Tuyển Tập Truyện Ngắn Nguyên Bản Hoàn Chỉnh Của Guy De Maupassant

Lượt đọc: 2941 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Boitelle

❊ ❊ ❊

Lão Boitelle (tên thật là Antoine) chuyên nhận làm những công việc dơ bẩn khắp vùng. Cứ ở đâu có mương rãnh hay hầm phân cần nạo vét, phân chuồng cần dọn, cống rãnh cần khơi, hay bất kỳ xó xỉnh ô uế nào đi nữa, người ta thế nào cũng tìm đến lão.

Lão thường đến mang theo đồ nghề, đôi guốc bê bết bùn đất, rồi cặm cụi làm việc trong tiếng thở dài phàn nàn không ngớt về cái nghề của mình. Khi có ai hỏi tại sao lại làm cái công việc gớm ghiếc ấy, lão chỉ nhún vai đáp với vẻ cam chịu:

– Thưa bác, vì mấy đứa con tôi cả thôi, tôi phải nuôi chúng nó chứ. Làm việc này kiếm được nhiều tiền hơn mấy thứ khác.

Quả thật, lão có tới mười bốn đứa con. Nếu có ai hỏi chúng giờ ra sao, lão thường dửng dưng đáp:

– Nhà chỉ còn lại tám đứa. Một đứa đi ở đợ nhà người, còn năm đứa đã lập gia đình.

Khi người hỏi tò mò không biết chúng có lấy được nơi tử tế không, lão liền đáp lại một cách sống động:

– Tôi chẳng cấm cản chúng đâu. Chẳng cấm điều gì hết. Chúng thích lấy ai thì lấy. Mình không nên đi ngược lại sở thích của người ta, kết cục chẳng tốt đẹp gì đâu. Tôi bây giờ phải đi làm nghề hốt phân đêm cũng chỉ vì cha mẹ tôi đã cấm cản sở thích của tôi đấy thôi. Nếu không vì chuyện đó, tôi đã trở thành một người thợ bình thường như bao kẻ khác rồi.

Đây là cách mà cha mẹ lão đã ngăn cản đường tình duyên của lão:

Hồi đó lão là một người lính đóng quân ở Havre, chẳng ngốc nghếch hơn người, mà cũng chẳng khôn ngoan gì cho cam, nói chung chỉ là một anh chàng khá khờ khạo. Những lúc rảnh rỗi, niềm vui lớn nhất của lão là đi dạo dọc theo bến cảng, nơi tập trung những người buôn bán chim muôn. Lúc thì đi một mình, lúc thì cùng một người đồng hương, lão thong thả bước qua những chiếc lồng chứa đầy vẹt lưng xanh đầu vàng đến từ lưu vực sông Amazon, hay lũ vẹt lưng xám đầu đỏ từ Senegal, hoặc những con vẹt mào khổng lồ trông như thể được nuôi trong nhà kính với bộ lông rực rỡ như hoa, những chiếc lông vũ dài và chỏm đầu kiêu sa. Đủ mọi kích cỡ vẹt, trông chúng như được vẽ bằng nét cẩn thận tỉ mỉ của Thượng Đế - vị họa sĩ tiểu họa tối cao; rồi cả những chú chim nhỏ, tất cả những loài chim nhỏ bé cứ nhảy rót rén, vàng, xanh và đủ màu sắc, hòa tiếng kêu của chúng vào âm thanh huyên náo của bến cảng; tạo nên một thứ âm hưởng hỗn độn, inh ỏi, chói tai và đinh tai nhức óc do việc dỡ hàng từ tàu thủy, tiếng chân hành khách và xe cộ gây ra, hệt như từ một khu rừng quái vật nào đó ở chốn thâm sơn cùng cốc.

