những cá thể tự do, mà bị thúc đẩy bởi một thế lực vô hình nào đó, khiến mọi giác quan và mọi suy nghĩ đều phải chịu khuất phục dưới ách nô lệ.
Bên cạnh một trong những đống đá nằm úp sấp một thân hình bất động. Đó chính là hình hài tựa xác chết của Norton! Nhìn bề ngoài, anh hoàn toàn không còn sự sống, với hai bàn tay siết chặt và toàn bộ tư thế bộc lộ một cuộc chiến đấu vừa mới đây vô cùng tuyệt vọng và đau đớn. Họ cố gắng lay gọi anh, và một chút rượu bổ được họ dùng để làm ẩm đôi môi anh đã mang lại vài triệu chứng nhỏ cho thấy ý thức đang dần hồi phục; nhưng ngọn lửa ấy vừa lóe lên rồi lại vụt tắt cùng hơi thở đã nhen nhóm nó. Kế hoạch an toàn nhất rõ ràng là tìm cách đưa anh rời đi. Với sự chậm trễ ít nhất có thể, họ nhẹ nhàng khiêng anh đi giữa hai người; và khi tia nắng đầu tiên của ban ngày đang ló dạng trên các ngọn đồi, họ vô cùng mãn nguyện khi thấy anh đã được an toàn tại quán trọ nhỏ của mình, nơi một vị bác sĩ nhanh chóng được triệu hồi từ ngôi làng lận cận. Anh vẫn bất tỉnh, nhưng sự sống vẫn chưa tắt; vị bác sĩ tuyên bố anh đang lâm vào tình trạng cực kỳ nguy hiểm do những vật lộn và gắng sức bạo liệt của cả thể xác lẫn tâm trí. Sự nghỉ ngơi và sự chăm sóc cẩn thận nhất là những điều tuyệt đối cần thiết, kẻo khi ý thức quay trở lại, lý trí sẽ bị xáo trộn và tâm trí sẽ vẫn còn hoang mang sau những chấn động vừa trải qua.
Trong suốt vài tuần liền, nạn nhân bất hạnh này — theo như họ phỏng đoán — của chính những nỗi sợ hãi mơ hồ và siêu nhiên của mình, nằm bất động mà không hề biểu lộ dù chỉ là một dấu hiệu nhận biết nhỏ nhất. Những tiếng rên rỉ và những lời thì thầm ngắt quãng, sau những khoảng lặng kéo dài, đã khẳng định rằng sự sống vẫn đang nấn ná ở bậc thềm của ngôi đền, không đành lòng cất cánh bay đi. Một tiếng kêu kinh hãi thỉnh thoảng lại bùng phát, và toàn bộ cơ thể anh co giật dữ dội trong lúc anh dường như vắt kiệt sức lực trong những nỗ lực trốn thoát.
Chúng tôi sẽ không kéo dài bài tường thuật này, cũng chẳng cần thiết phải kể lại cách mà tia sáng đầu tiên phá vỡ những đám mây đã che phủ tâm hồn anh bấy lâu nay. Những thức tỉnh đầu tiên của tâm hồn thật là đáng sợ. Giống như tiếng triệu hồi kinh hoàng cuối cùng, đó không phải là sự thức tỉnh từ cõi quên lãng. Mọi giác quan đều mang dấu ấn tăm tối của sự sợ hãi, mặc dù anh dường như vẫn không hay biết về khoảng thời gian đã trôi qua.
Pilkington và người bạn của anh vẫn tận tụy chăm sóc không ngơi nghỉ. Kết quả vẫn hoài nghi trong một thời gian dài; nhưng cuối cùng anh cũng hồi phục khỏi nỗi ảo giác kinh hoàng từng đè nặng lên mình.
Khi sức khỏe đã bình phục, anh chỉ tiết lộ riêng cho họ nghe về những sự kiện đã xảy ra trong khoảng thời gian ngắn ngủi họ bị chia cắt.
