Truyện Kể Dân Gian Lancashire, Tập 2

Lượt đọc: 53 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Con Quỷ Trên Lưng Con Ngựa Xám.

❊ ❊ ❊

"Than ôi, thương thay thân xác lẫn linh hồn tôi, Lão Sừng Vểnh đã quắp lấy tôi đi, hỡi người; Và gã chủ quán sẽ tới, phóng ngựa đưa tôi về nhà, Và tôi phải đến thổi kèn trong sảnh của lão thôi, hỡi người!" —Khúc ca cổ.

Về sự tích làm nền tảng cho câu chuyện sau đây, tác giả xin gửi lời cảm ơn đến tờ The Kaleidoscope, một giai phẩm hằng tuần rất thú vị, do hai ông Smith và Son ấn bản tại Liverpool.

Cách Clitheroe chưa đầy ba dặm, khi bạn bước vào một ngôi làng nhỏ bên tay phải con đường cái quan đi Gisburne, có một quán rượu lấy tên câu chuyện của chúng ta làm biển hiệu. Trên đó vẽ hình chúa tể Địa Ngục đang cưỡi một cách kỳ quặc trên một con ngựa xám gầy guك, không yên, không cương, hay bất cứ trang bị nào khác — con vật tội nghiệp hoảng sợ đang ba chân bốn cẳng phóng vút đi khỏi cửa quán, nơi một người thợ may nhỏ con đang hớ hở cầm kéo và thước dây, có vẻ như đang chứng kiến cuộc ra đi của kẻ có chân chẻ với muôn vàn sự hoan hỉ chứ chẳng chút buồn rầu hay phản đối.

Bản thân ngôi nhà là một trong số những kiến trúc cổ xưa mang mái đầu hồi, với hai màu đen trắng, nay đang dần biến mất trước bước tiến khổng lồ của thời đại cải tiến, thứ vốn giày xéo không thương tiếc cả cung điện lẫn lều tranh, từ chòi của bác nông dân đến dinh cơ của bậc quý tộc. Rất nhiều ô cửa sổ với những tấm kính nhỏ hình quả trám gắn chì có thể được nhìn thấy ở đây trong đủ mọi trạng thái trùng tu và mục nát: có ô bị nhồi những mảnh giẻ rách đủ màu sắc; có ô, nơi công cuộc tàn phá diễn ra triệt để hơn, bị bịt kín hoàn toàn bằng những viên gạch vỡ, đá cuội và vô số giải pháp cùng vật liệu thay thế khéo léo khác để chống chọi với thời tiết.

Nhưng câu chuyện của chúng ta lại gắn liền đặc biệt với những ngày tháng khác, rùng rợn hơn — "thời gian xưa cũ", vốn nổi tiếng với biết bao điều kỳ diệu và hoang đường — chính là chất thơ của ma thuật đen tối; khi Satan trò chuyện một cách hữu hình và rành mạch với con người — ơn trời cho những kẻ tôn thờ thánh tích và lần chuỗi hạt — và lại tỏ ra vô cùng gần gũi, hợp lẽ phải đến mức tranh luận và thuyết phục con người về sự hợp lý của việc quy phục hắn, như những sinh vật có lý trí và thông minh; thậm chí đôi khi hắn còn ngốc nghếch đến mức để cho sự khôn ngoan và tài tình của những nạn nhân dự kiến qua mặt mình. Để làm bằng chứng, chúng ta xin dẫn câu chuyện chân thực sau đây, mang trong mình mọi dấu ấn nội tại của sự thật và là chất liệu để suy ngẫm thấu đáo, nghiêm turc.

“Mike Lỏn”, hay đúng hơn là Michael Waddington, là một thợ may vui tính có tiếng tăm trong thời của mình, thuở trước — tức là chừng tám, chín mươi năm về trước — từng trú ngụ tại chính căn nhà này, nơi anh hành nghề, trừ những lúc bị mùi rượu ngon dụ dỗ đến quán trọ làng — điều gây tổn hại, thậm chí hủy hoại biết bao tấm vải vóc tuyệt đẹp mà đôi khi anh đã cắt may theo cách chẳng mang lại chút uy tín nào cho cả người mặc lẫn thợ may. Mike ham mê những câu chuyện tầm phào vui vẻ và bất kham trong căn bếp của chủ quán "tại quán trọ" hơn là chăm chú vào chiếc bàn làm việc của mình, xung quanh là những dụng cụ nghề nghiệp, chuyên cắt với vá những mảnh trang phục chắp vá kỳ cục của mấy kẻ phàm phu trong làng. Vì quá mê trò tiêu khiển và bạn hiền nên phần lớn tiền kiếm được của anh đều chui qua cái lò nấu của tay bán rượu; và những người viết sử trung thực như chúng tôi lấy làm tiếc khi phải thuật lại rằng, chỉ khi nợ nần chồng chất không ai cho thiếu nữa, anh mới chịu ngồi vào bàn làm việc để kiếm tiền mua thêm nguồn sinh lực — thứ nước uống nuôi dưỡng sự tồn tại của anh. Có thể đoán được rằng mọi chuyện ở nhà chẳng mấy suôn sẻ, nơi nghèo đói và túng thiếu đã để lại những dấu vết không thể xóa nhòa. Matty Waddington, người vợ của anh, hẳn đã phải vất vả lắm mới lo đủ bữa qua ngày nếu bà không gom góp được vài xu cùng ít thức ăn thừa bằng cách bán củi và phụ giúp hàng xóm bất kỳ công việc vặt nào đang có.

Thế nhưng, nhìn chung, bà vẫn chịu đựng mọi rắc rối và thiếu thốn với lòng kiên nhẫn lớn lao và tính khí ôn hòa — ít nhất là trước mặt chồng mình, người dẫu lười biếng và hoang phí nhưng thú thật lại không có tính tình độc ác với vợ như mấy tên bợm nhậu đốn mạt khác, trái lại, anh thường đối xử rất mực nhã nhặn và tử tế với người vợ bất hạnh trong mọi chuyện, trừ việc nhượng bộ thói hư tật xấu của bản thân; bởi anh có cơn khát rượu không bao giờ tắt mà mọi quyết tâm hay lời thề cải sửa đều không thể chống lại.