Boitelle thường đứng ngây người, mắt tròn xoe, miệng há hốc, cười toe toét đầy mê mẩn, nhe hàm răng trắng phau về phía lũ vẹt mào bị giam cầm cứ gật gù chỏm lông màu trắng hoặc vàng hướng về chiếc quần đỏ chói và cái khóa thắt lưng bằng đồng của lão. Khi gặp con nào biết nói, lão liền hỏi chuyện nó, và nếu hôm đó con chim có nhã ý đáp lời trò chuyện cùng lão, thì niềm vui đó đủ để lão sung sướng suốt cả buổi chiều. Lão cũng tìm thấy vô số niềm vui khi ngắm nhìn bầy khỉ, và đối với lão, chẳng có sự xa xỉ nào lớn hơn việc một người giàu có sở hữu những con vật này giống như cách người ta nuôi chó mèo vậy. Cái sở thích hướng ngoại ấy đã ngấm vào máu lão, cũng như người ta có sở thích đi săn, làm thuốc hay tu hành vậy. Lão chẳng thể cưỡng lại việc quay trở lại bến cảng mỗi khi cổng doanh trại vừa mở, bị hút về đó bởi một nỗi khao khát khôn nguôi.

Có lần, khi đang đứng ngây ngất trước một con vẹt khổng lồ đang phồng bộ lông, cúi gập người rồi ngẩng cao đầu hệt như đang thực hiện những cái cúi chào kiểu quý tộc trong thế giới loài vẹt, lão thấy cánh cửa của một quán cà phê nhỏ cạnh cửa hàng chim mở tung, và một thiếu nữ da đen xuất hiện, đầu quấn chiếc khăn lụa đỏ. Cô đang quét mấy nút bần và cát ra đường phố.

Sự chú ý của Boitelle nhanh chóng bị chia sẻ giữa con chim và người phụ nữ, và quả thật lão chẳng thể phân biệt nổi mình ngắm nhìn sinh vật nào với sự kinh ngạc và thích thú lớn hơn.

Thiết nữ da đen sau khi quét rác ra đường bèn ngẩng đầu lên, và đến lượt mình, cô lại bị lóa mắt bởi bộ quân phục của người lính. Cô đứng đó đối diện với tay cầm chiếc chổi trong tay như thể đang bồng súng chào lão, trong khi con vẹt vẫn tiếp tục cúi đầu chào. Nhưng chỉ vài giây sau, anh lính bắt đầu cảm thấy bối rối trước sự chú ý này và lững thững bỏ đi để trông không giống như đang tháo chạy.

Thế rồi lão lại quay lại. Gần như ngày nào lão cũng đi ngang qua quán Cafe des Colonies, và thường thì qua cửa kính, lão có thể nhận ra bóng dáng cô hầu bàn da ngăm đen đang phục vụ những cốc bia tươi hay rượu mạnh cho các thủy thủ trong cảng. Thường thì cô cũng bước ra cửa khi thấy lão; chẳng mấy chốc, dù chưa từng cất lời trò chuyện, họ đã mỉm cười với nhau như những người quen cũ; và trái tim Boitelle thổn thức khi bất chợt nhìn thấy hàng răng trắng lóa hiện lên giữa đôi môi sẫm màu của cô gái. Cuối cùng, có một hôm lão đánh bạo bước vào, và vô cùng ngạc nhiên khi thấy cô có thể nói tiếng Pháp sõi như bất kỳ ai khác. Cốc nước chanh mà cô vui lòng nhận lấy từ lão đã trở lại trong ký ức của anh lính với hương vị ngon tuyệt vời khó quên, và từ đó, việc ghé vào quán rượu nhỏ bên bến cảng này để thưởng thức mọi thứ thức uống ngon lành mà túi tiền cho phép đã trở thành thói quen của lão.

Đối với lão, đó là một niềm ân huệ, một niềm hạnh phúc mà tâm trí lão hằng tơ tưởng: ngắm nhìn bàn tay đen đúa của cô hầu bàn rót thứ gì đó vào cốc của mình trong khi hàm răng cô cười tươi hơn cả đôi mắt. Sau hai tháng, họ trở nên thân thiết như hình với bóng, và Boitelle, sau sự ngạc nhiên ban đầu khi phát hiện ra rằng cô gái da đen này cũng có phẩm giá tốt đẹp chẳng kém gì những cô gái Pháp lương thiện, rằng cô biết tiết kiệm, chăm chỉ, ngoan đạo và có hạnh kiểm tốt, lại càng yêu cô hơn vì những đức tính ấy, say mê cô đến mức muốn cưới cô làm vợ.

