Tôi thấy thật khó giữ bí mật mãi trước Manuel, vì khi người đàn ông kia càng nhấn mạnh là ông không quan trọng và ai cũng có thể thế chỗ ông thì tôi càng nóng lòng muốn tìm ra nhân cách nào ẩn sau toàn bộ vụ này.
Ngôi nhà 0,0 Phần Nghìn ở Simmering chỉ cách cái ngõ mà tôi ở hồi bé có vài góc phố. Trên đường đến tôi thoáng suy nghĩ vì sao người ta cử tôi đến chỗ những người nghiện rượu trong sự kiện cuối cùng, và chỉ nghĩ ra hai giải đáp logic. Thứ nhất, bản thân ông ta từng nghiện rượu nặng hay vẫn có tật đó, và thứ hai, chính ông là bác sĩ ở trung tâm đó, thậm chí có khả năng tôi chạm trán ông cũng nên, dù thế nào thì tôi cũng sẽ hết sức chú ý quan sát trong chừng mực thể trạng khá xập xệ hiện tại của tôi cho phép.
“Ông đến đây lần đầu hay đã từng ở đây?” cô lễ tân hỏi, dù gây ấn tượng rất chuyên nghiệp. Tôi giải thích sự nhầm lẫn và cô rối rít xin lỗi.
“Cháu có thể cho bác biết có gì để cười không?” tôi hỏi Manuel. Nó không cho tôi biết, nhưng vẫn cười tiếp. Xét về một số khía cạnh thì nó vẫn là một đứa trẻ.
Cuối cùng một phụ nữ ra đón chúng tôi, biển hiệu trên ngực cho biết bà tên là Barbara Drossier. Bà đưa chúng tôi đi dọc cơ sở chăm sóc được trang hoàng như một an dưỡng đường. Bà cố gắng chỉ cho chúng tôi thấy các biện pháp trị liệu cùng các điều kiện khác trong 0,0 Phần Nghìn. Manuel ghi chép liên tục. Tôi thì tập trung chú ý vào nhân viên ở đây hơn, nhưng chẳng thấy ai có vẻ là nhà hảo tâm giấu tên. Theo cách viết thư của ông ta thì ông không hợp với khung cảnh này, trừ khả năng chính ông là con bệnh.
“Ông có muốn tham quan phòng cấp cứu hay phòng cho các trường hợp nặng?” Bà Drossier hỏi.
“Không, cảm ơn bà”, tôi nói. Tôi quá rõ cảnh những người ngồi gật gù hoặc co giật, liên tục liếm môi cho ướt và dụi cặp mắt sưng tấy, ngồi thẫn thờ trong góc với khuôn mặt đỏ gay và nhìn vào điểm vô định. Một lúc nào đó tôi đã quen không nhìn gì nữa hoặc nhìn thấu qua cha tôi. Tiếc là những hình ảnh trong ký ức đó vẫn hiện ra sắc lẻm. Tôi thực sự không phải tham quan thêm.
Rốt cục chúng tôi cũng đến trung tâm tư vấn, người ta đã cử hẳn bác sĩ Günter Uland đón tiếp chúng tôi, trông như vừa trang điểm cho quảng cáo bọt cạo râu, nước lăn nách hay kem chống nếp nhăn trên màn ảnh nhỏ. Có lẽ ông ta chỉ biết đến rượu do người khác kể lại, nhưng cảm thấy phải có trách nhiệm gây sốc cho một học sinh hiếu học với hàng loạt tin dữ thời sự: Mỗi năm 40.000 người Đức chết do rượu và 350.000 người Áo ốm nặng vì rượu, 3,3 triệu người nghiện rượu ở Đức, rượu làm giảm thọ 20 năm, nghiện rượu là nguyên nhân của sáu chục thứ bệnh khác, gan, tuỵ, não, thiệt hại cho nền kinh tế quốc dân, vân vân và vân vân.
“Khi nào thì người ta ốm vì rượu?” Manuel muốn biết. Ông chuyên gia kể ra vài điểm như đang dạy học, riêng tôi tự nghĩ phần mình.
“Khi người ta uống một ít và cảm thấy phải uống thêm nhiều hơn”. Ra vậy, khi cơ thể đòi hỏi thì cứ để nó đòi hỏi, khác gì vừa cắn một miếng thịt rán kiểu Vienna, và không ai vì thế mà bị gọi là ốm vì thịt rán kiểu Vienna. Thêm nữa, đố ai tìm ra một người uống xong nửa vại bia lại không muốn uống nốt nửa kia đấy.