Một buổi tối, chàng thanh niên thấp bé là nhân vật chính của chúng ta đang chìm đắm trong trò tiêu khiển quen thuộc tại quán rượu, nhưng "cốc rượu đã cạn đáy" và uy tín của anh thì còn cạn hơn thế. Thực tế là cả tiền mặt lẫn uy tín đều đã sạch bách; ly rượu của anh chỉ còn cách đáy một ngụm ngắn; và anh ngồi ngẫm nghĩ về những tình thế ngặt nghèo mà mình đang vướng phải cùng những bóng ma kinh hoàng sẽ ập đến vào ngày mai, dưới hình hài của biết bao chiếc áo đúp và quần tất rách rưới, bên cạnh vô số chỗ rách và món đồ cần vá víu đã tích tụ từ mấy tuần nay, gây ra không ít phiền toái và bẽ bàng cho những chủ nhân và người sử dụng trước đó của chúng.

“Ước gì mình là chân sai vặt của địa chủ, hay chí ít là đứa trẻ chạy việc, và được nốc một ngụm rượu ngon mà không phải nhọc công vật lộn,” anh thầm nghĩ trong miệng. Vừa dứt lời thì có một vị khách lạ vô cùng lịch sự bước vào nhóm tụ họp gồm những bậc thầy thủ công trong làng như bác thợ cạo, thợ rèn và người rung chuông, cùng với hiệp sĩ kim khâu của chúng ta. Người mới đến mặc một bộ đồ đen tươm tất; một bộ tóc giả cùng màu tôn lên chiếc đầu rộng và lớn, lại được đội thêm một chiếc mũ chóp nhọn, có viền băng và khóa ở trên vành cùng một bông hoa hồng đen phía trước. Trông ông ta như một quý ông lớn tuổi, đàng hoàng, cực kỳ bảnh bao và đầy nhã nhặn; cây gậy của ông đen như gỗ mun, với một cái núm màu vàng lấp lánh như vàng. Ông có chiếc mũi khoằm to đượng và đôi mắt đen láy nhỏ xíu, như muốn xuyên thủng bất cứ thứ gì nó nhìn vào. Mọi người đều nhường đường cho người lạ, vị này bèn ngồi xuống, tất nhiên không phải ngay dưới ánh lửa bập bùng mà là né sang một bên, sao cho có thể quan sát rõ ràng mọi người mà bản thân lại không bị soi mói.

“Đêm nay trời đẹp đấy chứ,” vị khách mới đến lên tiếng.

“Nhưng ở trong này còn đẹp hơn,” mọi người thầm nghĩ.

“Chắc là có trăng,” Mike nói, người đang trầm ngâm về ngụm rượu cuối cùng và sự ra đi sắp tới khỏi thiên đường say sưa này.

“Không đâu bạn hiền,” vị quý ông mặc đồ đen nói, “mà các vì sao sáng rực rỡ kìa; tuyết rơi sáng lấp lánh và khô giòn, anh có thể nhìn thấy mọi thứ trước mặt rõ như ở Pendle vậy. Chủ quán, mang cho ta một cốc rượu ngon nhất; và hâm nóng lên một chút trên bếp, cho thêm ít đường, vì lạnh như củ cải sống nuốt vào bụng ấy.”

“Hừ!” chủ quán làu bàu cáu kỉnh; “cái bụng nào không làm ấm nổi ngụm bia lạnh thì đúng là cái bụng vô tích sự.”

“Ý mày là cái loại bia vô tích sự ấy, Giles, chứ thứ bia nào mà chẳng sưởi ấm nổi cái bụng lạnh ngắt,” một kẻ hay chữ trong nhóm lên tiếng, đó là một anh thợ rèn trẻ tuổi vui tính, rất được lòng các cô gái và những tay chơi trong vùng.

“Trời đánh thánh vật!” một kẻ khác tiếp lời; “Bia của Giles Chatburn chắc sưởi ấm được cả chỗ ngồi của lão chân chẻ ấy chứ!” Thế là tiếng cười rộ lên sảng khoái, tuy nhiên người lạ mặt lại không hề tham gia. Mike lấy làm lạ là một câu nói đùa hay như vậy lại chẳng có chút tác động nào đến ông ta; và còn nhiều điều đáng chú ý khác đã được nói và làm mà chúng ta không có đủ không gian cũng như hứng thú để ghi lại, nhưng người lạ vẫn giữ nguyên vẻ điềm tĩnh khó hiểu của mình. Thỉnh thoảng Mike lại liếc nhìn ông ta, và anh luôn nhận ra ánh mắt của người lạ đang đăm đăm nhìn vào mình. Một đôi mắt tối sẫm, sáng rực, đầy lửa, khiến gã thợ may nhát gan phải vội quay mặt đi ngay, bởi anh không thể chịu nổi ánh sáng chói lọi ấy.

Mike bắt đầu cảm thấy bồn chồn và khó chịu. Anh đổi chỗ ngồi, nhưng cái nhìn của người lạ vẫn bám theo. Nó giống như ánh mắt từ một bức tranh chân dung, dù người xem có đứng ở góc độ nào thì nó vẫn luôn hướng về phía đó. Có thể dễ dàng đoán được rằng Michael Waddington, dẫu không ngại bị nhìn ngó theo cách thông thường, lại chẳng hề thích thú chút nào trước kiểu quan sát liên tục và dò xét đến tận cùng này từ phía vị quý ông mặc đồ đen. Đã mấy lần anh định lên tiếng, nhưng trái tim anh lại chùng xuống ngay khi từ ngữ vừa chạm đến cửa miệng.