Lão ngỏ ý với cô, khiến cô nhảy cót lên vì sung sướng. Cô cũng có một chút tiền do một bà bán hàu để lại cho. Bà cụ này đã nhặt được cô khi cô bị bỏ lại trên bến cảng Havre bởi một vị thuyền trưởng người Mỹ. Viên thuyền trưởng ấy đã tìm thấy cô khi cô mới chừng sáu tuổi, đang nằm trên những kiện bông trong hầm tàu vài giờ sau khi rời khỏi New York. Khi đến Havre, ông đã phó thác sinh linh bé nhỏ da đen ấy – kẻ bị giấu trót lọt trên tàu của ông mà chẳng rõ vì lý do gì hay do ai làm – cho sự chăm sóc của người đàn bà bán hàu nhân hậu đó.

Sau khi người đàn bà bán hàu qua đời, cô thiếu nữ da đen trở thành người hầu bàn tại quán rượu Colonial.

Antoine Boitelle nói thêm: “Mọi chuyện sẽ ổn thỏa thôi nếu cha mẹ tôi không phản đối. Em hiểu đấy, anh sẽ không bao giờ trái ý họ đâu, không bao giờ! Anh sẽ đánh tiếng với họ vào lần đầu tiên về quê.”

Quả nhiên, tuần sau đó, sau khi xin được nghỉ phép hai ngày, anh về thăm gia đình vốn làm một trang trại nhỏ ở Tourteville, gần Yvetot.

Anh đợi cho đến khi bữa ăn kết thúc, thời điểm mà tách cà phê pha chút rượu mạnh khiến lòng người cởi mở hơn, mới thông báo với cha mẹ rằng anh đã tìm được một cô gái hợp với sở thích của mình, hợp mọi bề đến mức trên đời này chẳng thể tìm được ai hoàn hảo hơn thế nữa.

Hai cụ già nghe vậy liền tỏ ra thận trọng và muốn nghe giải thích cụ thể. Anh chẳng giấu giếm điều gì ngoài màu da của cô.

Cô là người hầu bàn, gia cảnh không mấy dư dả nhưng khỏe mạnh, tháo vác, sạch sẽ, hạnh kiểm tốt và khôn ngoan. Tất cả những điều đó còn quý hơn đống tiền nằm trong tay một người phụ nữ đoảng vị. Hơn nữa, cô lại có một ít tiền xu do người phụ nữ nuôi nấng cô để lại, khá nhiều xu là đằng khác, gần như là một chút hồi môn, khoảng một mười lăm trăm franc trong sổ tiết kiệm. Hai cụ già, bị thuyết phục bởi những lời lẽ của con trai đồng thời cũng dựa vào phán đoán của chính mình, đang dần xuôi chiều thì anh đưa ra vấn đề gai góc. Cười một cách ngượng ngập, anh nói:

– Chỉ có một điều có lẽ cha mẹ không thích. Cô ấy không phải là người da trắng.

Họ không hiểu ý, và anh đành phải giải thích dài dòng, cực kỳ cẩn trọng để tránh làm họ sốc, rằng cô thuộc về dòng giống da màu mà họ mới chỉ từng thấy qua tranh ảnh ở Épinal. Ngay lập tức, hai cụ trở nên bồn chồn, lúng túng và hoảng hốt, cứ như thể anh vừa đề nghị kết hôn với quỷ dữ vậy.

Người mẹ thốt lên: – Da đen ư? Nó đen đến mức nào? Đen toàn thân luôn à?

Anh đáp: – Chắc chắn rồi. Đen khắp nơi, giống như má trắng khắp nơi vậy.

Người cha chen vào: – Đen ư? Có đen như cái đáy nồi không?

Đứa con trả lời: – Có lẽ kém hơn chút xíu. Cô ấy đen, nhưng không phải kiểu đen gớm ghiếc. Chiếc áo thầy tu màu đen đấy thôi, nhưng có xấu xí gì hơn chiếc áo lễ màu trắng đâu ạ.

Người cha lại hỏi: – Ở xứ của nó còn nhiều người da đen nữa không?

Và người con trai quả quyết đáp: – Chắc chắn là có rồi!

Nhưng ông già lắc đầu:

– Thế thì chắc là khó chịu lắm.

Và người con tiếp lời:

– Quen rồi thì cũng chẳng khó chịu hơn những thứ khác đâu ạ.

Người mẹ gặng hỏi:

– Thứ da đen này có làm quần áo lót bẩn hơn da bình thường không?

– Không hơn da của má đâu ạ, vì đó là màu da tự nhiên của cô ấy mà.