Anh miễn cưỡng bắt đầu câu chuyện: "Tôi nghĩ mình đã nói với các anh trước đây rằng, bóng hình xuất hiện một cách đầy bí ẩn tại cửa nơi trú ẩn tạm thời của chúng tôi trên đồi mang y hệt hình hài của người bác tôi, người mà các anh chưa từng biết mặt, Pilkington ạ. Các anh có thể tưởng tượng sự ngạc nhiên của tôi là lớn đến mức nào, dẫu tôi không dám chắc mình đã cảm nhận được điều đó; nhưng nó sẽ phần nào lý giải cho sự liều lĩnh bề ngoài của tôi cùng quyết tâm tha thiết bám theo, khi tôi thông báo với các anh rằng chính xác là mười hai năm trước, vào đúng cái đêm đó, đêm vọng lễ Thánh Bartholomew, sự biến mất khó hiểu của ông ấy trên những ngọn đồi hoang này — điều mà tôi từng nhắc đến trước đó — đã gieo rắc sự kinh hoàng và đau khổ cho cộng đồng từng vô cùng yên bình và hạnh phúc mà ông gắn bó. Tôi không cần phải kể lại những thảm họa và bất hòa trong gia đình mà sự biến mất bí ẩn của ông đã khơi nguồn. Không có một dấu vết nào để lại sau sự biến mất ấy; và thi thể của ông cũng không bao giờ được tìm thấy. Đêm trước chuyến dã ngoại của chúng ta, tôi đã nhìn thấy ông; nhưng đó là trong một giấc mơ. Hoàn cảnh này, cùng với địa điểm và chính xác khoảng thời gian mười hai năm kể từ ngày ông ra đi, chính là nguyên nhân dẫn đến vẻ trầm ngâm và thẫn thờ của tôi trước khi vị khách bí ẩn xuất hiện. Tôi cảm thấy sự thờ ơ; và đồng thời là một gánh nặng đè nặng lên tâm trí mình mà tôi không thể giải thích nổi. Tôi nhớ rằng mình hầu như không hề sợ hãi, thậm chí chẳng ngạc nhiên khi ông xuất hiện; và tôi có cảm giác như mình đang chờ đợi sự xuất hiện của ông — chìm đắm dưới ảnh hưởng mơ hồ của một giấc mơ hơn là những nhận thức tỉnh táo của thực tại lúc thức giấc. Tôi không mảy nghi ngờ gì rằng sự huyền bí giờ đây sẽ được làm sáng tỏ. Tôi đi theo vị kị sĩ đang lùi bước, kẻ mà tôi thấy đang ra hiệu cho tôi tiến lên, và thỉnh thoảng có vẻ như đang quở trách sự chậm chạp cùng tốc độ rề rà của tôi. Tôi không thể nghe thấy giọng nói của ông, nhưng tôi tưởng ông đã gọi tên tôi. Ông lao xuống ngọn đồi với tốc độ khá nhanh, và tôi phải rất vất vả mới giữ được ông trong tầm mắt. Hoàn toàn quyết tâm tìm ra sự thật, tôi tự nhủ nếu có thể, dù hậu quả ra sao đi chăng nữa, tôi nhất định sẽ bám theo. Cơn bão bất ngờ tạnh hẳn, và những đám mây đang cuộn trôi thành từng mảng đứt đoạn qua bầu trời trong xanh tĩnh lặng, từ đó vầng trăng ló dạng, nhờ ánh sáng của nó mà tôi hy vọng sẽ giữ được mục tiêu truy đuổi trong tầm ngắm.
"Con đường ông đi lúc bấy giờ dẫn ngược lên sườn ngọn đồi đối diện. Tôi trèo lên với một chút khó khăn, nhưng gã kị sĩ đang bay đi trước mặt tôi lại hoàn toàn thực hiện được điều đó một cách trôi chảy mà không gặp chút do dự hay bất tiện nào. Ông đứng đợi tôi khi đã vượt qua đoạn dốc đứng nhất của sườn đồi, và tôi ngày càng bị thuyết phục rằng đó chính là hình hài của bác tôi, giống như tôi từng thấy hồi nhỏ. Trí nhớ của tôi đủ bền bỉ về điểm này; và biết được nhu cầu cấp thiết, xét về mặt gia phái, rằng số phận của ông phải được làm rõ ràng, tôi đã bất chấp mọi hiểm nguy và tiếp tục bám theo người dẫn đường bí ẩn này. Tôi không nhớ là mình có cảm giác sợ hãi nào rằng bản thân đang đi theo một hướng dẫn siêu nhiên; hay việc đó có thể chỉ là một bóng ma đang dụ dỗ tôi đến với đau khổ và diệt vong. Vẻ mặt hiền từ, nhân hậu của người họ hàng đang hiện ra trước mắt tôi, và tôi không thể gắn liền ý niệm về nguy hiểm với người dẫn đường kiêm bảo hộ thuở thiếu thời của mình.