Cốc rượu của anh giờ đã cạn, nhưng lần này anh chẳng hề buồn bã khi phải rời đi như mọi khi; bởi dẫu sao, anh cũng sẽ thoát khỏi sự khó chịu mà mình phải chịu đựng suốt nãy giờ. Anh đứng dậy với tâm trạng ít tiếc nuối hơn hẳn thường lệ; và ngay lúc bước qua khung cửa, anh ngoái đầu nhìn lại qua vai, và bắt gặp ánh mắt cố định, không hề nao núng ấy vẫn đang dán chặt vào mình. Anh vội vã nhảy qua ngưỡng cửa và lập tức rảo bước trên con đường về nhà. Anh vừa đi được dăm phút thì nghe thấy tiếng bước chân dồn dập trên lớp tuyết giòn tan phía sau. Quay người lại, anh nhìn thấy chiếc chóp mũ tối màu cao vút của người lạ, trông càng tối hơn gấp bội, đen một cách siêu tự nhiên trên nền tuyết trắng, khi ông ta đang tiến lại gần. Mike cảm thấy tóc gáy dựng đứng vì khiếp sợ. Hai đầu gối vốn thường hơi khép vào nay bỗng va vào nhau cầm cập, khiến anh chẳng thể rảo nhanh bước chân, và người lạ đã nhanh chóng sánh bước bên cạnh anh.

“Ta đoán anh đang trên đường về nhà phải không,” vị đội mũ chóp đen lên tiếng. Mike đáp lại bằng một câu gì đó gần như không thể nghe rõ. “Ta biết chứ,” kẻ kia đáp. “Nhưng sao anh lại về sớm thế?”

“Tiền của tôi hết rồi, mà uy tín cũng chẳng còn,” gã thợ may chậm chạp đáp.

“Và đấy là lỗi của ai chứ?” người bạn đồng hành đáp lại. “Anh hoàn toàn có thể có được sự giàu sang, cùng vạn sự như ý, nếu chịu nghe theo lời khuyên của ta.”

Mike trố mắt nhìn bóng đen bên cạnh, cũng là điều dễ hiểu. Ý tưởng về sự giàu có mà không cần lao động là một khái niệm hoàn toàn mới mẻ đối với anh, và anh đánh bạo hỏi làm thế nào để đạt được mục tiêu vô cùng hấp dẫn này.

“Hãy lắng nghe đây. Anh chỉ là một kẻ khốn khổ nghèo hèn, lao động vất vả mà vẫn khó lòng kiếm nổi miếng ăn qua ngày. Chẳng phải sẽ rất tuyệt vời và đáng khao khát sao, dù bằng cách nào đi nữa, khi có được sự giàu có theo ý muốn, cùng mọi niềm hạnh phúc và sự hoan hỉ mà con người có thể tận hưởng?”

Đôi môi thèm thuồng của Michael chực trào nước miếng trước viễn cảnh ấy, bất chấp nỗi sợ hãi dành cho vị quý ông mặc đồ đen đang sóng vai.

“Ta đây cũng từng nghèo hèn và khốn khổ như anh. Nhưng ta đã trở nên khôn ngoan hơn, và — sự giàu có vô tận giờ đây hoàn toàn nằm trong tầm tay ta.”

Một khoảng lặng đáng sợ bao trùm; người lạ có vẻ muốn thăm dò tác động từ lời thổ lộ đầy bí ẩn này. Gã thợ may háu ăn lắng nghe ngấu nghiến, mong ngóng được nghe về phương thức có thể cải thiện hoàn cảnh kỳ diệu của mình.

“Chưa bao giờ anh nghe nói về những kẻ đã được thế lực bóng tối giúp đỡ để...”——

“Xin cứu lấy chúng tôi, ơn chúa”——

“Im lặng!” vị khách quả quyết cướp lời, tóm chặt lấy cổ tay Mike một cách thô bạo. “Thêm một tiếng kêu oan nữa thôi, ta sẽ mặc kệ anh với những đường kim mũi chỉ; mặc anh chết đói, hoặc lay lắt sống qua ngày tùy theo khả năng của anh.”

Michael hứa sẽ vâng lời, và người đồng hành tiếp tục nói—

“Chẳng có gì là tai họa lớn hay tội lỗi gớm ghiếc như người ta vẫn tưởng. Hoàn toàn chỉ là một thủ tục thông thường thôi, ta đảm bảo với anh; và là thứ mà anh có thể hoàn thành chỉ trong vài phút, chẳng mấy phiền hà hay rắc rối.”

“Hãy nói cho tôi biết bí mật kỳ diệu ấy,” Michael háo hức thưa, dường như trước viễn cảnh rực rỡ đang mở ra trước mắt, mọi nỗi sợ hãi đối với kẻ đồng hành trong anh đều đang tan biến.

“Được thôi; anh có thể đọc hai kinh kính mừng, một kinh tin kính và đọc ngược kinh lạy cha ba lần, sau đó gọi con quỷ vô hình hiện diện, nó sẽ cho anh biết phải làm gì.”

Michael cảm thấy một luồng lạnh gáy kỳ lạ chạy dọc sống lưng trước những lời đầy sợ hãi ấy. Anh nhìn kẻ đồng hành, nhưng chẳng thấy gì nổi bật hơn chiếc mũ chóp cao và chiếc mũi khoằm to đượng như ban nãy. Lúc này họ đã đến sát ngưỡng cửa nhà mình, và Michael đang đắn đo tự hỏi có nên mời vị khách bước vào nhà hay không, thì suy nghĩ của anh bị cắt đứt ngang xương khi người kia nói rằng hắn còn có việc quan trọng phải đi xa hơn một chút; và đoạn, hắn chúc anh ngủ ngon.