Rồi sau rất nhiều câu hỏi khác, họ đi đến thỏa thuận rằng hai cụ phải gặp mặt cô gái này trước khi đưa ra bất kỳ quyết định nào, và anh con trai – người sẽ hết nghĩa vụ quân sự sau một tháng nữa – sẽ dẫn cô về nhà để họ tự mình quan sát, sau đó bàn bạc xem cô có quá đen để bước chân vào gia đình nhà Boitelle hay không.

Theo đó, Antoine thông báo rằng vào Chủ nhật, ngày 22 tháng 5, ngày mãn ngũ, anh sẽ lên đường về Tourteville cùng người yêu.

Để chuẩn bị cho chuyến về thăm gia đình người yêu này, cô đã diện bộ trang phục đẹp nhất và sặc sỡ nhất, với các màu vàng, đỏ và xanh lam là chủ đạo, khiến cô trông hệt như đang trang hoàng để dự một ngày hội lớn.

Ngay tại nhà ga lúc rời Havre, mọi người đã dán mắt nhìn cô, và Boitelle cảm thấy vô cùng tự hào khi được tay trong tay với một người thu hút nhiều sự chú ý đến thế. Sau đó, trên toa tàu hạng ba nơi cô ngồi cạnh anh, cô khiến đám đông nhà quê ngạc nhiên tột độ đến mức những người ở các khoang bên cạnh phải đứng hẳn lên ghế để ngòm ngó cô qua vách ngăn bằng gỗ giữa các khoang. Một đứa trẻ vừa nhìn thấy cô liền oà khóc vì hoảng sợ, một đứa khác vội giấu mặt vào tạp dề của mẹ. Mọi chuyện vẫn suôn sẻ cho đến khi họ đến nơi. Nhưng khi đoàn tàu giảm tốc độ lúc gần tới Yvetot, Antoine bỗng cảm thấy bất an khôn tả, hệt như cảm giác trong một buổi duyệt binh mà anh quên sạch các động tác điều lệnh. Rồi khi nhoài đầu ra ngoài, anh nhận ra từ đằng xa: cha mình đang cầm cương con ngựa kéo xe mui trần, và mẹ anh đã tiến đến sát hàng rào – nơi dành cho những người đang đứng chờ đón người thân.

Anh bước xuống trước, chìa tay đỡ người yêu, ưỡn ngực hiên ngang như đang hộ tống một vị tướng, rồi tiến về phía gia đình.

Người mẹ, khi tận mắt thấy người phụ nữ da đen xiêm y sặc sỡ đi bên con trai mình, liền sững sờ đến mức há hốc mồm chẳng thốt nên lời; còn người cha thì chật vật lắm mới giữ nổi con ngựa đang lồng lên liên hồi bởi tiếng tàu hỏa hoặc bởi cô gái da đen. Nhưng Antoine, bất chợt ngập tràn niềm vui sướng vỡ oà khi được gặp lại đấng sinh thành, liền lao tới dang rộng vòng tay, ôm chầm lấy mẹ, ôm chầm lấy cha mặc cho con ngựa đang hoảng sợ, rồi quay sang phía người đồng hành – kẻ mà những hành khách trên sân ga đang đứng chết trân nhìn chằm chằm bằng ánh mắt kinh ngạc – để thanh minh:

– Cô ấy đây ạ! Con đã thưa với cha mẹ rồi đấy, thoạt nhìn thì trông cô ấy không được bắt mắt cho lắm; nhưng khi đã quen rồi, con xin đảm bảo với cha mẹ là chẳng có ai tốt tính bằng cô ấy trên đời này đâu. Cha mẹ chào cô ấy một tiếng đi để cô ấy đỡ tủi thân nhé.

Bấy giờ, Mère Boitelle hồn vía lên mây, ngượng ngập nhún chân chào một cái, trong khi người cha cởi mũ ra, lúng búng:

– Chào cô, chúc cô may mắn!

Rồi chẳng chần chừ thêm nữa, họ trèo lên xe mui trần, hai người phụ nữ ngồi phía sau trên những chiếc ghế nảy tưng tưng mỗi khi xe dằn xóc dọc đường, còn hai người đàn ông ngồi ở băng ghế trước.