"Khi tôi lên tới đỉnh đồi, tôi nhìn thấy bóng dáng tối tăm của vị kị sĩ phóng đại trên bầu trời rộng lớn, trống trải và không bị che khuất, với kích thước gần như khổng lồ. Có lẽ chính khoảng cách đã tạo ra ảo ảnh này, nhưng con ngựa đen khổng lồ trông như lớn dần lên theo từng bước chân, và trở nên giống quỷ dữ cùng kinh khủng hơn. Tôi vẫn tiếp tục bám theo, và chẳng mấy chốc tôi đã nhìn thấy hai cột đá mà hành trình của chúng ta rõ ràng đang hướng tới. Chúng dường như mọc lên từ mặt đất như những tên khổng lồ khổng lồ đang chờ đợi con mồi. Người dẫn đường của tôi, kẻ mà trước đó tôi từng cố gắng đuổi kịp, đứng yên khi đến bên chúng, chờ đợi tôi đến gần. Với cảm giác kỳ lạ tương tự như một nạn nhân xấu số, bị thúc đẩy bởi một sự mê hoặc không thể cưỡng lại lao thẳng vào chính hàm răng của kẻ hủy diệt, tôi tiến gần hơn đến đối tượng của những hy vọng và lo âu trong tôi. Tôi nhận ra chính xác bộ trang phục mà bác tôi thường mặc trong những dịp bình thường, cùng với vóc dáng vạm vỡ, vuông vức mà thuở nhỏ tôi từng quen nhìn với sự kính trọng như cha mẹ. Thế nhưng tôi vẫn bất an vì lo lắng và hoảng loạn. Những hình ảnh kinh hoàng tràn ngập trong bộ não tôi. Tôi cảm thấy mình trở thành trò chơi và con mồi của một thế lực mà tôi không thể chống cự — một thế lực rõ ràng có thể sai khiến mọi giác quan của tôi theo ý muốn, và đã sớm nắm giữ quyền kiểm soát bản thân trong tay hắn. Tôi bắt đầu hoang tưởng rằng đó là một ảo ảnh khủng khiếp đang hành hạ mình; và tôi nhớ rõ đó chính là cảm giác ám ảnh chúng ta trong những giấc mơ khi một định mệnh khủng khiếp đang đến gần mà rõ ràng không tài nào trốn thoát; thế nhưng chúng ta lại có cảm giác chắc chắn rằng một lối thoát sẽ mở ra để cứu rỗi. Trong lúc phải chịu đựng tất cả những nỗi kinh hoàng của hoàn cảnh, chúng ta chắc chắn một điều rằng những khốn khổ của chúng ta sẽ sớm chấm dứt. Tuy nhiên, một đám mây đang tụ lại trong tâm hồn tôi, và các sự vật mang một màu sắc khác khi được nhìn qua những yếu tố hỗn loạn và hoang dã của nó. Với tất cả sự mơ hồ và bất định của một giấc mơ, tôi cảm thấy rằng mình thực sự đang thức!
"'Ngươi có nhận ra ta không?' kẻ truy vấn bí ẩn cất lời, với một giọng điệu mà tôi ngay lập tức nhận ra. Dù vậy, vẫn có một âm hưởng đáng sợ và gai người trong cách diễn đạt đó, khiến tôi hoảng sợ hơn trước rất nhiều.
"Tôi đáp: 'Tôi nhận ra ngài, là người bạn và người bảo vệ thuở thiếu thời của tôi; nhưng — tôi bị gọi đến đây vì mục đích gì, và tại sao ngài lại ra nông nỗi này?'
"Hắn cất tiếng với một giọng điệu khủng khiếp và mang điềm gở: 'Con đường của ta đã bị che khuất!'"
"'Xin hãy nói cho tôi biết, ngài đã đi đâu vậy? Đây có phải là chốn dung thân của ngài không? Trừ khi' — tôi vừa rùng mình vừa nói thêm bằng một giọng điệu thấp nhưng đầy năng lượng — 'trừ khi ngài là một thứ quỷ dữ nào đó đã mượn lấy hình hài của ông ấy để dụ dỗ tôi đi vào chỗ hiểm nguy.'