Michael dành những giờ tối còn lại để trằn trọc và ngẫm nghĩ; nhưng cuối cùng, lựa chọn đầy cám dỗ giữa sự giàu sang và nghèo đói đã chấm dứt mọi do dự của anh. Anh quyết định tuân theo lời khuyên và chỉ dẫn của người lạ. Chẳng thể có chuyện gì xấu xảy ra được. Anh chỉ định hỏi xem làm thế nào để có được sự giàu có đó thôi; nhưng nếu cách thức ấy có phần ma quái hoặc độc ác, anh sẽ không dính líu gì thêm nữa. Lập luận như vậy và đã định đoạt dứt khoát cách hành xử cho mình, gã thợ may tự lừa dối bản thân ấy liền hướng bước chân vào sáng hôm sau đến một nơi vắng vẻ gần bờ sông, nơi anh dự định tiến hành nghi lễ triệu hồi hùng hồn nọ. Thế nhưng, khi anh cố gắng cất lời bắt đầu, cái bụng của anh bỗng cảm thấy nặng trĩu và đầy bứt rứt một cách kỳ lạ. Anh run lẩy bẩy từ đầu đến chân và ngồi xuống một lúc để lấy lại dũng khí. Những lời của người lạ đã khích lệ anh.

“‘Hoàn toàn chỉ là một công việc thông thường,’” anh tự nhủ; và Mike bắt tay vào thực hiện bài học mà mình đã nhẩm đi nhẩm lại trên đường đi. Lời cuối cùng của câu thần chú bất kính ấy vừa dứt thì một tiếng sét nổ vang rền trời ngay trên đầu anh, và kẻ thù truyền kiếp của nhân loại đã hiện diện trước mặt gã thợ may đang chết khiếp.

“Sao ngươi lại triệu hồi ta đến đây?” vị vua âm phủ cất giọng vang như tiếng gió thét hay tiếng gầm của cơn bão dữ đang kéo tới. Nhưng Michael chẳng thể thốt nên lời trước mặt con quỷ dữ.

“Hãy trả lời ta — cho thành thật,” con quỷ gầm lên. Mẩu người khốn khổ thảm hại này bấy giờ mới quụp xuống đầu gối, cất giọng vô cùng thảm thiết van xin—

“Ôi! ôi! xin xót thương. Tôi không hề — tôi — chẳng muốn — gì cả!”

“Tên nô lệ đê tiện, hỗn xược! Ngươi đang nói dối ta và chính ngươi thừa biết điều đó. Khai rõ mục đích của ngươi ngay lập tức, nếu không ta sẽ lôi cổ ngươi về vương quốc của ta mà chẳng cần lôi thôi gì nữa.”

Trước lời đe dọa ấy, kẻ phàm trần khốn khổ liền rạp mình sát đất, một lời thú tội muộn màng cuối cùng cũng bị ép ra khỏi miệng hắn.

“Ôi! xin tha thứ. Ngài biết rõ cảnh nghèo túng và khốn cùng của tôi rồi đấy. Tôi muốn có sự giàu sang, và — và—”

“Tốt!” con quỷ thốt lên với một nụ cười ghê rợn. “Đó là thứ mà các người luôn khao khát. Đứa con nào của Adam cũng cất tiếng kêu với nỗi khát khao vô tận rằng: ‘Hãy cho ta — hãy cho ta!’ Nhưng nghe đây! đó là lỗi tại ngươi nếu không được giàu có, và phải thật nhanh chóng. Ta sẽ ban cho ngươi ba điều ước: hãy dùng chúng theo ý muốn của ngươi đi.”

Lúc này gã tiểu nhân cảm thấy mừng rỡ khôn tả khi nghe được lời ban ơn hào phóng ấy và trong cơn sung sướng tột độ, hắn thốt lên—

“Chà chà! Thế thì tôi biết điều ước đầu tiên của mình sẽ là gì rồi; và tôi chẳng cần đến hai điều ước còn lại đâu.”

“Sao ngươi lại chắc chắn thế?” con quỷ hỏi, với cái nhìn khinh miệt và miệt thị hoang dại đến mức tàn nhẫn khiến Michael giật lùi lại đầy khiếp sợ.

“Tuy nhiên, trước khi đặc ân này được ban phát,” con quỷ tiếp lời, “còn một vấn đề nhỏ mang tính thủ tục cần phải giải quyết trước đã.”

“Đó là gì vậy?” vị tân binh run lẩy bẩy lên tiếng hỏi với nỗi bất an và hoảng hốt ngày một dâng cao.

“Một bản hợp đồng cần phải được ký kết và trao tận tay.”

“Một bản hợp đồng! Ôi chao; để làm gì chứ?”

“Chỉ vì hình thức thôi mà; ta đảm bảo với ngươi là không có gì hơn đâu — một sự ghi nhận nhỏ cho những lợi ích to lớn mà ta buộc phải trao tặng. Cụ thể là, vào thời điểm bảy năm sau, ngươi sẽ phải sang làm bạn với ta.”

“Tôi ư!” kẻ khốn khổ gào lên; “nếu vậy thì hãy giữ lấy món quà của ngài đi; tôi chẳng màng đến chúng với điều kiện này đâu.”

“Tên ngốc khốn nạn!” con quỷ dữ gầm lên; nghe tiếng thét đó, gã tội đồ ngã ngửa ra đằng sau. “Hãy ký hợp đồng này, nếu không ngươi sẽ phải theo ta ngay lập tức. Phải, ngay phút này đây: vì hãy nhớ rằng, bất cứ kẻ nào gọi tên ta đều bị giao nạp vào quyền lực của ta; và hãy tự thấy mình được đối xử rộng lượng khi ta đưa ra cho ngươi một sự lựa chọn. Ngươi có cơ hội để có được sự giàu sang, danh vọng và sự thịnh vượng nếu chịu ký vào văn khế này. Còn nếu không, ta cứ việc bắt ngươi đi dù ngươi có muốn hay không — chỉ đơn giản thế thôi. Ngươi nói sao nào?” và vị thiên sứ sa ngã xòe rộng đôi cánh đen kịch, có vẻ như sẵn sàng chồm tới vồ lấy nạn nhân đang bất lực của mình.