Chẳng ai nói với ai câu nào. Antoine bứt rứt huýt sáo một điệu quân hành; người cha quất roi giục ngựa; còn người mẹ, từ góc ghế của mình, cứ liếc nhìn trộm cô gái da đen – người có vầng trán và gò má đang tỏa sáng dưới ánh nắng mặt trời hệt như đôi giày được đánh si bóng lộn.

Muốn phá vỡ bầu không khí ngượng ngùng, Antoine quay người lại.

– Nào, anh thưa – trông chúng ta có vẻ chẳng ai muốn mở miệng nói chuyện nhỉ.

– Phải từ từ để chúng tao hoàn hồn đã chứ, bà cụ đáp.

Anh tiếp lời:

– Thôi nào! Cha mẹ kể lại câu chuyện về con gà mái đẻ tám quả trứng dạo trước đi.

Đó là một giai thoại vui nhộn đã có từ lâu trong gia đình. Nhưng vì mẹ anh vẫn im lặng, chết cứng vì xúc động, anh đành tự mình kể câu chuyện, vừa kể vừa cười trước sự kiện đáng nhớ ấy. Người cha, kẻ đã thuộc làu câu chuyện, liền sáng bừng nét mặt ngay từ những câu đầu tiên; vợ ông nhanh chóng hùa theo; và chính cô gái da đen, khi anh kể đến đoạn buồn cười nhất, cũng bất chợt phá lên cười, một tràng cười vang dội rôm rả đến nỗi con ngựa giật mình bèn cất vó phi nước đại một lúc.

Nhờ thế mà băng giá giữa họ được phá vỡ. Tất cả bắt đầu trò chuyện rôm rả.

Vừa về đến nhà và bước xuống xe, Antoine liền dẫn người yêu vào một căn phòng để cô thay váy, tránh làm vấy bẩn trang phục vì cô chuẩn bị trổ tài nấu một món ăn ngon nhằm chinh phục tình cảm của hai cụ qua con đường dạ dày. Anh kéo cha mẹ ra ngoài nhà và với trái tim đập thình thịch, cất tiếng hỏi:

– Thế nào, cha mẹ thấy thế nào ạ?

Người cha không nói gì. Người mẹ bạo gan hơn liền thốt lên:

– Nó đen quá con ạ. Không được đâu, thế này thì quá sức chịu đựng của ta rồi. Nhìn vào là máu trong người ta lộn ngược cả lên.

– Con tin là mẹ sẽ quen thôi, Antoine nói.

– Có lẽ thế, nhưng không phải lúc đầu được.

Họ bước vào nhà, nơi người phụ nữ lớn tuổi có chút động lòng khi chứng kiến cô gái da đen đang lom khom nấu nướng. Bà liền xắn tay áo xông vào phụ giúp ngay, nhanh nhẹn chẳng kém gì thời trẻ.

Bữa ăn diễn ra thật tuyệt vời, kéo dài và vô cùng ngon miệng. Khi cả nhà đi dạo thư thả sau bữa tối, Antoine kéo riêng cha ra một góc.

– Nào tía, tía nghĩ sao về cô ấy?

Lão nông dân tìm cách thoái thác để không phải chuốc lấy phiền phức.

– Tao chẳng có ý kiến gì hết. Cứ hỏi mẹ mày ấy.

Thế là Antoine lại quay sang mẹ, kéo bà nán lại phía sau những người khác và dò hỏi:

– Thế nào má, má nghĩ sao về cô ấy?

– Con trai tội nghiệp của ta ơi, nó thực sự quá đen. Giá mà nhạt đi được chút ít thôi thì ta đã chẳng cấm cản con rồi, đằng này thì đen quá mức chịu đựng. Trông cứ như con quỷ Satan ấy!