"'Khi mặt trăng cưỡi trên vòm trời phương nam xanh thẳm, đó là lúc nửa đêm; lúc ấy ta sẽ tiết lộ những điều ngươi hằng mong muốn, và mục đích ta đến đây.'
"'Ngươi có thực sự là kẻ mang hình hài đó không? Hãy trả lời cho thành thật, nếu ngươi còn mong ta ở lại.'
"'Ta chính là hắn!' hắn đáp lại với một giọng điệu giống y hệt giọng của bác tôi, đến mức tôi giờ đây hoàn toàn tin chắc rằng chính hình hài của ông đang đứng trước mặt tôi. Mọi phỏng đoán đều trở nên vô ích về những động cơ thúc đẩy sự che giấu kéo dài và phi thường này.
"'Hãy hứa đi, Norton, rằng ngươi sẽ nán lại đây cho đến khi ta quay về!'
"'Tôi hứa; nhưng hãy cho tôi một vật đính ước, một minh chứng rằng sự tồn tại của ngài là có thật; rằng ngài không phải xuất hiện như một bóng ma để đánh lừa hy vọng của tôi.'
"Hắn vươn tay ra. Tôi lại cảm nhận được cái siết tay ấm áp từ người bạn đầu đời của mình, kẻ mà tôi từng thương khóc như đã chết từ lâu. Tôi đã định ôm chầm lấy ông, nhưng ông rụt lại, và tôi lại nhìn thấy con chiến mã màu đen đang chuẩn bị và tỏ ra sốt sắng muốn rời đi.
"Hắn cất giọng trầm đục: 'Hãy ghi nhớ, đúng nửa đêm ta sẽ quay lại.'
"Tôi tựa người vào tảng đá, quyết tâm chờ đợi sự xuất hiện của người họ hàng bí ẩn của mình, kẻ mà tôi đinh ninh rằng khi quay lại sẽ giải thích một cách thỏa đáng cho hành động của ông. Bị cuốn vào những phỏng đoán và suy ngẫm vô ích, thời gian trôi qua hầu như không ai hay biết, và trước khi tôi kịp nhận ra thì con chiến mã đen đã đứng sững bên cạnh. Kẻ kị sĩ đột ngột xuống ngựa. Theo bản năng, tôi lùi lại khi hắn tiến đến; bởi vì dưới ánh sáng trong trẻo tĩnh lặng của vầng trăng không mây, tôi nhìn thấy khuôn mặt hắn bị biến dạng một cách gớm ghiếc và biểu cảm gần như mang tính ma quỷ.
"'Ngươi là của ta!' hắn vừa nói vừa đặt một bàn tay lên vai tôi; 'và chẳng mấy chốc ngươi sẽ thấu hiểu bí mật khủng khiếp của ta.' Hắn tiến lại gần hơn; tôi cảm nhận được hơi thở của hắn phả lên mặt mình; nó nóng nực đến mức như muốn thiêu đốt; tôi không thể chống cự nổi; hắn bám chặt lấy tôi như một con rắn; đôi mắt hắn lóe lên ngọn lửa xanh xám, và đôi môi hắn — một ý nghĩ gớm ghiếc, đáng ghét — đôi môi hắn chạm vào môi tôi! Toàn bộ tâm hồn hắn dường như đang lan tỏa vào từng thớ thịt trong cơ thể tôi. Tôi tưởng tượng rằng cơ thể mình được định sẵn để trở thành chốn dung thân cho một tên ác quỷ bị nguyền rủa — rằng tôi đang trải qua quá trình kinh hoàng của việc bị quỷ ám! Dù đang thở hồng hộc, gần như ngạt thở, vì tôi không thể tự gỡ mình ra khỏi những chiếc nanh chết chóc của hắn, tôi vẫn dồn hết sức lực cuối cùng. Một tiếng kêu hướng về phía Thiên Đường, nhưng đó là tiếng kêu cuối cùng; tâm hồn dường như đã kiệt quệ sau nỗ lực đó. Mọi ấn tượng tiếp theo và rõ ràng đều biến mất; và tôi chẳng nhớ gì ngoài những giấc mơ kinh hoàng, lộn xộn, nơi tôi là trò đùa và con mồi của lũ quỷ, hoặc chính cơ thể tôi là chốn trú ngụ của một tên ác quỷ luôn bứt rứt và đầy ác ý! Sau đêm dài bất tỉnh nhân sự nối tiếp sau đó, tôi vô cùng biết ơn vì lý trí đã tỉnh dậy mà không hề tổn hại gì; và dẫu cho số phận của tôi có phần đáng sợ hơn cả số phận chung của những người phàm trần, tôi vẫn muốn dâng lòng tôn kính đến Đấng quyền năng đã giải cứu tôi khỏi chính nanh vuốt của Tên Ác Quỷ!"