Chỉ trong chớp mắt, Michael đã quyết định rằng thà ký vào bản hợp đồng để có được sự giàu có, cùng bảy năm tận hưởng chúng, còn hơn bị lôi xềnh xệch xuống hố lửa địa ngục ngay lập tức mà chẳng được nếm trải bất kỳ niềm vui sướng nào trước đó. Hơn nữa, trong vòng bảy năm ấy, ai mà biết được điều gì sẽ xảy ra theo hướng có lợi cho mình.

“Tôi đồng ý,” hắn nói, và ác quỷ liền đưa ra bản hợp đồng của mình. Một giọt máu rỉ ra từ bàn tay của nạn nhân chính là phương tiện cho sự giao dịch đáng sợ này; và ngay sau khi nó được thực hiện, một tiếng sét nữa vang lên báo hiệu sự rời đi của Satan cùng món giá trị của một linh hồn nữa trong tay.

Michael giờ chỉ có một mình. Hắn suýt không thể tin nổi rằng mình vừa trải qua một giấc mơ. Hắn nhìn vào ngón tay, nơi một vết thương nhỏ vẫn còn hằn rõ, từ đó một giọt máu vẫn còn rớm lại — bằng chứng xác thực đầy kinh hoàng cho những nỗi sợ hãi của hắn.

Trở về nhà trong tâm trạng buồn bã và cô độc, hắn định trèo lên chỗ ngồi quen thuộc của mình, nhưng ngay cả nỗ lực đó cũng quá sức đối với hắn. Một ý nghĩ đen tối và bỏng rát đang hành hạ tâm can, hắn ngồi thụp xuống bên chiếc lò sưởi lạnh ngắt của nhà mình, cảm thấy cô quạnh hơn bất cứ lúc nào trước đây. Matty đang chuẩn bị bữa trưa; nhưng đó chỉ là một bữa ăn đạm bạc và nghèo nàn — ít bánh mì yến mạch, và một miếng thịt mỏng dính được hàng xóm cho. Dù bữa ăn có khem khổ đến đâu thì nó vẫn ngon hơn những món ăn đạm bạc đôi khi vẫn dọn ra trên bàn của họ. Matty không hề biết nguyên nhân thực sự dẫn đến cơn chán nản của chồng, bà cứ ngầm đinh ninh rằng đó chỉ là những dằn vặt quen thuộc của sự hối hận, nếu không muốn nói là ăn năn, mà Mike luôn mắc phải mỗi khi túi cạn sạch và ngọn lửa khát khô trong cổ họng chưa được dập tắt. Bà mời hắn cùng ăn, nhưng hắn nuốt không trôi. Hắn ngồi đó với đôi mắt lim dim, dán chặt vào lớp than hồng sắp tàn và chẳng buồn đáp lại những lời khuyên nhủ của vợ.

“Này Mike, tôi bảo ông nhé,” người phụ nữ tốt bụng cất lời, “ông bị làm sao thế hả? Vui lên đi chứ, đứng dậy ăn miếng thịt đi nào. Ông có buồn rầu mãi về chuyện đó thì cũng chẳng ích gì, chẳng thể nào vá lại một đường khâu hỏng chỉ bằng cách ngồi ước đâu. Dù sao thì nếu chuyện này khiến ông tốt hơn trong tương lai, tôi cũng chẳng phàn nàn nữa. Nào, nào ông chồng quý hóa, nếu một miếng thịt vẫn chưa làm ông thỏa mãn, thì tôi ước gì mình có tận hai miếng, thế thôi.”

Lời vừa dứt khỏi miệng bà, thì kìa! Một miếng thịt xông khói thơm phức còn đang bốc khói nghi ngút bỗng xuất hiện trên bàn do một bàn tay vô hình nào đó đặt lên. Michael giật mình bừng tỉnh khỏi cơn mê sảng bởi điều ước tai hại này. Quăng một cái nhìn đầy khiếp sợ vào miếng thức ăn, hắn thét lên—

“Bà ơi là bà! Bà đã làm cái quái gì thế hả? Ước gì bà biến đi khuất mắt tôi cho rồi vì cái tội tai hại này.”

Ngay lập tức bà biến mất — bị cuốn đi bởi chính đôi bàn tay vô hình đó; nhưng đi đâu thì hắn hoàn toàn không biết.

“Khổ thân tôi — khói thân tôi!” gã thợ may khốn khổ kêu lên trước tai họa kép này; “giờ tôi phải làm sao đây? Chắc chắn là tôi sẽ chết đói mất, mà tôi lại chỉ còn sót lại đúng một điều ước. Hừ, tốt hơn hết là mình nên cẩn thận khi ước vậy. Tốt nhất là nên suy ngẫm cho kỹ, kẻo lại phí phạm điều ước này vào những chuyện vô bổ theo sau mấy điều trước.”

Mike không sao quyết định nổi mình nên ước điều gì, mà thực ra hắn cũng chẳng thể tập trung tư tưởng kiên định vào bất cứ vấn đề nào. Hắn cứ bồn chồn không yên. Đầu óc quay cuồng mòng mòng. Hắn đảo mắt tìm kiếm chút sự trợ giúp nào đó. Ngôi nhà đang bề bộn tiêu điều, và hắn chợt nghĩ đến người vợ vắng nhà.

“Khổ thân,” hắn thầm nghĩ trong lúc với một mẩu củi nhỏ ném vào lò, “ước gì Matty ở đây nhỉ;” và ngay lập tức vợ hắn đã đứng thình lình bên cạnh.

Mike, giờ đã rơi vào cảnh đường cùng, đành phải kể hết cho vợ nghe nguyên nhân khủng khiếp dẫn đến những thảm họa này, cùng sự thất bại hoàn toàn chẳng mang lại chút kết quả có lợi nào từ ba điều ước.

“Chúng ta vẫn hoàn chúng ta mà thôi,” hắn nói, “chỉ có điều là tôi đã bán đứt bản thân mình, cả thể xác lẫn linh hồn cho Ác Quỷ rồi!”

Đến đây hắn bắt đầu khóc lóc và than vãn thảm thiết; và người vợ vô cùng bàng hoàng trước câu chuyện đến mức nghẹn ngào suýt không nói nên lời vì nỗi đau đớn oằn mình phải chịu đựng.