Anh không nài nỉ thêm, biết rõ tính bướng bỉnh lâu nay của bà cụ, nhưng trong lồng ngực anh, một cơn bão thất vọng đang cuộn trào quét qua. Anh đang vắt óc suy tính xem mình phải làm gì, có kế hoạch nào xoay chuyển tình thế không, và hơn hết là anh cảm thấy ngạc nhiên khi cô chưa thể chinh phục được họ giống như cách cô đã làm anh say đắm. Cả bốn người cứ thế thầm lặng bước đi giữa những cánh đồng lúa mì. Mỗi khi đi qua hàng rào, họ lại thấy một lão nông ngồi trên bậc cửa, một đám trẻ con túm tụm trèo lên để ngắm nghía, và ai nấy đều đổ xô ra đường quốc lộ để tận mắt thấy con ả đĩ "da đen" mà cậu ấm nhà Boitelle vừa dẫn về. Từ đằng xa, người ta nhốn nháo chạy qua các cánh đồng hệt như cảnh người ta tụ tập khi tiếng trống tùng không cất lên để thông báo có gánh xiếc dị nhân về làng. Ông bà Boitelle, hoảng sợ trước sự tò mò lộ rõ khắp vùng mỗi khi họ xuất hiện, liền rảo bước nhanh hơn, đi sát bên nhau và bỏ mặc con trai tụt lại đằng xa. Cô bạn gái da đen liền hỏi xem bố mẹ anh nghĩ gì về mình.

Anh ấp úng đáp rằng họ vẫn chưa đưa ra quyết định cuối cùng.

Thế nhưng khi tới quảng trường làng, người dân từ khắp các ngôi nhà đổ xô ra ngoài trong trạng thái hân hoan kích động; và trước khung cảnh đám đông đang tụ tập, cụ ông Boitelle liền ba chân bốn cẳng chạy thục mạng về nhà, trong khi Antoine mặt mày đỏ phừng phừng vì tức giận, tay trong tay cùng người yêu, hiên ngang tiến bước dưới những ánh mắt đang trừng trừng mở lớn vì kinh ngạc.

Anh hiểu rằng mọi chuyện đã chấm hết, chẳng còn hy vọng gì cho anh nữa, rằng anh vĩnh viễn không thể cưới được cô gái da đen của mình. Bản thân cô cũng nhận ra điều đó; và khi vừa đặt chân về đến nhà, cả hai liền ôm nhau òa khóc. Ngay khi vừa bước vào nhà, cô lại cởi chiếc váy đẹp ra để phụ giúp bà cụ công việc nhà, đi theo bà khắp nơi, từ phòng chứa sữa, chuồng ngựa cho đến chuồng gà, nhận lấy phần việc nặng nhọc nhất và luôn miệng lặp đi lặp lại: “Để con làm cho, thưa Mère Boitelle”, để rồi khi màn đêm buông xuống, bà cụ dù xót xa nhưng vẫn sắt đá, bảo với con trai rằng:

– Dẫu sao nó cũng là một đứa con gái ngoan. Thật tiếc vì nó quá đen; nhưng quả thực nó đen quá mức. Ta không sao quen nổi. Nó phải quay về thôi! Nó đen quá, đen quá rồi!

Và cậu ấm Boitelle đành nói với người yêu:

– Bà ấy không chịu đâu. Mẹ anh bảo em đen quá. Em phải quay về thôi. Anh sẽ ra ga tiễn em. Đừng buồn em nhé. Anh sẽ còn nói chuyện lại với họ sau khi em đi.

Rồi anh đưa cô ra ga tàu, miệng vẫn liên tục an ủi thắp lên hy vọng trong lòng cô, và sau nụ hôn từ biệt, anh đẩy cô lên toa tàu, đứng lặng nhìn theo bóng tàu khuất dần trong tầm mắt với đôi mắt sưng húp vì khóc.

Mọi lời van xin của anh với hai cụ đều vô ích. Họ nhất quyết không đời nào đồng ý.

Và mỗi khi kể lại câu chuyện đã lan truyền khắp chốn thôn quê ấy, Antoine Boitelle thường kết luận:

– Kể từ dạo đó, lòng dạ tôi chẳng thiết tha gì nữa – chẳng còn thiết tha gì sất. Chẳng có cái nghề nào làm tôi vừa ý nổi, thế nên tôi mới trở thành kẻ như bây giờ – một tên hốt phân đêm.

Người ta thường bảo lão:

– Thế mà anh vẫn lấy vợ đấy thôi.

– Vâng, và tôi chẳng thể chê vợ tôi không vừa ý được, bằng chứng là chúng tôi có tới mười bốn đứa con cơ mà; nhưng cô ấy không phải là người kia, ồ không – chắc chắn là không đời nào! Người kia ấy à, xin lỗi quý vị, cô gái da đen của tôi, cô ấy chỉ cần liếc nhìn tôi một cái thôi là tôi đã có cảm giác như mình đang ở trên thiên đường rồi.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.