Những người lắng nghe hoàn toàn bàng hoàng, kinh hãi đến tột độ trước bản tường thuật đáng sợ này. Những bí ẩn của nó là thứ mà họ không thể giải quyết bằng bất kỳ sự quy chiếu nào đối với tiến trình thông thường của các sự kiện tự nhiên; không có chiếc chìa khóa nào mà thiên nhiên đang nắm giữ có thể mở tung được bí ẩn đen tối và ma quỷ này. Cho đến tận cuối đời, Norton vẫn đinh ninh rằng thi thể của người bác anh chính là nơi trú ngụ của một linh hồn ô uế, kẻ chỉ được phép du hành trên trái đất với điều kiện khủng khiếp là hắn phải thực hiện được việc xâm nhập vào một thể xác con người đang sống, kẻ mà hắn có thể trục xuất chủ nhân đích thực để phục vụ cho mục đích gớm ghiếc này. Nhiều tình tiết dường như củng cố cho niềm tin ấy. Cuộc phiêu lưu của lão thợ săn trộm cũ, đặc biệt là việc nó xảy ra chính xác vào đêm bác anh biến mất, đã dẫn dắt Norton đi đến kết luận rằng tên ác quỷ buộc phải làm mới chốn dung thân của mình vào mỗi dịp kỷ niệm lần thứ mười hai của ngày lễ thánh Bartholomew. Rằng một giải pháp không nhất quán với niềm tin của chúng ta vào sự quan tâm và kiểm soát liên tục của một Sự Quan Phòng khôn ngoan và toàn năng là không chính xác, chúng ta không cần phải bận tâm chứng minh trong kỷ nguyên tri thức và sự hiểu biết được phổ biến rộng rãi này. Mặc dù vậy, một sự huyền bí, không thể dò thấu dưới những hoạt động thông thường của tự nhiên, dường như vẫn bao trùm lên toàn bộ sự việc, và dẫu chỉ là một truyền thuyết, các sự kiện vẫn mang một sự tương đồng và mối dây liên kết kỳ diệu đối với sự thật, ngay cả trong những chi tiết hoang dã nhất của chúng.
Người ta đồn rằng "Kị sĩ Bóng ma" không bao giờ xuất hiện trở lại nữa, và vì đã thất bại trong việc thực hiện các điều kiện cho phép sự tồn tại của hắn trên trái đất được tiếp diễn và kéo dài từ thời gian này qua thời gian khác, hắn đã bị trục xuất về chốn của riêng mình, nơi hắn phải vĩnh viễn chịu đựng hình phạt dành cho những linh hồn đồng loại bị nguyền rủa, những kẻ có mục đích liên tục quyến rũ và hủy diệt.
[19] Hai Đứa Trẻ (Two Lads) là những đống đá rời, cao chừng mười hoặc mười hai feet, được dựng lên, theo như câu chuyện kể lại, để tưởng niệm cái chết của hai cậu bé chăn cừu được tìm thấy tại chỗ sau một cuộc tìm kiếm kéo dài, khi chúng bị lạc đường trong một trận cuồng phong tuyết lớn. Câu chuyện này rất có thể là không chính xác; những tượng đài xây bằng đá này đã dần được tích tụ bởi những người qua đường — một tập tục được truyền lại từ những thời đại xa xôi nhất và vẫn được tuân thủ như một hành động thờ cúng tôn giáo ở phương Đông. Không còn nghi ngờ gì nữa, chúng là những tàn tích vẫn còn vương vấn giữa chúng ta về những "bàn thờ trên mọi đỉnh đồi cao," từng được dâng cúng cho Baal, hoặc Bel, vị thần tối cao được thờ cúng bởi người Carthage hoặc Phoenicia, từ đó các nghi lễ Druid của chúng ta có lẽ đã bắt nguồn. [19]
❀ ❀ ❀