Cuối cùng những giọt nước mắt của bà cũng nguôi ngoai bớt phần cay đắng.

“Ngồi đây khóc lóc thế này cũng chẳng ích gì đâu,” bà nói; “hãy mau chạy đến gặp cha xứ đi, Michael, xem ngài có giúp ông hủy bỏ được bản hợp đồng này không.”

“Thật tình mà nói,” gã thợ may tội nghiệp thở dài thườn thượt, “làm thế chẳng khác nào tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa. Tôi sẽ bị đem thiêu sống vì tội làm phù thủy đực và là chân rết của ma quỷ mất. Tôi vẫn còn tận bảy năm được hoãn thi hành án cơ mà, và làm thế chẳng khác nào vứt bỏ cả những khoảnh khắc quý giá ấy đi sao. Thôi đành cứ chịu đựng cảnh này và cố gắng xoay xở vậy. Cơ sự này đều do lười biếng và rượu chè mà ra cả; nhưng nếu từ nay tôi còn đặt chân bước qua thềm cửa nhà lão Giles nữa, thì tôi ước — ôi, ước ao gì nữa bây giờ, tôi đã chán ngấy cái thói làm ăn vô tích sự thế này lắm rồi. Nhưng tôi sẽ tu chí làm ăn, chăm chỉ may vá, chẳng hoang phí xu nào nữa, và biết đâu đấy, kiểu gì chẳng tìm ra được kế sách nào đó để trốn thoát.”

Giờ đây người vợ sầu muộn của hắn vô cùng mừng rỡ trước quyết định này và không kìm được mà thốt lên—

“Biết đâu đấy? Chẳng chừng tai họa này xảy ra cho ông lại là một điềm lành cũng nên, Mike ạ.”

Hắn lắc đầu; nhưng quyết định đã được định đoạt và hắn tuân thủ nó một cách kiên quyết bất chấp những lời chế nhạo cùng cám dỗ từ những người bạn cũ, những kẻ vẫn thường tìm cách lôi kéo hắn trở lại con đường tội lỗi ngày xưa. Hắn đã nhận được một bài học cảnh cáo mà cả đời không bao giờ quên. Ký ức về nó bám chặt lấy hắn suốt đêm ngày; và thà rằng hắn thọc tay vào đống than hồng còn hơn là bước chân vào cái túp lều của Giles Chatburn một lần nữa. Hắn thực sự là một con người đã hoàn toàn thay đổi, nhưng vợ hắn mới là người đầu tiên cảm nhận được những mặt tích cực từ sự đổi thay đó. Hắn nhận được rất nhiều việc để làm, và tiền bạc cứ thế ùn ùn kéo đến. Ngôi nhà được dọn dẹp sạch sẽ và trang hoàng tươm tất. Thức ăn ê hề dồi dào cùng một vại bia tự nấu ở nhà. Hắn hiếm khi ra ngoài trừ việc đi giao đồ cho khách, và rồi lại lật đật về nhà ngay khi công việc hoàn tất. Tuy nhiên, văng vẳng quanh hắn vẫn luôn hiện hữu một vẻ ủ rũ và chán chường. Hắn trông phờ phạc và thiếu sinh khí. Thời gian trôi đi nhanh chóng, và năm cuối cùng trong số bảy năm hạn định nay đã vơi cạn dần.

Một đêm nọ, khi hai vợ chồng đang ngồi nghỉ ngơi chốc lát sau bữa tối, hắn bỗng thở dài nặng nhọc.

“Thời gian tôi được sống chẳng còn lại bao nhiêu nữa,” hắn nói.

“Không đâu,” người vợ an ủi, “chúng ta hãy hy vọng rằng Thiên Chúa sẽ không để ông phải rơi vào nanh vuốt của kẻ thù của Ngài và của chúng ta. Hơn nữa, ông cũng chẳng nhận được chút lợi lộc gì từ hắn trong cái giao dịch ấy cả. Do đó, không thể nào có chuyện tên lừa đảo già đời ấy lại có quyền đòi hỏi bất kỳ sự đền bù nào được.”

Mike lắc đầu, nét mặt đầy vẻ hoài nghi.

“Chắc chắn như trong ngõ nhà Meg có gió lùa ấy, hắn thế nào cũng đến đòi món đồ của hắn cho mà xem. Tôi đang nghĩ tốt nhất là nên đến gặp cụ già sống trong hang động bên bờ sông Sally. Biết đâu ngài ấy sẽ cho tôi vài lời khuyên phải hành động ra sao khi thời điểm ấy đến.”

Gợi ý này đã nhận được sự đồng thuận từ người vợ; và sáng hôm sau, người hùng sầu muộn của chúng ta đã lên đường tìm đến “ẩn sĩ” trong hang. Vị tu sĩ khất thực này từ lâu đã nổi tiếng khắp vùng về lòng tốt và sự quan tâm đến những ai đang tìm kiếm sự giúp đỡ và lời khuyên; và Michael nghĩ rằng sẽ chẳng có tai họa nào xảy ra đâu, ngay cả khi ngài ấy không thể phá vỡ được những mưu đồ của ác quỷ.

Nơi ở của ngài nằm bên bờ sông, trong một túp lều nhỏ, phần phía sau chính là chốn nguyện kinh của vị đạo sĩ, được khoét sâu theo hình vòng cung vào vách đất.

“Lạy cha thánh,” người thợ may vừa bước vào am vừa cất tiếng, “con xin cầu xin sự ban phước của ngài.”

Vị ẩn sĩ, lúc ấy đang quỳ gối trước cây thánh giá, vẫn im lặng cho đến khi hoàn thành xong lời nguyện cầu. Sau đó ngài đứng dậy và thốt lên lời chào chúc phúc quen thuộc.

“Mọi chuyện tạm ổn đến đây rồi,” Mike thầm nghĩ; “dù sao thì mình cũng đã giáng một đòn vào con quỷ rồi đấy.”