“Khi người ta uống tiếp, mặc dù biết là nên dừng lại”. Giờ thì tôi yên tâm, vì thực tế tôi chưa bao giờ biết phải dừng trong hoàn cảnh cụ thể.
“Khi người ta ngày càng cần nhiều rượu hơn để đạt được hiệu ứng như nhau”. Thực tình tôi chưa bao giờ định đạt một hiệu ứng nào đó, mà từ một lượng bia rượu nhất định trở lên là hiệu ứng đó tự đến.
“Khi người ta uống giấu giếm và uống cả khi một mình”. Tôi chẳng bao giờ uống giấu giếm, và tôi chỉ uống một mình nếu không có ai ở cạnh.
“Khi người ta sẵn sàng bị tổn hại sức khỏe vì uống bia rượu”. Theo ý tôi, đã sinh ra là sẵn sàng chấp nhận sức khỏe bị tổn hại. Thậm chí tôi cả quyết: Người nào sống là chấp nhận sẽ chết, tuy nhiên có thể đó là một vấn đề mang tính nguyên lý.
“Khi thói quen rượu bia ảnh hưởng đến quan hệ với người xung quanh”. Thế thì tôi là người khỏe mạnh mới đúng, vì tôi muốn củng cố quan hệ với người xung quanh bằng rượu bia. Thú thực là những người không uống gì cả - như cái ông bác sĩ Uland này - thường gây ra vấn đề cho mọi người.
“Và khi người ta quấn quýt với rượu bia đến nỗi lãng quên các mối quan tâm khác”, chuyên gia chấm dứt. Tôi thì không nhất thiết phải nghĩ đến rượu bia, ngay cả khi đang uống. Và các mối quan tâm nào đã bị lãng quên rồi thì đâu còn làm ta quan tâm nữa, chẳng lẽ gọi trạng thái ấy là ốm, tôi nghĩ bụng.
“Nhưng ông biết vấn đề lớn nhất của đại đa số những người nát rượu là gì không?” Ông hỏi tôi, mặc dù cho đến giờ tôi thành công rực rỡ trong trạng thái thụ động.
“Họ cho rằng rượu bia chẳng hại gì được họ. Họ nghĩ ra trăm lý do để biện hộ hành vi của họ. Đơn giản là họ không muốn nghe ai nói mình nát rượu”. Lần đầu tiên tôi gật đầu, vì những nhà lý thuyết suông kiểu này bao giờ cũng muốn có lý bằng được. Nhưng tôi vẫn nghĩ ra một thứ cần nói.
“Có lẽ khi người ta ốm nhưng cảm thấy khỏe thì tốt hơn là khỏe nhưng cảm thấy ốm - tạm bỏ qua thiệt hại cho nền kinh tế quốc dân mà ông nhắc đến ban nãy mà ngày càng được lấy làm căn cứ đánh giá giá trị sống của chúng ta?” Tôi chêm vào với giọng dửng dưng như có thể, vì tôi chả hứng thú gì nghe thêm những lời thông thái của Thần Sức Khỏe trước mặt con trai tôi. Ông mỉm cười bình thản và tự mãn.
“Vấn đề ở chỗ, khi người ta không thú nhận bệnh của mình thì sẽ không làm gì nhằm chấm dứt nghiện ngập. Và từ một điểm nào đó trở đi người ấy cố mấy cũng không cảm thấy khỏe mạnh được, lúc đó thì quá muộn”.
Okay, sau khi vẽ ra những kịch bản kinh hoàng ấy thì tôi cũng bó tay: Ông bác sĩ thắng, cho dù tôi vẫn không thấy ông có cảm tình chút nào.
Tôi đã nhận ra từ nãy là Manuel khá sốc khi nghe bác sĩ kể, nó nhìn tôi từ bên cạnh với ánh mắt thương hại, khiến tôi rất bức xúc. Rốt cục nó ngả người về phía tôi và thì thầm vào tai tôi để ông Uland không nghe thấy, đó là điều sau đó tôi đánh giá rất cao ở Manuel.
“Bác có thể ít nhất mỗi ngày bớt đi một cốc bia không?” Tôi lặng người đi một lát cho ngấm câu hỏi quái dị ấy. Rồi tôi hỏi:
“Bác?”
Chịu rồi. Nó ám chỉ tôi và mang một bộ mặt buồn thảm vô biên. Trăm tội vì ông bác sĩ kia. Và thực ra cả nhà hảo tâm nữa.