Vị cha thánh đã rất già, nhưng vẫn tráng kiện và hoạt bát. Bộ râu trắng mượt như lụa gần chạm tới thắt lưng, và đôi mắt tinh anh dẫu đã mờ đục vẫn đang hau háu săm soi vị khách ghé thăm.

“Mục đích chuyến viếng thăm của con là gì, hỡi con trai ta?” vị ẩn sĩ cất tiếng hỏi.

“Con đã sa vào một cạm bẫy tội lỗi nặng nề và khẩn khoản cầu xin sự cứu trợ cùng lời khuyên từ ngài.”

“Thiên Chúa thường định đoạt để chúng ta rơi vào những nghịch cảnh khác nhau nhằm hạ nhai sự kiêu ngạo, đồng thời cho thấy sự dại dột cùng yếu đuối trong cõi lòng mình, hỡi con. Nỗi thống khổ và điều con cầu xin là gì?”

“Khốn khổ thay!” kẻ kia vừa khóc vừa kể, “con đã giáp mặt với cha đẻ của những lời dối trá, và con đã phải chịu đựng biết bao tổn thất từ đó.”

“Hy vọng là con không dây dưa với những môn nghệ thuật bị cấm đoán chứ?”

“Thực tình là có, và con e rằng cái giá phải trả chính là linh hồn mình,” gã thợ may rên rỉ một tiếng đầy tuyệt vọng xé lòng.

“Tội lỗi của con thật lớn lao, hỡi con trai; nhưng phương dược cứu chữa cũng vĩ đại không kém. Thiên Chúa không muốn một tội nhân phải chết, nếu người ấy quay đầu trở lại với Ngài bằng sự ăn năn và lòng thống hối trong tâm hồn. Ta tin rằng con vẫn chưa đùa cỡt với phúc phần linh hồn mình bằng cách nhận và sử dụng bất kỳ món quà nào mà con rắn cổ đại dùng để giăng bẫy chiếm đoạt linh hồn con người chứ?”

“Thưa, hoàn toàn không ạ; nhưng hắn đã dọa nạt buộc con phải ký vào một bản hợp đồng khủng khiếp, trong đó con đã hứa rằng khi thời hạn bảy năm qua đi, con sẽ thuộc về hắn!”

“Mối nguy của con quả thật vô cùng khủng khiếp. Nhưng hắn có đền bù gì cho con trong cuộc trao đổi đó không? Chẳng lẽ con lại bán đứt bản thân mà không được gì sao?” vị ẩn sĩ hỏi, đăm đăm nhìn vị hối nhân đang run rẩy bằng ánh mắt nghiêm nghị; “và giờ đây, khi con đã phung phí cái giá phải trả cho sự đọa đày của mình, con mới chạy tới cầu cứu; và con thậm chí còn định chơi trò bịp bợm với cả quỷ dữ nữa sao!”

“Dưa thưa cha tôn kính nhất,” Michael vừa nói vừa lau nước mắt; “chưa bao giờ con nhận được bất kỳ món quà nào từ tên ác quỷ gớm ghiếc ấy cả, ngoại trừ một miếng thịt xông khói, và thứ đó đã bị vứt đi chẳng mảy may động đến.” Và đoạn, hắn kể lại toàn bộ câu chuyện về cách mình bị lừa phỉnh ra sao và cái mưu mẹo khốn nạn mà kẻ lừa đảo đã chơi găm hắn thế nào.

“Thực ra, vẫn còn có hy vọng,” vị thánh nhân nói sau một hồi trầm ngâm suy nghĩ; “dù vậy, đây vẫn là một trường hợp hiểm nghèo, và chỉ có thể vượt qua bằng lời cầu nguyện cùng sự nhịn ăn chay trường. Nếu con thực tâm tìm kiếm sự giúp đỡ, ta tin chắc rằng một con đường sẽ mở ra để con trốn thoát. Hãy lắng nghe đây; — chưa bao giờ kẻ thù của giống loài chúng ta được phép gặt hái trọn vẹn những lợi ích từ lợi thế mà sự gian xảo và trí tuệ vượt trội của hắn đem lại. Chưa từng có một bản hợp đồng hay giao kèo nào do hắn lập ra mà lại không có cách này hay cách khác để hủy bỏ, và khiến tên quỷ dữ ấy phải bẽ mặt. Ta thừa nhận là sẽ khó khăn đấy; và những lời khuyên trong chuyện này cũng không dễ gì đưa ra: nhưng hãy đặt trọn niềm tin vào quyền năng của Đấng Toàn Năng, và con sẽ không bị đánh bại. Ta tin rằng sự khôn ngoan sẽ được ban xuống trong tình thế ngặt nghèo này, nếu con thiết tha và thành khẩn cầu xin, tìm kiếm sự giải thoát, đồng thời ăn năn hối cải về tội lỗi tày trời mà mình đã phạm phải.”

Bằng những lời lẽ ân cần này và vô số lời khuyên nhân đức khác, vị đạo sĩ đầy lòng bác ái đã khích lệ kẻ đang bị phán án tử hình này; và dẫu vẫn còn nặng trĩu nỗi sầu muộn, hắn đã ra về với tâm trạng nhẹ nhõm hơn lúc tới.

Thời khắc ấy nay đã cận kề. Chính cái tuần này — ngày này — và giờ này đã điểm; và khi mặt trời leo lên đến đỉnh thiên đỉnh, Michael biết rằng mình sẽ phải đối mặt với kẻ thù ranh mãnh từng lừa gạt hắn. Vợ hắn định ở lại cùng; nhưng hắn nghiêm cấm ngặt nghèo. Hắn không muốn bị làm phiền trong những lời cầu khẩn của mình. Suốt buổi sáng hôm đó, không một phút ngơi nghỉ, hắn cầu xin sự khôn ngoan và sức mạnh để đối phó trong cuộc chạm trán sắp tới. Hắn đã lui vào một căn phòng nhỏ ở một đầu nhà, và khóa chặt cửa bên trong để ngăn không cho bất kỳ ai quấy rầy.

Buổi trưa vừa ghé tới thì, đúng như hẹn ước, một tiếng sét đinh tai nhức óc vang lên báo hiệu sự tiếp cận và hiện diện của sinh vật đáng sợ này.

“Ta rất vui khi thấy rằng ngươi đã sẵn sàng,” hắn cất tiếng.

“Tôi không sẵn sàng,” nạn nhân run rẩy đáp lời.

“Sao cơ!” thủ lĩnh bóng đêm gầm lên với thứ âm thanh làm rung chuyển cả ngôi nhà hệt như một trận động đất đi qua; “ngươi dám bội ước món thế chấp ấy sao? Ngươi dám chối bỏ bản hợp đồng này à?”

“Đúng là thế thật,” con nợ đáp lại, “tôi đã đặt bút ký vào bản hợp đồng đó; nhưng nó bị ép uổng từ tôi bằng những thủ đoạn lừa dối và bất lương.”

“Tên nô lệ đê tiện, lật lọng! Sao ngươi dám cả gan giễu cợt ta như thế? Ngươi đã có những điều ước của mình; các điều kiện đã được thực hiện đầy đủ, ôi chao, từng chữ một không sai sót.”

“Tôi e rằng,” nạn nhân lại cất lên, cảm thấy dũng khí của mình được củng cố một cách kỳ diệu, “chính ngài cũng thừa biết là tôi sẽ chẳng bao giờ khá giả hay giàu lên nổi dù chỉ một xu từ những món quà của ngài; và mục đích của ngài chỉ là để nịnh bợ và lừa phỉnh mà thôi. Hoàn toàn không nằm trong khả năng của ngài, tôi thực lòng tin thế, để ban cho tôi sự giàu sang hay bất kỳ thứ lớn lao nào mà tôi mong muốn; thế nên ngài mới xúi giục, và theo một cách nào đó, ép buộc tôi thốt ra những điều ước vô nghĩa trong lúc không suy nghĩ ấy, để rồi tôi bị lừa gạt.”

“Vậy là ngươi dám hoài nghi năng lực của ta trong chuyện này ư? Hãy biết rằng những điều ước vô hạn nhất của ngươi đều đã được thực hiện rồi, bằng không ta sẽ trả lại tự do cho ngươi khỏi bản hợp đồng này.”

“Tôi nói, và xin bảo đảm chắc chắn rằng, tất cả những lời hứa hẹn của ngài đều là những lời bịp bợm dối trá, và ngài chẳng thể cho nổi tôi một xu rách dẫu có phải đánh đổi cả hai chiếc sừng của mình đi chăng nữa; thế nên tôi đòi lại bản hợp đồng của mình, đúng theo cam kết của ngài.”

“Để cho ngươi thấy rằng ta hoàn toàn có thể giữ đúng bản hợp đồng này, thậm chí phù hợp với các điều khoản do chính ta vừa đưa ra khi nãy, cộng thêm cả cái thân xác thảm hại của ngươi nữa, ta sẽ ban thêm cho ngươi một điều ước nữa đấy, để ngươi thỏa mãn mà thấy rằng mình đã hoàn toàn tuyệt vọng chẳng còn lấy một tia hy vọng cứu rỗi nào. Chẳng phải ta đã nói rằng nếu ta không thể hoàn thành bất kỳ điều ước nào của ngươi, dù là vươn tới phạm vi của vạn vật khả dĩ và sự giàu có của cả quả địa cầu to lớn này đi nữa, thì ta sẽ giải thoát cho ngươi khỏi bản hợp đồng này hay sao?”

“Vâng,” Michael háo hức đáp lời.

“Vậy thì hãy ước thêm một lần nữa đi; và nhớ rằng đừng có đưa ra cái ước nguyện nghèo hèn nào đấy. Hãy ước vươn tới đỉnh cao tột cùng của sự giàu sang, hoặc đỉnh chóp vinh quang của tham vọng ngươi, vì nó sẽ được ban cho ngươi.”

“Thế thì,” gã thợ may lật đật thốt lên như sợ rằng từ ngữ sẽ tuột khỏi môi không kịp, “tôi ước gì ngài đang phi ngựa quay trở lại sào huyệt của mình trên chính con ngựa xám đằng kia, và đừng bao giờ bén mảng đến làm phiền tôi hay bất kỳ kẻ khốn khổ nào khác rơi vào tròng của ngài nữa.”

Con quỷ gào lên một tiếng lớn đủ để vang vọng đến tận bên kia địa cầu, và thế là hắn biến mất, bị đóng đinh chặt trên lưng chính con ngựa xám mà Michael vừa nhìn thấy qua cửa sổ đang thung thăng gặm cỏ ngoài ngõ, hoàn toàn chẳng mảy may hay biết về loại nài ngựa sắp sửa cỡi lên lưng mình. Chàng thợ may chạy bổ ra cửa để dõi theo cuộc ra đi của hắn, vui mừng đến phát điên trước sự tống khứ tốt lành này. Nhảy múa và tung tăng bước vào trong bếp, nơi vợ hắn đang gần chết khiếp vì sợ hãi, hắn liền kể lại câu chuyện thần kỳ về ơn cứu rỗi của mình ngay khi bản thân đã kịp định thần.

Hắn không hề tái phạm những thói hư tật xấu ngày xưa mà sống hạnh phúc đến tận tuổi già sức yếu, để lại sau khi qua đời một gia tài kếch xù từ của cải trần gian này, và vì không có con cái nên số tài sản đó đã được chia đều cho những họ hàng nghèo khó hơn. Một người trong số họ sau khi mua lại ngôi nhà nơi gã thợ may từng sinh sống đã mở một quán rượu ở đó, lấy biển hiệu là “Con quỷ trên lưng ngựa xám;” điều này cho đến tận ngày nay vẫn minh chứng cho tính chân thực trong sự tích của chúng ta và chất lượng tuyệt vời từ những món ăn thức uống của “chủ quán”.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.